TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG
VŨ TRANG – Ý NGHĨA XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI TA HIỆN NAY
MỞ ĐẦU
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ tranh nhân dân là một bộ
phận hợp thành tư tưởng quân sự của Người. Sự hình thành và phát triển tư tưởng
Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân nằm trong tiến trình cách
mạng đấu tranh của nhân dân nhằm thực hiện đường lối cách mạng do Đảng đề ra.
Đó là một trong những nhân tố rất quan trọng quyết định thắng lợi cuộc đấu tranh
cách mạng nước ta hiên nay. Đó cũng chính là nền tảng tư tưởng cơ bản cho quá
trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân ta hiện nay.
Sự nghiệp vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn ra trong một thời kỳ lịch
sử mà cuộc đấu tranh giải phóng của các dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa thực
dân, đế quốc đang phát triển mạnh mẽ, rộng khắp. Chính bối cảnh lịch sử đó khiến
Hồ Chí Minh dành nhiều thời gian, tâm lực nghiên cứu về quân sự. Người đã làm
việc, suy nghĩ, tìm kiếm không mệt mỏi để chuẩn bị về lý luận và tổ chức cho
khởi nghia vũ trang và chiến tranh cách mạng. Người đã trực tiếp biên soạn nhiều
tác phẩm quân sự có giá trị lý luận và thực tiễn, bồi dưỡng kiến thức quân sự cho
cán bộ, đảng viên và nhân dân ta ngay trong buổi đầu cách mạng.
Trong khởi nghĩa và chiến tranh, Người vạch chiến lược quân sự xây dựng
lực lượng chính trị quần chúng, sáng lập lực lượng vũ trang cách mạng, kết hợp tài
tình các phương pháp và hình thức đấu tranh, bồi dưỡng các nhân tố cơ bản đảm
bảo giành thắng lợi. Sự nghiệp quân sự của Hồ Chí Minh là cống hiến to lớn đối
với cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới.
1
Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh bao gồm những quan điểm của Người về
bạo lực, về khởi nghĩa vũ trang toàn dân và chiến tranh nhân dân, về xây dựng lực
lượng vũ trang, xây dựng hậu phương và nền quốc phòng toàn dân, về chỉ đạo
chiến tranh và nghệ thuật quân sự ở một nước thuộc địa chống chủ nghĩa thực dân,
Tư tưởng cách mạng bạo lực của Hồ Chí Minh hoàn toà xa lạ, đối lập với tư
tưởng hiếu chiến của những kẻ xâm lược. Người tìm mọi cách ngăn chặn các cuộc
xung đột vũ trang, tìm mọi cách đẩy lùi chiến tranh, có khi phải chấp nhận những
1 Hồ Chí Minh, toàn tập, tập.1, Nxb CTQG, H. 1995, tr.96.
2 Sđd, t.12, tr.304.
3
nhân nhượng cần thiết, có nguyên tắc, bởi vì Người yêu nước, thương dân, quý
trọng sinh mệnh con người. Ngay cả khi đang tiến hành kháng chiến, Người cũng
không bỏ lỡ cơ hội tìm kiếm hòa bình, sớm kết thúc chiến tranh. Nhưng khi không
có cách nào khác để tránh khỏi chiến tranh, kẻ thù độc ác và ngoan cố gây chiến
tranh xâm lược, Người kiên quyết kêu gọi toàn dân tộc, toàn quân nhất tề đứng dậy
chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn. “Đồngbào tôi và tôi thành thực muốn hòa
bình... Tôi biết là nhân dân Pháp không muốn chiến tranh. Cuộc chiến tranh này
chúng tôi muốn tránh bằng đủ mọi cách... Nước Việt Nam cần kiến thiết, nước
Việt Nam không muốn là nơi chôn vùi hàng bao nhiêu sinh mạng. Nhưng cuộc
chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm”3.
Do chúng ta phải phát động và tiến hành một cuộc chiến tranh chính nghĩa
chống xâm lược và bạo tàn nên Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh vai trò quyết
định của chính trị trong việc vạch ra đường lối chiến lược, phát động và tập hợp
quần chúng tham gia kháng chiến, xây dựng và sử dụng lực lượng, củng cố hậu
phương, nâng cao trạng thái chính trị - tinh thần của nhân dân và lực lượng vũ
trang. Đó là tư tưởng có tính nguyên tắc, đồng thời là một đặc trưng nổi bật trong
hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về quân sự.
2. Tư tưởng khởi nghĩa vũ trang toàn dân.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về khởi nghĩa vũ trang toàn dân là một đóng góp to
lớn và mang tính sáng tạo sâu sắc của Hồ Chí Minh, trong đó có những nội dung
chủ yếu sau:
sắc tình yêu Tổ quốc và khát vọng độc lập tự do của nhân dân ta, Hồ Chí Minh đã
khẳng định một luận điểm cơ bản: kháng chiến là sự nghiệp của dân, có dân là có
5
tất cả, khởi nghĩa toàn dân để giành độc lập cho dân tộc và chỉ có tiến hành kháng
chiến toàn dân mới giữ vững được nền độc lập ấy. Lời kêu gọi toàn quốc kháng
chiến chống thực dân Pháp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự thể hiện hàm súc và
đầy sức thuyết phục tư tưởng lớn của Người về quân sự, về kháng chiến toàn dân:
“Bất kỳ đàn ông, đán bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo đảng
phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu
Tổ quốc”4. Chính đường lối, tư tưởng chính trị - quân sự đúng đắn đó đã tạo khả
năng động viên to lớn toàn bộ sức mạnh, nghị lực và tinh thần sáng tạo của nhân
dân khi đi vào kháng chiến.
- Chiến tranh là một thách thức toàn diện đối với một đất nước, một dân tộc,
một chế độ. Đối với một cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc của một
dân tộc bị áp bức, nô lệ, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, không dùng toàn lực của dân
về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể nào thắng lợi được. Phát huy cao nhất sức
mạnh tổng hợp của toàn dân đánh giặc trên tất cả các mặt trận quân sự, chính trị,
ngoại giao, kinh tế, tư tưởng, văn hóa... là nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí
Minh về kháng chiến toàn diện.
Đấu tranh quân sự là phương thức chủ yếu nhất của chiến tranh. Đấu tranh
chính trị là một nội dung rất cơ bản trong chiến tranh nhân dân. Phối hợp chặt chẽ
và linh hoạt với hai phương thức trên là đấu tranh ngoại giao nhằm phát huy cao
nhất sức mạnh của thời đại. Để tạo sức mạnh nội sinh của cuộc kháng chiến, nhiệm
vụ đấu tranh kinh tế, xây dựng hậu phương vững mạnh và đấu tranh trên lĩnh vực
tư tưởng – văn hóa nhằm đồng thời nâng cao, tăng cừơng sức mạnh vật chất và
4 Sđd, t.4, tr.480.
vị trí đặc biệt quan trọng. Người đã viết hàng chục tác phẩm có giá trị về nghệ
thuật quân sự. Trong lĩnh vực này, Hồ Chí Minh đã học tập, vận dụng và phát triển
truyền thống nghệ thuật quân sự của cha ông ta “lấy yếu đánh mạnh”, “lấy ít đánh
nhiều”, “lấy nhỏ đánh lớn””... lên một tầm cao mới đáp ứng được những yêu cầu
và thách thức mới trong một cuộc chiến tranh thời kỳ hiện đại (thế kỷ XX).
Tư tưởng trường kỳ kháng chiến của Hồ Chí Minh không đối lập với tư
tưởng chiến lược tiến công, luôn giành thế chủ động, mà thống nhất biện chứng
với nhau. Toàn dân trường kỳ kháng chiến, song trong nghệ thuật quân sự cụ thể
lại phải luôn chủ động giành thế tiến công, đồng thời tiến công phải chắc thắng,
không phiêu lưu, mạo hiểm. Nghệ thuật quân sự Hồ Chí Minh còn là nghệ thuật
tạo lực, lập thế, tranh thời, biết đánh địch bằng mưu, thắng địch bằng thế, lấy ít
thắng nhiều, lấy chất lượng cao thắng số lượng đông, biết tập trung ưu thế vào thời
cơ quyết định để luôn luôn đánh địch trên thế mạnh. Nghệ thuật quân sự Hồ Chí
Minh còn là biết đánh địch bằng mọi lực lượng, mọi quy mô, mọi thứ vũ khí, trang
bị, không chỉ đánh vào quân đội có vũ khí, mà đánh thẳng vào lòng người kết hợp
tác chiến với binh vận, địch vận. Và đó cò là nghệ thuật biết khởi đầu chiến tranh
và biết biết kết thúc chiến tranh vào thời điểm có lợi nhất và thích hợp nhất.
5. Tư tưởng về xây dựng lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang
nhân dân.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ
trang nhân dân là hai lực lượng chủ yếu tiến hành khởi nghĩa và chiến tranh cách
mạng. Sự phối hợp chặt chẽ và bổ sung cho nhau của hai lực lượng đó tạo nên sức
mạnh tổng hợp của cuộc kháng chiến.
Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến xây dựng lực lượng chính trị quần
chúng. “Sự đồng tâm của đồng bào đúc nên bức tường đồng xung quanh Tổ quốc”.
8
Lực lượng chính trị quần chúng là cơ sở cho đấu tranh quân sự, đồng thời đó còn là
nước hèn”7. Người nêu ra sáu yêu cầu cơ bản đối với người chỉ huy quân sự là
“Trí - Dũng - Nhân - Tín – Liêm – Trung”.
Dưới ánh sáng của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, thực hiện một cách triệt
để, trung thành và sáng tạo tư tưởng ấy với một niềm tin yêu vô hạn dành cho
người Tổng tư lệnh tối cao của mình, 60 năm qua, lực lượng vũ trang nhân dân,
Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát triển không ngừng, hoàn thành xuất sắc mọi
nhiệm vụ. Có lẽ, phần thưởng cao quý nhất, độc đáo nhất dành cho lực lượng vũ
trang nhân dân chính là danh hiệu “Bộ đội cụ Hồ” mà nhân dân ta đã gọi, đã trao
tặng cho những người con thân yêu của mình.
6. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng căn cứ địa, xây dựng hậu
phương, xây dựng nền quốc phòng toàn dân.
Để kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, Hồ Chí Minh chăm lo xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân trong mặt trận dân tộc thống
nhất, động viên sức mạnh toàn dân vào công cuộc kháng chiến cứu nước và bảo vệ
Tổ quốc. Hậu phương vững chắc là một trong những nhân tố thường xuyên quyết
định thắng lợi trong chiến tranh. Đối với Hồ Chí Minh, hậu phương không chỉ là
sức mạnh vật chất, nguồn nhân lực mà còn là sức mạnh tinh thần, trong đó lòng
dân lại là sức mạnh đặc biệt to lớn. Một nền quốc phòng toàn dân hùng mạnh với
sự tham gia của tất cả các ngành, các giới... luôn luôn góp phần quyết định trong
các cuộc kháng chiến của chúng ta, từ chống Pháp, đuổi Nhật đến chống Mỹ xâm
7 Sđd, t.3, tr.519.
10
lược. Nghệ thuật phát huy cao độ sức mạnh toàn dân đánh giặc với lòng dũng cảm
phi thường và trí thông minh, sáng tạo tuyệt vời là một thành tựu to lớn của tư
tưởng quân sự Hồ Chí Minh, dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng
không chống nổi.
Trong những năm vận động cách mạng, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang nhân
tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lê-nin một cách sáng tạo có phân tích chọn lọc.
Từ năm 1924, Người đã suy nghĩ đến những hạn chế lịch sử của chủ nghĩa
Mác và thấy cần được bổ sung cho phù hợp với đặc điểm phương Đông, đặc điểm
Việt Nam. Người đã tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lê-nin những nội dung phù hợp với
cách mạng Việt Nam. Cái chủ yếu nhất mà Người tiếp thu về thế giới quan là mục
tiêu cách mạng, về phương pháp luận là phép biện chứng duy vật. Có thể nói Hồ
Chí Minh đã “Việt Nam hóa”, “phương Đông hóa” chủ nghĩa Mác–Lê-nin như một
số đồng chí đã nêu. Đến với chủ nghĩa Mác–Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã có
một sự chuyển biến nhảy vọt về chất, giải phóng dân tộc đã gắn với giải phóng giai
cấp, giải phóng con người, độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu
nước đã gắn với chủ nghĩa quốc tế chân chính.
Bác Hồ đã nói: Cuộc đấu tranh xã hội diễn ra trên hai mặt, đấu tranh giai cấp
và đấu tranh dân tộc. Mác-Ăng-ghen sống trong thời điểm bấy giờ, đã phân tích
chủ nghĩa tư bản, phân tích cuộc đấu tranh giai cấp, giữa giai cấp tư sản và giai cấp
vô sản một cách khoa học, sâu sắc, tìm ra con đường cách mạng cho giai cấp công
nhân và nhân loại cần lao. Về đấu tranh dân tộc, thì Mác cũng đã nói đến nhưng
phải đến Lê-nin, trước thực tiễn phát triển của chủ nghĩa đế quốc, mới đề cập đến
12
một cách rõ hơn. Hồ Chí Minh, kế thừa tư tưởng của Mác, của Lê-nin, xuất phát từ
thực tiễn chủ nghĩa đế quốc đã phân chia nhau thống trị khắp thế giới mà Việt Nam
là một điển hình, phân tích sâu sắc chủ nghĩa thực dân, nêu lên một cách toàn diện
và mở ra đột phá khẩu với cách mạng Việt Nam, góp phần thúc đẩy cao trào đấu
tranh giải phóng dân tộc bằng mọi hình thức, đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ và
mới. Chủ nghĩa dân tộc là động lực to lớn của đất nước và để giành được thắng lợi
Người đưa ra tư tưởng phải dùng "bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản
cách mạng" mới có thể đập tan chủ nghĩa thực dân cũ và mới.
Đóng góp lớn nhất của Hồ Chí Minh đối với hệ tư tưởng Mác–Lê-nin và
phong trào cách mạng thế giới là vấn đề dân tộc. Từ năm 1924, Người đã ra chủ
giáo dục cho quân đội ta truyền thống yêu nước, đấu tranh bất khuất của dân tộc
với tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định
không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”. Người dạy cán bộ,
chiến sĩ ta phải trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân. Tư tưởng và tấm
gương vì nước, vì dân của Người đã khơi dậy trong cán bộ, chiến sĩ ta lòng yêu
nước, thương dân sâu sắc. Đó là một động lực to lớn động viên quân đội ta nêu cao
tinh thần quyết chiến quyết thắng, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào
cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.
Điều thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh đã tạo nên sức mạnh to lớn cho quân
đội ta trưởng thành và chiến thắng, đó chính là Người đã lãnh đạo xây dựng một
quân đội luôn gắn bó với dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Trong
đó quân đội là lực lượng nồng cốt, là quân đội của nhân dân, của dân tộc, do
Đảng Cộng sản lãnh đạo, mang bản chất của giai cấp công nhân và của dân tộc
14
Việt Nam.: Đây cũng chính là dựa trên nền tảng tư tưởng "khởi nghĩa vũ trang
nhân dân", "kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là
chính".
Lực lượng tham gia quân đội là những thanh niên yêu nước, con em của các
giai cấp, các tầng lớp nhân dân của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đại bộ phận
là con em công nhân, nông dân và nhân dân lao động. Qua giáo dục rèn luyện
trong quân đội họ đã trở thành những cán bộ, chiến sĩ trung với nước, trung với
Đảng, hiếu với dân, chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội.
Người dạy quân đội là con em của nhân dân nên phải có quan hệ gắn bó
như ruột thịt với nhân dân. Phải làm cho quân đội hết lòng yêu thương nhân dân,
kính trọng, giúp đỡ, bảo vệ dân, được dân tin, dân phục, dân yêu. Quân đội không
những đánh giặc giỏi mà còn phải biết làm công tác dân vận giỏi, sản xuất giỏi.
Phải luôn luôn “dựa vào dân” vì “có dân là có tất cả”. Sức mạnh của quân đội, sức
mạnh của lực lượng vũ trang ba thứ quân kết hợp với sức mạnh của toàn dân tạo
Điều thứ tư, tư tưởng Hồ Chí Minh đã tạo nên sức mạnh để quân đội ta
chiến thắng đó là quan điểm thực tiễn. Hồ Chí Minh coi trọng lý luận, nhưng luôn
gắn lý luận với thực tiễn, luôn xuất phát từ thực tiễn để vận dụng lý luận, không
giáo điều, máy móc.
Nhờ xuất phát từ thực tiễn, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn,
đề ra những chủ trương, chính sách cụ thể phù hợp với thực tiễn xã hội Việt Nam
và xu thế thời đại, tạo ra sức mạnh to lớn để giành thắng lợi trong cách mạng giải
phóng dân tộc.
16
Trong lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh, nếu không thường xuyên bám sát
thực tiễn, phân tích thực tiễn đúng đắn, đề ra quyết sách không phù hợp với thực
tiễn thì nhất định bị thực tiễn “phê phán” ngay, phải trả giá ngay bằng xương máu,
vì vậy càng đòi hỏi phải nắm vững quan điểm thực tiễn.
Người luôn dạy cán bộ, làm cách mạng tuyệt đối không được chủ quan, phải
sâu sát thực tế, đánh giặc mà hiểu cho rõ địch-ta thì trăm trận trăm thắng.
Khi tình hình thực tiễn đã thay đổi, thì phải dám đổi mới, thay đổi quyết
sách cũ đề ra quyết sách mới cho phù hợp thực tiễn, có như vậy mới giành thắng
lợi. Quyết định thay đổi phương châm từ “đánh nhanh thắng nhanh” chuyển sang
“đánh chắc tiến chắc” trong chiến dịch Điện Biên Phủ; quyết định kịp thời chuyển
kế hoạch chiến lược cơ bản giải phóng miền Nam trong hai, ba năm sang kế hoạch
thời cơ một năm, sáu tháng, hai tháng trước mùa mưa và ra lệnh tấn công thần tốc
trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 là những ví dụ điển hình của sự
vận dụng quan điểm thực tiễn trong chỉ đạo đánh giặc.
Cuộc chiến đấu lâu dài 30 năm đánh thắng hai đế quốc to là một kỳ tích lịch
sử hết sức vẻ vang đối với quân và dân ta. Thực tiễn này là một kho tàng kinh
nghiệm vô cùng quý giá, đòi hỏi chúng ta phải hết sức coi trọng tổng kết, tiếp tục
tổng kết một cách sâu sắc, toàn diện. Phải tổng kết một cách khách quan khoa học
hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chúng ta tiến vào thế kỷ XXI với cục diện thế
giới đầy biến động. Cách mạng khoa học và công nghệ đang phát triển với nhịp độ
siêu tốc. Cuộc đấu tranh giai cấp và dân tộc, xung đột tôn giáo diễn ra phức tạp,
gay gắt. Xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa, với mặt tích cực và tiêu cực của nó,
đang phát triển mạnh mẽ. Trong khi xu thế hòa bình hợp tác đang phát triển thì các
18
hoạt động khủng bố, các cuộc chiến tranh cục bộ, xu hướng chạy đua vũ trang vẫn
tiếp tục. Các thế lực đế quốc đang dùng sức mạnh kinh tế, khoa học, văn hóa, khi
cần thì dùng cả sức mạnh quân sự để áp đặt ý muốn của mình bắt các dân tộc phải
tuân theo, phải phụ thuộc, thậm chí bất chấp luật pháp quốc tế, bất chấp cả Liên
hợp quốc chà đạp lên nước có độc lập chủ quyền, đây là một kiểu thực dân mới
kiểu mới.
Trước tình hình ấy, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta càng phải nắm vững
quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước, hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng đất
nước đi đôi với bảo vệ đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương, chúng ta càng
phải nâng cao chất lượng chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân, cả chủ lực,
địa phương, dân quân tự vệ và công an nhân dân; xây dựng quân đội nhân dân cách
mạng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại với bản lĩnh chính trị vững vàng và
tri thức quân sự cao; coi trọng lực lượng thường trực, đồng thời coi trọng lực lượng
hậu bị, coi đào tạo cán bộ là công tác trung tâm. Tiếp tục công tác nghiên cứu khoa
học và kỹ thuật quân sự, kể cả kỹ thuật công nghệ cao, phát triển lên một bước mới
học thuyết quân sự Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh–học thuyết chiến tranh
nhân dân trong điều kiện hiện đại.
Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững mạnh với
một đường lối tổng hợp, kết hợp quân sự với kinh tế, văn hóa và chính sách đối
ngoại. Nắm vững xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trung tâm trong thời bình, bởi vì
có kinh tế mạnh mới có quốc phòng mạnh. Tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn
dân tộc, đại đoàn kết toàn dân đủ sức để ngăn chặn mọi mưu đồ “diễn biến hòa