Những điểm mới về Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 1992 - Pdf 42

Bµi tËp lín

M«n: LuËt HiÕn ph¸p ViÖt Nam

MỞ ĐẦU
Trong hoàn cảnh chiến tranh, Hồ Chí Minh là Chủ tịch nước, đứng đầu
Chính phủ và kiêm chức vụ Thủ tướng. Đến năm 1955, chức vụ Thủ tướng được
chuyển giao cho Phó Thủ tướng lúc đó là Phạm Văn Đồng đảm nhiệm và Hồ Chí
Minh là Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Quốc hội
khóa II bầu lại và làm Chủ tịch đến khi Người mất ngày 2 tháng 9 năm 1969. Từ
đó đến nay, vai trò lãnh đạo chính trị nói chung và của Chủ tịch nước nói riêng có
ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng đến thể chế, con người và toàn bộ đất nước.
Tuy nhiên, lãnh đạo nói chung và đặc biệt vị trí đứng đầu nói riêng có xu hướng
cá nhân hóa nếu địa vị của họ không được thiết lập một cách chặt chẽ và vững
chắc trong Hiến pháp và pháp luật. Vì vậy, vai trò, chức năng và thẩm quyền của
Chủ tịch nước cần phải được hiến định trong Hiến pháp.
Ở nước ta, việc hoàn thiện phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực của
Chủ tịch nước là một nội dung rất quan trọng trong quá trình hoàn thiện thể chế
chính trị pháp lý Hiến pháp. Mặt khác chủ trương của Đảng thể hiện trong các
Văn kiện Đại hội X, XI đặt ra những thay đổi chế định trong quá trình thiết kế và
vận hành chính thể nói chung và chế định Chủ tịch nước nói riêng. Do đó, nghiên
cứu chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan
trọng.
Trải qua các thời kỳ lịch sử với 5 bản Hiến pháp, Hiến pháp năm 2013 tiếp
tục kế thừa những chế định cơ bản, quan trọng của Hiến pháp năm 1992 nhưng có
những đổi mới, bổ sung mang tính phù hợp để thể hiện Chủ tịch nước là người
đứng đầu Nhà nước Việt Nam, thống lĩnh các lực lượng vũ trang của Việt Nam và
là nguyên thủ quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì thế, em
xin chọn đề tài: “Những điểm mới về Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013
so với Hiến pháp năm 1992” để tìm hiểu và nghiên cứu.


tại kỳ họp gần nhất;
2. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ
tướng Chính phủ; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm,
cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính
phủ;
3. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Toà án nhân dân
tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; căn cứ vào nghị quyết của
Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm
phán các Tòa án khác, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối
cao; quyết định đặc xá; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, công bố quyết định
đại xá;
4. Quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải thưởng nhà
nước, danh hiệu vinh dự nhà nước; quyết định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch,
trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam;
5. Thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc
phòng và an ninh; quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng,
chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức
2


Bµi tËp lín

M«n: LuËt HiÕn ph¸p ViÖt Nam

Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt
Nam; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội,
công bố, bãi bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh; căn cứ vào nghị quyết
của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ,
công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội



Bµi tËp lín

M«n: LuËt HiÕn ph¸p ViÖt Nam

Điều 92:
Phó Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội.
Phó Chủ tịch nước giúp Chủ tịch nước thực hiện nhiệm vụ và có thể được
Chủ tịch nước uỷ nhiệm thay Chủ tịch nước thực hiện một số nhiệm vụ.
Điều 93:
Khi Chủ tịch nước không làm việc được trong thời gian dài thì Phó Chủ tịch
nước giữ quyền Chủ tịch nước.
II. Những điểm mới về Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 so với
Hiến pháp năm 2013 .
1. Những điểm mới về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước.
a/ Về bố cục:
Nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước theo Hiến pháp năm 2013 được
quy định tại Điều 88 còn theo Hiến pháp năm 1992 thì được quy định tại Điều
103. Dễ dàng nhận thấy, so với Điều 103 Hiến pháp năm 1992 thì Điều 88 Hiến
pháp năm 2013 có sự thay đổi đáng kể về mặt bố cục. Nếu như Hiến pháp năm
1992 chia tách từng nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của Chủ tịch nước tại 12 khoản
của Điều 103 thì Hiến pháp năm 2013 gom những nhiệm vụ và quyền hạn đó
thành những nhóm, theo từng lĩnh vực, quy định tại 6 khoản của Điều 86. Đó là:
Khoản 1 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước trong lĩnh vự lập
pháp; Khoản 2 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước trong việc
quyết định nhân sự của Chính phủ; Khoản 3 quy định về nhiệm vụ và quyền hạn
của Chủ tịch nước trong lĩnh vực tư pháp và quản lý nhân sự của Tòa án nhân dân
tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Khoản 4 quy định về nhiệm vụ và quyền
hạn của Chủ tịch nước trong việc khen thưởng, quốc tịch; Khoản 5 quy định về

* Về vấn đề quốc tịch, Khoản 4 – Điều 88, Hiến pháp năm 2013 có điểm
mới là Chủ tịch nước có thẩm quyền cho “trở lại quốc tịch” Việt Nam đối với
người đã mất quốc tịch Việt Nam, khi có đơn xin trở lại quốc tịch Việt Nam thì có
thể trở lại quốc tịch Việt Nam nếu thuộc một trong số những trường hợp sau:
+ Xin hồi hương về Việt Nam;
+ Có vợ, chồng, con, cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam;
+ Có công lao đóng góp cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam;
+ Có lợi cho Nhà nước Việt Nam;
Ngoài ra, người xin trở lại quốc tịch Việt Nam không được trở lại quốc tịch
Việt Nam nếu làm phương hại đến lợi ích quốc gia Việt Nam.
Về thẩm quyền mới này của Chủ tịch nước đã cho thấy Việt Nam mở rộng
cửa cho phép người mất quốc tịch Việt Nam trở lại quốc tịch Việt Nam mà không
hề ngăn cấm, cấm đoán.
* Theo Hiến pháp năm 1992, Chủ tịch nước quyết định phong hàm, cấp sĩ
quan cấp cao trong các lực lượng vũ trang nhân dân; hàm, cấp ngoại giao và
những hàm cấp Nhà nước khác (Khoản 9 – Điều 103). Để làm rõ hơn quyền hạn
và trách nhiệm này của Chủ tịch nước trong việc thống lĩnh lực lượng vũ trang thì
Khoản 5 – Điều 88 quy định việc phong hàm cấp tướng chỉ giao cho Chủ tịch
nước thực hiện. Chủ tịch nước có quyền quyết định phong, thăng, giáng, tước
quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn
5


Bµi tËp lín

M«n: LuËt HiÕn ph¸p ViÖt Nam

nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân
đội nhân dân Việt Nam. Như vậy, với quy định mới này, Hiến pháp năm 2013 đã
phân định quyền “thống lĩnh” của Chủ tịch nước trong công tác quyết định nhân

2. Những điểm mới về Hội đồng quốc phòng và an ninh do Chủ tịch
nước làm Chủ tịch.
6


Bµi tËp lín

M«n: LuËt HiÕn ph¸p ViÖt Nam

Khoản 2 – Điều 89, Hiến pháp năm 2013 quy định thẩm quyền của Hội đồng
quốc phòng và an ninh do Chủ tịch nước làm Chủ tịch được trình Quốc hội quyết
định tình trạng chiến tranh, trường hợp Quốc hội không thể họp được thì Ủy ban
thường vụ Quốc hội quyết định; thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn đặc biệt do
Quốc hội giao trong trường hợp có chiến tranh; quyết định việc lực lượng vũ trang
nhân dân tham gia hoạt động góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới.
Những quy định mới này là để làm rõ và cụ thể hơn thẩm quyền của thiết chế
quan trọng này so với Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định trong trường hợp chiến
tranh, Quốc hội có thể giao cho Hội đồng quốc phòng và an ninh những nhiệm vụ
và quyền hạn đặc biệt (Điều 104 – Hiến pháp năm 1992). Việc Hội đồng quốc
phòng và an ninh được bổ sung thêm nhiệm vụ và quyền hạn mới này cho thấy vai
trò quan trọng của Hội đồng quốc phòng và an ninh do Chủ tịch nước đứng đầu
trong việc bảo vệ hòa bình, an toàn khu vực và trên thế giới, góp phần không nhỏ
trong việc bảo vệ Tổ quốc nhất là khi Việt Nam đang bị đe dọa bởi các nước láng
giềng và âm mưu phản động trong và ngoài nước.
3. Những điểm mới về tham dự các phiên họp của Chủ tịch nước.
Điều 90 – Hiến pháp năm 2013 quy định: “Chủ tịch nước có quyền tham dự
phiên họp của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, phiên họp của Chính phủ. Chủ tịch
nước có quyền yêu cầu Chính phủ họp bàn về vấn đề mà Chủ tịch nước xét thấy
cần thiết để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước”. Trong khi theo
Điều 105 – Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định khi xét thấy cần thiết, Chủ tịch

dân mới thực sự tin tưởng giao trách nhiệm cho Chủ tịch nước.
Thứ hai, Hiến pháp năm 2013 và Hiến pháp năm 1992 đều quy định nhiệm
vụ và quyền hạn của Chủ tịch nước trong công tác khen thưởng (tặng thưởng huân
chương, huy chương, các giải thưởng, danh hiệu vinh dự nhà nước) mà không quy
định trách nhiệm của Chủ tịch nước trong công tác thi đua. Điều này cũng cần
được các nhà làm luật xem xét vì Chủ tịch nước phải gương mẫu trong công tác
thi đua như: thi đua yêu nước, thi đua học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ
Chí Minh,… thì nhân dân, cơ quan trương ương đến địa phương mới học tập và
noi theo. Từ đó mới đẩy mạnh việc thi đua mới thực sự có hiệu quả tối đa.

KẾT LUẬN
Trên đây là một số nhận định của em về điểm mới của Chủ tịch nước theo
Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 1992 cũng như một số điểm hạn chế.
Những chế định về Chủ tịch nước trong bản Hiến pháp năm 2013 đã tiến một
bước phát triển dài trên con đường hoàn thiện và phát triển. Điều đó sẽ tạo nền
tảng pháp lý cao nhất để Chủ tịch nước thực hiện đầy đủ quyền hạn và nhiệm vụ
của mình đưa đất nước thành một nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Mong rằng, qua bài viết này, em đã giúp mọi người hiểu rõ phần nào các
chế định Chủ tịch nước trong Hiến pháp năm 2013 cũng như Hiến pháp năm 1992
và những điểm mới của Hiến pháp năm 2013. Từ đó, khẳng định chủ tịch nước là
người đứng đầu nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thống lĩnh lực
lượng vũ trang nhân dân. Sự hiểu biết của em vẫn còn nhiều hạn chế, rất mong
được thầy cô và các bạn góp ý để bài làm thêm phong phú, hoàn chỉnh hơn.

8




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status