Chuyên đề 8 đảm bảo chất lượng giáo dục đại học - Pdf 42

ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
PGS. TS. Đặng Xuân Hải

I.CÁC QUAN ĐIỂM VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ QL CHẤT LƯỢNG ĐỐI VỚI
MỘT CƠ SỞ GDĐH
I.1. Một số khái niệm liên quan
1.1. Chất lượng GD: Khái niệm chất lượng nói chung và chất lượng GD nói
riêng là một khái niệm đa chiều và có tính tương đối. Nhiều tác giả định nghĩa
về chất lượng không hoàn toàn giống nhau (và ở các trường của chúng ta đang
dùng tỉ lệ số học sinh đạt được điểm cao làm thước đo chất lượng!). Một quan
niệm về chất lượng thường được trích dẫn nhiều : Chất lượng là sự phù hợp với
mục đích (Quanlity-fitnees for purpose) và mục đích có thể không giống nhau
đối với người sử dụng “sản phẩm” nên khái niệm chất lượng như vậy mang
tính tương đối. Đối với GDĐH có một định nghĩa thể hiện rõ nhất nội hàm của
khái niệm chất lượng đó là quan điểm của tổ chức đảm bảo chất lượng GD đại
học quốc tế (INQAAHE - International Network of Quality Assurance
Agencies in Higher Education) :
Chất lượng trong giáo dục có thể hiểu thông quan 2 khía cạnh :
(1) Tuân theo các chuẩn quy định đối với GDĐH.
(2) Đạt được các mục tiêu đề ra cho quá trình GDĐH.
Theo quan niệm thứ nhất, muốn có chất lượng cần phải xây dựng các chuẩn
mực, cần có Bộ tiêu chuẩn, tiêu chí (hay đôi khi gọi là các chỉ số của chuẩn mực)
để đánh giá chất lượng giáo dục GD ĐH về tất cả các hoạt động liên quan đến việc
tạo ra sản phẩm và với một cơ sở GDĐH là tất cả các lĩnh vực hoạt động của cơ sở
1


GDĐH đó và việc kiểm định chất lượng một trường ĐH sẽ dựa vào các chuẩn mực
đã thống nhất hay Bộ tiêu chuẩn, tiêu chí đã ban hành. Theo quan điểm này muốn
quản lí chất lượng nhà trường phải xây dựng hệ thống chất lượng cho nhà trường
ĐH

diện chất lượng của một trình độ đào tạo, chất lượng một trường ĐH.
Đối với Việt nam, chất lượng GDĐH là sự đáp ứng của NTĐH đổi với các yêu cầu
về mục tiêu GDĐH được quy định trong luật GDĐH và các quy định về tiêu chuẩn
đánh giá chất lượng nhà trường ĐH do Bộ GD&ĐT ban hành và thực tế được đánh
giá qua chất lượng hoạt động GD đạt chuẩn đầu ra và mức độ đạt được phẩm chất,
năng lực của người học.
Đối với GDĐH nói chung và một nhà trường ĐH nói riêng theo quan điểm của
chương trình hành động Dakar (2000) của UNESCO đề cập qua 10 yếu tố sau:
1/ Người học khỏe mạnh, được khuyến khích để có động cơ học tập chủ động
2/ GV thành thạo nghề nghiệp và được động viên đúng mức.
3/ PP&KTDH tích cực
4/ Chương trình GD thích hợp với người dạy và người học và với yêu cầu xã hội
5/Trang thiết bị, phương tiện và đồ dùng dạy học và công nghệ GD thích hợp, dễ
tiếp cận
6/ Môi trường học tập bảo đảm vệ sinh, an toàn, lành mạnh
7/ Hệ thống đánh giá thích hợp với môi trường và quá trình GD và kết quả GD
8/ Hệ thống QLGD có tính tham gia và dân chủ
9/ Tôn trọng và thu hút được sự tham gia của SV trong hoạt động GD
10/Các thiết chế, chương trình GD có nguồn lực thích hợp, thỏa đáng và bình đẳng

3


Trên cơ sở 10 ”dấu hiệu” nhận diện chất lượng một nhà trường có thể gom lại 4
dấu hiệu chính để nhận diện chất lượng một nhà trường đó là ”con
người”(CBQL;GV;HS) có chất lượng; Chương trình GD có chất lượng; Môi
trường GD có chất lượng và quan hệ NT -XH được phát huy tác dụng.!!
Theo quan điểm của GS Nguyễn Đức Chính [1] thì hệ thống chất lượng là tập hợp
các yếu tố sau:
• 1. Danh mục các lĩnh vực (hoạt động) cần quản lí với các chuẩn mực nhất

Total Quality Management

TQM
BẢO ĐẢM CHẤT
LƯỢNG

KIỂM SOÁT
CHẤT LƯỢNG

(Quality
assurance:
QA)

Quality Control

Phòng ngừa, tuân thủ hệ
thống chất lượng

TQM: QA và cải
tiến liên
tục

Phát hiện và
loại bỏ

-Kiểm soát chất lượng (KSCL) là quá trình quản lí chất lượng bao gồm việc kiểm
tra và loại bỏ phế phẩm ở công đoạn cuối của quá trình tạo ra sản phẩm nếu không
thoả mãn các tiêu chuẩn đã đề ra cho sản phẩm (ở việt nam thường gọi là KCSkiểm tra chất lượng sản phẩm!). Với GD&ĐT với quan niệm chất lượng sản phẩm
gắn với quá trình GD&ĐT nên KSCL theo quan điểm như vậy khó phù hợp vì khái
niệm “loại bỏ” không sử dụng đối với sản phẩm GD! Và nếu vận dụng mức độ này

cấp độ vi mô (nhà trường) và cấp vĩ mô ( quản lý nhà nước ). Đối với mức bảo đảm
6


chất lượng đánh giá bên ngoài là để tăng cường cơ chế bảo đảm chất lượng nội bộ
(tự chịu trách nhiệm về chất lượng của nhà trường đối với xã hội).
-Quản lí chất lượng tổng thể (QLCLTT) là bước phát triển tiếp theo của bảo đảm
chất lượng và cũng là cấp độ cao nhất của tiến trình QL chất lượng; điều này cũng
có nghĩa trong QLCLTT chứa BĐCL nhưng có bổ sung yêu cầu cải tiến liên tục
và văn hoá chất lượng cao của mọi thành viên tham gia tạo ra sản phẩm. Ở đây,
trách nhiệm về chất lượng của những người trực tiếp tham gia quá trình GD&ĐT
trong nhà trường được phát huy tối đa, làm thoả mãn nhất “khách hàng” của sản
phẩm GD&ĐT.
I.2.3. Mô hình quản lí chất lượng: Mô hình BS/ISO 9000
Dưới cách tiếp cận khác có Mô hình BS/ISO 9000 và mô hình này thực chất là hệ
thống chất lượng, là các văn bản quy định tiêu chuẩn và quy trình chi tiết ở mỗi
công đoạn của quá trình sản xuất để bảo đảm sản phẩm hay dịch vụ có chất lượng
hay phải “phù hợp với mục đích”
Mô hình ISO là mô hình được hiệp hội chất lượng quốc tế thống nhất (hiệp hội ra
đời từ 1947 đóng trụ sở tại Gênevơ; lần đầu tiên ban hành bộ tiêu chuẩn ISO 1987
(ISO -9001-9002-9003) sau đó là 1994 và 2000 (tích hợp chỉ còn ISO-9001/2000;
đến 2008 đưa ra các yêu cầu mới và thành bộ tiêu chuẩn ISO 9000-2008) với quan
điểm chất lượng sản phẩm là do hệ thống quản lí chất lượng quyết định và phải làm
đúng ngay từ đầu không phân biệt cơ sở sản xuất hay dịch vụ. Những năm gần đây
ISO được đưa nhiều vào lĩnh vực dịch vụ và các cơ quan dịch vụ bắt đầu vận dụng
ISO để xây dựng hệ thống quản lí chất lượng của mình. Đối với GD&ĐT, một khi
GD&ĐT được coi là lĩnh vực “dịch vụ xã hội” ISO được nghiên cứu vận dụng vào
quản lí nhà trường. Những người ủng hộ xu hướng này thì nêu quan điểm với triết
lí là đúng ngay từ đầu thông qua “viết những gì cần làm” và “làm đúng những gì đã
viết” và coi trọng việc lưu hồ sơ kiểm tra công việc thì việc đưa ISO vào quản lí

Xây dựng chính sách động viên, khen thưởng kịp thời.
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Phát hiện, phát hy tính sáng tạo của mọi thành viên.
4. Tiếp cận theo quá trình
Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách hiệu quả khi các nguồn lực và các hoạt động liên
quan được quản lý như một quá trình.

8


5. Tiếp cận theo hệ thống để quản lý
Việc xác định, nhận thức và quản lý các quá trình có quan hệ với nhau như một hệ thống,
đóng góp vào hiệu quả, hiệu lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu.
6. Cải tiến liên tục
Cải tiến liên tục là mục tiêu của tất cả các tổ chức.
Để thực hiện cải tiến liên tục, cần thực hiện các bước sau:
+ Xác định các quá trình cải tiến.
+ Phân tích, hoạch định giải pháp.
+ Tổ chức thực hiện giải pháp.
+ Đo lường kết quả thực hiện.
+ Đánh giá kết quả.
7. Quyết định dựa trên sự kiện
Thông tin, dữ liệu đầy đủ, chính xác, kịp thời và có khả năng lượng hoá được sẽ phản ánh
bản chất sự việc.
Trong ISO, sau khi thực hiện xong công việc, việc thiết lập hồ sơ và lưu trữ hồ sơ là công việc
quan trọng và cần thiết, bởi vì đó là bằng chứng chứng minh công việc đã được thực hiện.
Phân tích thông tin, dữ liệu khoa học giúp lãnh đạo đưa ra các quyết định đúng.
Hồ sơ là các loại giấy tờ liên quan đến một người, giải quyết một vụ việc, một vấn đề nào đó …,
qua đó nói lên các kết quả đạt được hay cung cấp bằng chứng về các hoạt động được thực hiện,
được tập hợp lại một cách có hệ thống: hồ sơ cán bộ, hồ sơ mời giảng, hồ sơ mua sắm hàng hoá,

ra .
b) Chất lượng quá trình GD: mức độ đáp ứng yêu cầu của quá trình dạy và
học và các quá trình GD khác.
c) Chất lượng đầu ra: mức độ đạt được của đầu ra (chất lượng HS ở cuối
quá trình GD; HS chuyển cấp hay ra trường..) so với chuẩn kiến thức, kỹ năng cần
đạt được quy định cho từng môn học.
d) Chất lượng sản phẩm: mức độ đạt các yêu cầu của học sinh tốt nghiệp
qua đánh giá của chính bản thân học sinh, của cha mẹ, của địa phương và của xã
hội.
1.2.5. “Văn hoá chất lượng”
Muốn có chất lượng và phát triển bền vững phải có văn hóa chất lượng
Văn hóa chất lượng là toàn bộ ý thức, hành vi và giá trị liên quan đến chất lượng
của một cơ sở GD&ĐT được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển
của tổ chức nói chung và nhà trường nói riêng, trở thành các giá trị, các quan niệm,
tập quán và thói quen, trở thành truyền thống ăn sâu vào hoạt động của tổ chức/nhà
trường, chi phối tình cảm, nếp nghĩ và hành vi của mọi thành viên của nhà trường
trong việc theo đuổi thực hiện sứ mệnh và các mục tiêu chất lượng của cơ sở
10


GD&ĐT. Với cách hiểu trên văn hóa có 3 cấp độ: cấp độ “hình thức” (bề nổi, nhìn
thấy được như nhà trường có khang trang, sạch đẹp không), cấp độ “hành vi” (thể
hiện qua ứng xử giữa CB-GV với nhau trong trường và với đối tác của NT) và cấp
độ “giá trị” (thương hiệu của nhà trường). Chỉ khi văn hóa trở thành thói quen,
mang tầm giá trị thì nó trở thành tài sản vô hình của một tổ chức, một nhà trường.
Văn hóa chất lượng của một cơ sở GD&ĐT cũng thể hiện qua phong cách lãnh đạo
của những người quản lí tổ chức đó và tác phong làm việc của đội ngũ giáo
viên/nhân viên và ý thức, phong cách học tập của học sinh được rèn luyện bởi nhà
trường đó. Hạt nhân văn hóa chất lượng của một cơ sở GD&ĐT là triết lí vận hành
tổ chức /NT, hệ giá trị mà tổ chức /NT đó theo đuổi, gắn liền với chất lượng của sản

giúp đỡ giáo viên trong giảng dạy và học sinh học tập thay vì kiểm soát họ trong
quá trình dạy và học bằng các biện pháp hành chính.
Để xây dựng được văn hoá chất lượng phục vụ cần :
1. Có cam kết mà trước hết là cam kết của lãnh đạo đối với mục tiêu chất
lượng, đảm bảo sự tham gia tích cực của mọi thành viên trong trường: sinh viên,
giảng viên, cán bộ phục vụ, các tổ chức và cá nhân có quan hệ với trường.
2. Tạo dựng cơ chế để các đối tác có thể biểu đạt sự quan tâm đến kết quả
công việc mà họ là người được phục vụ.
3. Cùng nhau xác định tầm nhìn cho tương lai, kế hoạch dài hạn, ngắn hạn
của trường và biến thành kế hoạch hành động của từng bộ phận, từng cá nhân, trên
cơ sở đó phải xây dựng được các quy trình, thủ tục thực hiện các công việc theo
mục tiêu chất lượng.
4. Xây dựng các chỉ số chất lượng và bộ chuẩn (tối thiểu) cho từng công việc
lớn nhỏ trong trường (viết ra những điều cần làm!).
5. Xác định các thông số chất lượng và yêu cầu bắt buộc về chất lượng cho
mọi hoạt động trong trường.(làm đúng những điều đã viết với ý thức thoả mãn đối
tác, “khách hàng”!)
12


6. Định kì rà soát lại mục tiêu chất lượng và nội dung công việc cũng như
các quy trình, thủ tục để cải tiến liên tục.
7. Xây dựng cơ sở dữ liệu (bằng chứng) cho mỗi hoạt động trong trường,
mọi công việc của từng cá nhân.
8. Xây dựng cơ chế đối thoại gữa các bộ phận trong nhà trường, phá bỏ mọi
rào cản, khi xuất hiện “mâu thuẫn” cần sự bàn bạc, giải quyết.
9. Có kế hoạch phát triển cho từng thành viên và thực thi một cách nghiêm
túc những cam kết .
10. Đổi mới, khuyến khích đổi mới, ghi chép và thảo luận về các kết quả đầu
ra của công việc liên quan đến nhiều người.

trên
Thông thường QL chất lượng theo tiếp cận quá trình hay còn gọi là tiếp cận
C(context-bối cảnh)-I (Input-đầu vào)-P(Proccess-quá trinh)-O(output-đầu ra):
CIPO (đầu vào-quá trình-đầu ra trong một bối cảnh cụ thể) và chúng tôi trình bày
vấn đề theo tiếp cận này.
2.1. Xác lập các chuẩn mực và các chỉ số đối các yếu tố liên quan đến chất
lượng GDĐH của cơ sở GDĐH theo tiếp cận CIPO.
Để cho một cơ sở GDĐH hoạt động có chất lượng theo quan điểm của tiếp cận hệ
thống cần bảo đảm chất lượng đầu vào-quá trình và đầu ra. Tham khảo quan điểm
của Hoy W.K. and Miskel C.G., (2001)[2] các yếu tố đó có thể mô tả như sau:
Đầu vào
-Chính sách,
tầm nhìn
-Nguồn
lực
(nhân lực, vật
lực,tài lực)
-Thiết bị và
công nghệ
-Công
tác
tuyển sinh
-Năng lực giáo
viên
-Trợ giúp của
cộng đồng

Quá trình
-Tổ chức lớp
học

Đảm bảo mối quan hệ biện chứng của 3 công đoạn

2.1.Các chuẩn mực đầu vào :
1.1.Sứ mạng của nhà trường chỉ ra những nhiệm vụ và các mục tiêu trường cần đạt
được; đối tượng phục vụ và mục đích GD&ĐT của nhà trường. Mục tiêu và nhiệm
vụ đặt ra phải phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nhà trường. Chính sách chất
lượng được tuyên bố rõ ràng và được cụ thể hoá thành kế hoạch chất lượng.
1.2.Công tác lập kế hoạch và phân bổ nguồn lực phải dựa trên sứ mạng và nhiệm
vụ của nhà trường và sự phân tích ưu tiên những hoạt động của nhà trường cho
công tác bảo đảm chất lượng. Công tác thông tin, truyền thông phải là một nội dung
của kế hoạch
1.3. Chương trình GD của trường phải được xây dựng trên cơ sở sứ mạng và nhiệm
vụ GD được xác định. Chương trình phải được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lí và
vận dụng tiếp cận phát triển chương trình (xác định nhu cầu- xây dựng chuẩn đầu
ra- lựa chọn nội dung và phương thức phù hợp với yêu cầu của chuẩn đầu ra....) vào
quá trình xây dựng và hoàn thiện chương trình theo yêu cầu đổi mới GD
1.4. Công tác tuyển sinh được coi trọng cả khâu quảng bá và quy trình thực hiện
tuyển sinh để nắm chắt được đối tượng đầu vào; tạo điều kiện cho việc xây dựng kế
hoạch GD của nhà trường theo mục tiêu đầu ra đã xác định.
1.5. Nhà trường có đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên,nhân viên tương ứng với
nhiệm vụ và mục tiêu GD đã xác định, tương ứng với số lượng sinh viên /GV đã
được quy định. Chức trách của các đối tượng được quy định rõ ràng và cụ thể để
tiện cho việc giám sát và đánh giá mức độ thực hiện
15


1.6. Nhà trường đáp ứng đầy đủ về cơ sở vật chất để triển khai các hoạt động cho
bảo đảm chất lượng đối với sản phẩm hoạt động của nhà trường. Hạ tầng cơ sở
(phòng học, phòng thí nghiệm, thông tin thư viên, khuôn viên nhà trường...) đáp
ứng đầy đủ (theo quy định tối thiểu) để thực hiện được sứ mạng và nhiệm vụ đã đặt

thức, kỹ năng của môn học nói riêng và “chuẩn đầu ra” của chương trình GD nói
chung. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập gắn với việc kiểm định mức độ đạt được
chuẩn kiến thức, kỹ năng và mục tiêu giáo dục; góp phần khảng định sản phẩm
GDĐH đạt được mục tiêu GDĐH đã đề ra cả năng lực và phẩm chất.
2.5. Tổ chức thực hiện tốt các hoạt động chuyên môn và phục vụ cộng cồng, xã hội.
Coi trọng công tác bồi dưỡng đội ngũ, đặc biệt hình thành và phát triển “văn hoá
chất lượng” cho mọi thành viên của nhà trường.
2.6. Triển khai các hoạt động bảo đảm chất lượng thông qua đầu mối là “tổ chức
đảm bảo chất lượng” của nhà trường hay một thiết chế trách nhiệm nào đó (tuỳ cơ
cấu của nhà trường)
2.3.Các chuẩn mực liên quan đến đầu ra :
Hiện nay nhiều người lấy điểm số để đo chất lượng đầu ra; điều này chỉ đúng một
phần vì điểm gắn với đo lường kết quả học tập nhưng điểm ở cấp độ nào của việc
đạt được MT mới là vấn đề liên quan đến chất lượng và đến lượt nó MT được xác
định như thế nào thì kết quả đo được mới phản ảnh chất lượng mà xã hội mong
muốn.
3.1.Mục tiêu đạt được của các môn học phải gắn với chuẩn kiến thức, kỹ năng của
môn học và góp phần đạt được chuẩn đầu ra của chương trình GD. Năng lực của
người tốt nghiệp được xác định bằng kết quả của quá trình học tập ở cơ sở GD, nhà
trường thông qua các mức độ đạt được các tiêu chí của “ chuẩn đầu ra” đã xác định

17


cho chương trình GD. Nhà trường công khai các chuẩn mực đánh giá kết quả học
tập để các bên liên quan có thể kiểm định.
3.2.Tỉ lệ người tốt nghiệp so với người nhập học (lưu ban, bỏ học...). Tỉ lệ học lên
và tỉ lệ có việc làm sau tốt nghiệp cũng như khả năng thăng tiến của sản phẩm GD
phải được theo dõi (theo số liệu điều tra và thống kê hàng năm).
3.3. Đánh giá sự hài lòng của đội ngũ và của các đối tác về hoạt động của nhà

Một trong những lời khuyên hữu ích cho những người tham gia quản lí chất lượng;
trích từ [2] là:
Thực hiện quy tắc 6 W và 1 H : Who: Ai làm ?; What : Làm việc gì ?; Where: Làm
việc đó ở đâu ?; When: Làm khi nào ? Why: Tại sao làm việc đó? Whom: Ai là đối
tác nhận kết quả? How: Làm việc đó như thế nào?
Mỗi mảng công việc được thực hiện bởi các bộ phận của nhà trường. Trong từng
bộ phận cần phải “mô tả công việc” theo chức năng nhiệm vụ của mình và gắn với
các chuẩn mực của công việc mà phần trên đã trình bày (bảng mô tả đó cần có các
mục : nội dung công việc; người chịu trách nhiệm chính; kết quả cần đạt với các
chuẩn mực cụ thể (đầu ra công việc);đối tác “hưởng thụ” và mức độ hài lòng của
họ...). Ví dụ đối với GV, giáo án và kế hoạch dạy học là một loại “mô tả công việc”
lên lớp; với nhân viên tài vụ chẳng hạn nội dung thanh toán một chứng từ là bản
mô tả công việc...v.v.
Bản mô tả công việc này phải được thực hiện ở tất cả các bộ phận và gắn với các
địa chỉ cụ thể và đây là một phần của “viết những điều cần làm” để thực hiện công
việc một cách có chất lượng.
Sau khi đã có các bản “mô tả công việc” cần thực hiện đúng quy trình vì vậy phải
xây dựng quy trình cho từng “bản mô tả công việc” nêu trên.Nguyên tắc của quy
trình triển khai công việc là căn cứ vào “quy mô công việc” và các “lực lượng phối
hợp” để vẽ “đường đi đến đích” của công việc theo một logic hợp lí nhất, phù hợp

19


với các quy định tiến hành công việc của cơ quan và mong đợi của đối tác tiếp nhận
kết quả công việc đó.
Quy trình thực hiện công việc cụ thể thể coi nó là một “sơ đồ” có các véctơ nối
nhau mà điểm đầu và điểm cuối của mỗi véctơ là điểm xuất phát và đích của một
nội dung công việc cụ thể để tiến hành công việc một cách khoa học nhất (có thể
theo sơ đồ xương cá hay grráp). Một khi quy trình đã được thống nhất và phê duyệt

a/ Kiểm tra đầu việc đáp ứng các tiêu chuẩn, tiêu chí đã ban hành
Giả sử chúng ta đã có các tiêu chuẩn và chuẩn mực cho các hoạt động của cơ sở
chúng ta và nếu cần thiết chúng ta sẽ xem xét lại định kỳ để xem tính phù hợp của
nó và lượng gía ( đưa ra các chỉ số định lượng) các thủ tục thực hiện. Trong giai
đoạn thực hiện các chuẩn mực đã được thống nhất và công bố thì việc tuân thủ và
thực hiện chúng là rất quan trọng. Khi kiểm tra công việc theo tiếp cận QL chất
lượng cần phải kiểm tra thông qua việc thực hiện các chuẩn mực đã quy định. Ví dụ
khi kiểm tra giáo án cần kiểm tra có tuân thủ cấu trúc một giáo án đã được nhà
trường thông qua (Xác định MTDH cho người học-> lựa chọn ND DH theoMT->
Mô tả các hoạt động chuyển tải ND DH thông qua các hoạt động tương tác GV<>HS để HS đạt được MT-> Kiểm tra được mức độ đạt được MT...) hay tỉ lệ hoạt
động của GV/HS trên lớp của một giờ chuyển tải nội dung dạy học (thường là GV
không “nói hoặc đọc chép” quá 1 tỷ lệ thời gian nào đó của tiết/buổi học (ví dụ 6070% thời lượng một buổi/tiết lên lớp LÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG “SEARCH-RE
SEARCH”, nếu giáo án theo tinh thần đổi mới PPDH!), nghĩa là các tiêu chuẩn
nhận diện “phát huy các yếu tố tích cực của các PPDH trong một giờ lên lớp phải
được “lượng hóa” ..v..v..Dạy học là công việc sáng tạo của GV tuy nhiên việc tuân
thủ các “chuẩn mực” sẽ góp phần tạo nên chất lượng như mong muốn của người
quản lí.
b/Kiểm tra việc thực hiện quy trình, thủ tục
ở đây chỉ khu trú đối với quy trình thủ tục thực hiện công việc cụ thể gắn với các
nhiệm vụ của các bộ phận hay cá nhân của tổ chức. Sau khi đã có “bộ tiêu chuẩn,
tiêu chí và thủ tục quy trình thực hiện công việc” đã được “viết ra” vấn đề bây giờ
21


là “làm đúng những điều đã viết” và được kiểm tra, giám sát mức độ thực hiện. Do
nhiều lí do như “văn hoá chất lượng” thấp mà chủ thể thực hiện các quy trình thủ
tục thường “quên” hay “rút gọn” làm cho công việc không đạt được kết quả mong
đợi. ở giai đoạn “văn hoá chất lượng” chưa hình thành hay ở giai đoạn đầu kiểm tra
từ ngoài là rất quan trọng. Khi văn hoá chất lượng đã được nâng cao thì việc tự
đánh giá và báo cáo trở thành công cụ kiểm tra phù hợp nhất. Thời gian “chuyển

trong thời gian 6 tháng sau khi tốt nghiệp để tìm hiểu mức độ đáp ứng yêu cầu của
các đối tác nói riêng và của xã hội nói chung của học sinh trường mình.
Việc đánh giá, đo lường chất lượng cũng có thể được tiến hành từ bên ngoài
do các cơ quan hữu quan thực hiện với các mục đích khác nhau (khen - chê, xếp
hạng, khuyến khích tài chính, kiểm định công nhận .v.v ..)
Dù đối tượng của việc đo lường, đánh giá chất lượng là gì và chủ thể của việc
đo lường, đánh giá là ai thì việc đầu tiên, quan trọng nhất vẫn là xác định mục đích
của việc đo lường, đánh giá. Từ đó mới xác định được việc sử dụng phương pháp
cũng như các công cụ đo lường tương ứng.
Trong giáo dục các loại đánh giá chính sau :
a/ Đánh giá kết quả học tập
b/ Đánh giá chương trình .
c/ Đánh giá giáo viên (theo chuẩn nghề nghiệp)
d/ Đánh giá nhà trường ( Xếp hạng hoặc kiểm định công nhận cơ sở đào tạo) .
Tuy nhiên điểm chung của đánh giá trong quản lí chất lượng là gắn với “hồ sơ công
việc”-minh chứng và các biểu mẫu. Nội dung này được làm rõ trong các hướng dẫn
tự đánh giá của công tác kiểm định các cơ sở GD mà Bộ GD&ĐT đã ban hành vì
vậy nội dung này sẽ không được trình bày chi tiết ở đây mà sẽ được đề cập ở mục
“đánh giá kiểm đinh” ở phần sau . Ở đây chúng tôi muốn trao đổi một nội dung
đánh giá liên quan đến chất lượng giáo dục của một nhà trường đó là đánh giá kết
quả học tập của người học.
23


3.2.2.Đánh giá kết quả học tập:
Đánh giá trong dạy học theo nghĩa rộng không chỉ bó hẹp vào việc đánh giá kết
quả học tập của ngươì học (cho dù đó là chỉ số quan trọng!!) mà nó còn liên quan
đến việc đánh giá mục tiêu, nội dung chương trình, PPDH, GV... , nhưng ở đây chỉ
xin nêu một số vấn đề về đánh giá kết quả học tập của người học. Theo quan niệm
của Jamin Bloom nhận thức của người học đi từ thấp đến cao theo 6 mức độ : 1/

KT,ĐG kết quả học tập của người học.
Muốn đánh giá kết quả của người học người ta thường tổ chức các cuộc kiểm
tra chất lượng hay thi các loại;
Đánh giá chất lượng một nhà trường gắn với kiểm định chất lượng
III. KIỂM ĐỊNH CHẤT LƯỢNG MỘT TRƯỜNG ĐH.
1. Kiểm định chất lượng
1.1. Khái niệm: Kiểm định chất lượng là một quá trình đánh giá nhiều bên, gồm
một số bước, nhằm đưa ra một quyết định công nhận một cơ sở giáo dục đáp ứng
các chuẩn mực qui định.
1.2.Mục đích, mục tiêu của kiểm định
Mục đích của kiểm định chất lượng không chỉ là đảm bảo cơ sở giáo dục có
trách nhiệm đối với chất lượng GD mà còn mang lại động lực cải tiến và
nâng cao chất lượng chương trình GD cũng như chất lượng toàn diện của
cơ sở giáo dục.
1.3. Đặc trưng của Kiểm định chất lượng
- Kiểm định chất lượng có thể được tiến hành ở phạm vi cơ sở giáo dục hoặc
chương trình GD
- Kiểm định chất lượng là hoạt động hoàn toàn tự nguyện
- Kiểm định chất lượng không thể tách rời công tác tự đánh giá
- Tất cả các quy trình kiểm định luôn gắn liền với đánh giá đồng nghiệp
- Các chuẩn mực đánh giá rất mềm dẻo và được biến đổi cho phù hợp với sứ
mệnh của từng cơ sở giáo dục
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status