VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀO THỊ HUYỀN ANH
ỔN ĐỊNH KHU VỰC TÀI CHÍNH:
KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ HÀM Ý CHO VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế Phát triển
Mã số: 62.31.01.05
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. TS. TÔ THỊ ÁNH DƢƠNG
2. TS. VŨ TUẤN ANH
HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực. Những
kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án
MỤC LỤC
Đặc điểm và cấu trúc khu vực tài chính .......................................................... 21
2.1.3.
Vai trò của khu vực tài chính .......................................................................... 22
2.2.
Ổn định khu vực tài chính .......................................................................................... 23
2.2.1.
Khái niệm ổn định khu vực tài chính .............................................................. 23
2.2.2.
Vai trò của ổn định khu vực tài chính ............................................................. 24
2.2.3.
Các nhân tố tác động đến ổn định khu vực tài chính ...................................... 28
2.3.
Đảm bảo ổn định khu vực tài chính ........................................................................... 33
2.3.1.
Mô hình thể chế đảm bảo ổn định tài chính .................................................... 33
3.2.1.
Tình hình chung khu vực tài chính Thái Lan .................................................. 74
3.2.2.
Khuôn khổ thể chế đảm bảo ổn định tài chính ở Thái Lan ............................. 75
3.2.3.
Phối hợp giữa các chính sách nhằm đảm bảo ổn định tài chính ..................... 76
3.3.
Kinh nghiệm Hàn Quốc ............................................................................................. 79
3.3.1.
Thực trạng và đặc điểm khu vực tài chính ở Hàn Quốc ................................. 79
3.3.2.
Khuôn khổ thể chế về ổn định tài chính ở Hàn Quốc ..................................... 80
3.3.3.
Công cụ phân tích và chính sách ổn định tài chính ở Hàn Quốc .................... 82
3.4.
3.6.
Bài học cho Việt Nam .............................................................................................. 104
Chƣơng 4. THỰC TRẠNG ỔN ĐỊNH KHU VỰC TÀI CHÍNH VÀ CÁC GIẢI PHÁP
ĐẢM BẢO ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM .............................................................. 109
4.1.
Tình hình ổn định khu vực khu vực tài chính .......................................................... 109
4.1.1.
Cấu trúc khu vực tài chính Việt Nam ........................................................... 109
4.1.2.
Lĩnh vực ngân hàng ...................................................................................... 110
4.1.3.
Lĩnh vực chứng khoán .................................................................................. 115
4.1.4.
Lĩnh vực bảo hiểm ........................................................................................ 117
4.1.5.
Rủi ro của khu vực tài chính ở Việt Nam ..................................................... 118
Khuôn khổ pháp lý ........................................................................................ 146
4.5.2.
Mô hình tổ chức ............................................................................................ 148
4.5.3.
Công cụ phân tích và điều hành chính sách đảm bảo ổn định tài chính ....... 151
4.5.4.
Truyền thông về ổn định tài chính ................................................................ 155
4.5.5.
Cơ sở dữ liệu ................................................................................................. 155
4.5.6.
Các giải pháp hỗ trợ khác ............................................................................. 157
KẾT LUẬN…. ....................................................................................................................... 161
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ...................................................................... 162
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................................... 163
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADB
CQTTGSNH
Cơ quan Thanh tra giám sát ngân hàng
DNBH
Doanh nghiệp bảo hiểm
DNNN
Doanh nghiệp nhà nƣớc
DTI
Tỷ lệ dƣ nợ/thu nhập
ECB
Ngân hàng Trung ƣơng Châu Âu
EWS
Hệ thống cảnh báo sớm
FCA
Cơ quan thực thi giám sát tài chính
FPC
Hội đồng Ổn định Tài chính
IMF
Quỹ Tiền tệ Quốc tế
LCR
Tỷ lệ đảm bảo thanh khoản
LTV
Tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản đảm bảo
MOF
Bộ Tài chính
MPC
Ủy ban chính sách tiền tệ
MPIs
Các chỉ số an toàn vĩ mô
NHNN
Ngân hàng Nhà nƣớc
Tập đoàn tài chính
TPCP
Trái phiếu Chính phủ
UBGSTCQG
Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia
UBCKNN
Ủy ban chứng khoán nhà nƣớc
WB
Ngân hàng Thế giới
WTO
Tổ chức Thƣơng mại Thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Mô hình cơ chế tổ chức .................................................................................37
Bảng 2.2. So sánh chính sách an toàn vĩ mô và an toàn vi mô .....................................43
Bảng 2.3. Các kịch bản về việc áp dụng hoặc loại bỏ MPIs .........................................56
Bảng 3.1. Các chỉ số sử dụng trong công cụ phân tích của Indonesia ..........................70
Bảng 3.2. Các công cụ thực thi chính sách an toàn vĩ mô của Indonesia .....................72
Bảng 3.3. Bảng các công cụ điều hành chính sách an toàn vĩ mô của Anh ..................95
Hình 3.15. Quy trình NHTW Thụy Điển đánh giá ổn định tài chính ..........................101
Hình 4.1. Cấu trúc khu vực tài chính Việt Nam ..........................................................109
Hình 4.2.Tổng Tài sản của TCTD/ GDP (%). .............................................................111
Hình 4.3.Cơ cấu tổng tài sản theo loại hình TCTD .....................................................111
Hình 4.4. Tỷ lệ tín dụng so với GDP (%) ................................................................ .111
Hình 4.5. Cơ cấu tài sản của TCTD 2011-2015 .........................................................111
Hình 4.6. Dƣ nợ tín dụng theo ngành kinh tế ...................................................................
Hình 4.7. Dƣ nợ tín dụng theo kỳ hạn .........................................................................112
Hình 4.8. Vốn huy động. .............................................................................................112
Hình 4.9. Cơ cấu nợ phải trả........................................................................................112
Hình 4.10. Tỷ lệ dƣ nợ/tiền gửi ...................................................................................113
Hình 4.11. Cơ cấu vốn chủ sở hữu của các TCTD... ...................................................113
Hình 4.12. Vốn tự có và Vốn điều lệ ...........................................................................113
Hình 4.13. Cơ cấu vốn điều lệ của các TCTD năm 2014 ............................................113
Hình 4.14. Số lƣợng CTCK giai đoạn 2000-2015.......................................................115
Hình 4.15. Cơ cấu doanh thu các.................................................................................115
Hình 4.17 Thị phần Bảo hiểm phi nhân thọ 2015 .......................................................118
Hình 4.18 Thị phần Bảo hiểm nhân thọ 2015 .............................................................118
Hình 4.19. Tăng trƣởng tín dụng và tăng trƣởng tín dụng BĐS .................................120
Hình 4.20. Chênh lệch Tín dụng so với GDP ..............................................................120
Hình 4.23. CAR của NHTMNN giai đoạn 2011-2014................................................125
Hình 4.24. NPLs của các TCTD ..................................................................................125
Hình 4.25. Kết quả xử lý nợ xấu .................................................................................126
Hình 4.26. Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản
............................................................128
Hình 4.27. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở......... ....................................................128
Hình 4.28. Cơ cấu Tổ Công tác ODTC thuộc NHNN.................................................149
và ngoài nƣớc; (iv) Hệ thống tài chính trở nên phức tạp hơn, cả về công cụ điều hành
lẫn sự đa dạng của các hoạt động, cũng nhƣ các loại rủi ro.
Do đó, việc đảm bảo sự ổn định khu vực tài chính ngày càng trở thành mục tiêu
chủ đạo trong hoạch định chính sách kinh tế hiện nay. Điều này đƣợc minh chứng
bằng các báo cáo ổn định tài chính đã đƣợc nhiều Ngân hàng Trung ƣơng (NHTW) và
các tổ chức tài chính quốc tế (nhƣ Quỹ Tiền tệ Quốc tế - IMF, Ngân hàng Thanh toán
Quốc tế - BIS, Ngân hàng Thế giới - World Bank) đƣa ra định kỳ, cũng nhƣ vị trí ngày
càng quan trọng của ổn định tài chính trong cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của các tổ
chức này. Cụ thể, tại nhiều quốc gia, ổn định tài chính là một trong những mục tiêu
quan trọng của chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa. Nhiều nƣớc đã tích lũy đƣợc
những kinh nghiệm hoạch định và điều hành chính sách tài chính – tiền tệ có hiệu quả
đối với việc ổn định tài chính quốc gia. Một số chính sách mang tính phổ quát chung,
có thể ứng dụng cho những nền kinh tế khác; còn một số chính sách mang tính đặc thù,
có thể vận dụng cho một nhóm nƣớc có điều kiện tƣơng tự.
1
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, ổn định kinh tế vĩ mô luôn là mục tiêu
ƣu tiên hàng đầu. Việc duy trì ổn định khu vực tài chính đóng vai trò quan trọng trong
việc giữ ổn định vĩ mô. Dƣới tác động của hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu
rộng, hệ thống tài chính Việt Nam có tổng tài sản chiếm tới 200% GDP năm 2011
(NHNN, 2013). Trong đó, khu vực ngân hàng chiếm 92% tổng tài sản của các định
chế tài chính (tƣơng đƣơng 183% GDP). Hệ thống tài chính Việt Nam trong những
năm gần đây có nhiều biến động và bất ổn xuất phát từ những yếu kém của nền kinh tế
nói chung và bản thân hệ thống ngân hàng nói riêng, nhƣ tính lành mạnh của hệ thống
ngân hàng còn yếu, rủi ro thanh khoản và mất an toàn hệ thống còn hiện hữu. Trình độ
công nghệ và kỹ năng kinh doanh của hệ thống còn nhiều hạn chế. Các sản phẩm tài
chính còn kém đa dạng. Tình trạng sở hữu chéo tƣơng đối phức tạp. Đặc biệt trong giai
đoạn 2007-2011, dƣới những tác động của các yếu tố bên ngoài nhƣ bất ổn kinh tế vĩ
mô, tác động tiêu cực của nền kinh tế thực (thị trƣờng bất động sản, doanh nghiệp, hộ
2
Mục tiêu cụ thể:
Để đạt đƣợc mục tiêu tổng quát, cần thực hiện những mục tiêu cụ thể sau:
Nghiên cứu, hệ thống hóa cơ sở lý luận về ổn định khu vực tài chính (khái
niệm khu vực tài chính và ổn định khu vực tài chính; các chỉ số đánh giá ổn định khu
vực tài chính; các yếu tố tác động tới ổn định tài chính/bất ổn tài chính; các công cụ,
thể chế tổ chức và thực thi ổn định khu vực tài chính).
Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nƣớc đƣợc lựa chọn về duy trì ổn định
khu vực tài chính (mô hình tổ chức, các công cụ phân tích và chính sách nhằm đảm
bảo ổn định tài chính) và rút ra các bài học kinh nghiệm.
Phân tích, đánh giá về sự ổn định khu vực tài chính ở Việt Nam trong giai
đoạn 2007-2015, làm rõ sự cần thiết phải có khuôn khổ chính sách nhằm đảm bảo ổn
định khu vực tài chính ở Việt Nam.
Đề xuất các khuyến nghị, gợi ý chính sách và giải pháp nhằm duy trì sự ổn
định khu vực tài chính ở Việt Nam.
3. Đố tƣợ g và p ạm v g ê ứu
3.1. Đố tƣợ g g ê ứu
Luận án nghiên cứu các chính sách và biện pháp duy trì sự ổn định của khu vực
tài chính của một số nƣớc trên thế giới và Việt Nam trong thời gian mƣời năm gần
đây, đặc biệt từ thời kỳ bắt đầu khủng hoảng tài chính thế giới năm 2007 đến nay, từ
đó rút ra hàm ý chính sách cho Việt Nam.
3.2. P ạm v g ê ứu
- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận
và thực tiễn liên quan đến sự ổn định của khu vực tài chính, sự ổn định của hệ thống
ngân hàng, nghiên cứu thực trạng ổn định khu vực tài chính Việt Nam từ đó đề xuất các
giải pháp duy trì ổn định tài chính ở Việt Nam. Do chủ đề luận án khá rộng và phức tạp,
liên quan đến nhiều vấn đề của nền kinh tế và khu vực tài chính, đồng thời khu vực ngân
hàng chi phối hệ thống tài chính với tổng tài sản hơn 6,87 triệu tỷ đồng (chiếm 160%
Hàn Quốc).
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu về ổn định
khu vực tài chính trong giai đoạn 2007-2015 trong mối quan hệ so sánh với các giai
đoạn trƣớc và các giải pháp trong trung và dài hạn.
4. P ƣơ g p p u và p ƣơ g p p g ê ứu
4.1. P ƣơ g pháp u
Luận án không đi sâu vào phân tích các học thuyết kinh tế - tài chính - tiền tệ mà
tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến ổn định tài chính (khái niệm, vai trò của
ổn định tài chính đối với nền kinh tế vĩ mô, rủi ro hệ thống và nguyên nhân gây ra rủi
ro hệ thống tạo nên những bất ổn của khu vực tài chính), đồng thời đánh giá kinh
nghiệm thực tiễn của quốc tế về ổn định tài chính (chủ yếu tập trung vào các chính
sách, thể chế thực hiện chức năng/nhiệm vụ ổn định tài chính).
Luận án nghiên cứu khu vực tài chính trong mối liên kết với kinh tế vĩ mô (nền
kinh tế), và khu vực kinh tế thực (doanh nghiệp, hộ gia đình, bất động sản) cũng nhƣ
với các chủ thể khác nhau nhƣ các cơ quan quản lý và lập chính sách (ví dụ, Ngân
hàng Trung ƣơng, Bộ Tài Chính), cơ quan giám sát (Quốc hội, Ủy Ban Giám sát Tài
chính Quốc gia) và các tổ chức vi mô (các tổ chức tín dụng, các doanh nghiệp) để đánh
giá đƣợc chuẩn xác nhất hiệu quả và tác động của các chính sách duy trì ổn định tài
chính, cũng nhƣ đánh giá những rủi ro tiềm ẩn có thể gây bất ổn định khu vực tài
chính (ngân hàng), từ đó đƣa ra các khuyến nghị chính sách, và các giải pháp hữu hiệu
góp phần duy trì sự ổn định tài chính nói riêng, ổn định kinh tế vĩ mô nói chung.
4.2. Cơ sở ý t uy t
Luận án nghiên cứu các vấn đề lý thuyết và thực tiễn dựa trên các lý thuyết về ổn
định tài chính của Croket (1997), Shinasi (2006). Đồng thời các công trình nghiên cứu
của các tổ chức quốc tế nhƣ Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF, Ngân hàng Thế giới World
Bank, Ngân hàng thanh toán quốc tế BIS, Hội đồng ổn định tài chính toàn cầu (GFSB)
cũng là những nguồn tham khảo quan trọng cho luận án trong việc nghiên cứu các lý
luận và thực tiễn về ổn định khu vực tài chính.
Nội dung nghiên cứu, luận án sẽ giải quyết những vấn đề cụ thể nhƣ sau:
Các chỉ số tài chính lành mạnh của khu vực ngân hàng (FSIs – Financial
Soundness Indicators) bao gồm mức độ đủ vốn/hệ số an toàn vốn (CAR), doanh thu và
lợi nhuận, thanh khoản, quản trị lành mạnh, và mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trƣờng
và việc kiểm tra sức chịu đựng của ngân hàng (stress test);
Các chỉ số cảnh bảo sớm bao gồm mức chênh lệch tín dụng/GDP (credit to GDP
gap), các chỉ số an toàn vĩ mô- MPIs (Macro – Prudential Instruments)....
Các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể sẽ bao gồm các phƣơng pháp nghiên cứu
truyền thống nhƣ phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, đồng thời kết hợp với phƣơng
pháp nghiên cứu tình huống. Phƣơng pháp so sánh và tổng hợp đƣợc sử dụng nhằm
xem xét, đánh giá và rút ra bài học về ổn định tài chính từ kinh nghiệm quốc tế, và
phân tích điều kiện thực tế tình hình khu vực tài chính ở Việt Nam. Phƣơng pháp phân
tích thống kê, so sánh sẽ áp dụng cho việc nghiên cứu những bất ổn hệ thống tài chính
ở Việt Nam (rủi ro hệ thống).
5
Luận án chủ yếu sử dụng nguồn số liệu thứ cấp từ Ngân hàng Nhà nƣớc Việt
Nam, Tổng cục Thống kê, Ủy ban Chứng khoán Nhà nƣớc, Bộ Tài chính, và một số tổ
chức quốc tế nhƣ IMF, BIS, World Bank…
Luận án cũng sẽ sử dụng các dự báo của các tổ chức quốc tế và trong nƣớc để,
xác định những cơ hội và thách thức trong việc duy trì ổn định khu vực tài chính của
Việt Nam trong bối cảnh thế giới đầy biến động
5. Đó g góp mớ về k o ọ ủ u
Với mục tiêu, nội dung, phạm vi và phƣơng pháp nghiên cứu nêu trên, luận án có
thể có một số đóng góp nhƣ sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa các vấn đề lý luận về ổn định khu vực tài chính.
Thứ hai, phân tích kinh nghiệm thực tế ở các nƣớc về đảm bảo ổn định khu
vực tài chính (về khuôn khổ thể chế, khuôn khổ vận hành nhƣ công cụ phân tích và
điều hành chính sách).
C ƣơ g 4:
T ự trạ g ổ đị k u vự tà
í và
g ả p p ằm
đảm bảo sự ổ đị
ủ k u vự tà
í ở V ệt N m
6
C ƣơ g 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Khu vực tài chính là trung tâm lƣu chuyển nguồn vốn cho nền kinh tế và với
chức năng này, mọi bất ổn tại khu vực tài chính sẽ đƣợc truyền dẫn gần nhƣ ngay lập
tức tới những khu vực kinh tế khác. Khái niệm ổn định khu vực tài chính hay ổn định
tài chính hiện còn nhiều tranh cãi chƣa đƣợc thống nhất, tuy nhiên, khuôn khổ cơ bản
cho việc thực hiện ổn định tài chính đã đƣợc hình thành bao gồm nguồn gốc bất ổn tài
chính, phƣơng thức đánh giá, giám sát ổn định tài chính, công cụ chính sách an toàn vĩ
mô nhằm thực hiện ổn định tài chính, mô hình thể chế thực thi hoạt động ổn định tài
chính. Bên cạnh đó, chính sách an toàn vĩ mô thực hiện mục tiêu ổn định tài chính có
tƣơng tác và chịu tác động từ nhiều chính sách khác nhƣ chích sách tiền tệ và chính
sách tài khóa, do vậy, mục tiêu ổn định tài chính cần đƣợc xem xét, cân bằng với các
yếu tố khác nhƣ tăng trƣởng kinh tế, hiệu quả hoạt động khu vực tài chính.
1.1. Tổ g qu
g ê ứu ở ƣớ goà
K
ệm k u vự tà
í
gia vào thị trƣờng có tầm ảnh hƣởng, hoặc có khả năng lan truyền sang các tổ chức
khác và cả thị trƣờng; (iii) những vấn đề có khả năng lan rộng đến một số lƣợng đáng
kể và các tổ chức tài chính và trên thị trƣờng thƣờng không liên quan đến quản lý nhu
cầu thanh khoản nhƣ thị trƣờng liên ngân hàng, thị trƣờng mở, và thậm chí cả thị
trƣờng cổ phiếu. Định nghĩa này tƣơng đối phức tạp, theo đó việc đánh giá rủi ro đối
với các chức năng của hệ thống tài chính và những chính sách công có thể đảm bảo sự
ổn định tài chính.
Theo Foot (2003) thì ổn định tài chính là việc (i) ổn định tiền tệ, (ii) mức việc làm
gần với tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên của nền kinh tế, (iii) sự tin tƣởng vào hoạt động nói
chung của các định chế và thị trƣờng tài chính chủ chốt; và (iv) không có sự thay đổi
đáng kể về giá của các tài sản tài chính hay tài sản thực trong nền kinh tế trong các điều
kiện (i) và (ii).
Crockett (1997) cho rằng Mất ổn định tài chính là tình trạng mà chức năng kinh
tế có xu hƣớng xấu đi bởi sự biến động giá tài sản tài chính và các định chế tài chính
không có khả năng thực hiện các trách nhiệm, nghĩa vụ đã cam kết.
Theo IMF/WB (2005), ổn định hệ thống tài chính theo nghĩa rộng là việc tránh đổ
vỡ các tổ chức tài chính với số lƣợng lớn và tránh làm gián đoạn nghiêm trọng chức
năng trung gian tài chính của hệ thống tài chính: nhƣ thanh toán, tiết kiệm, phân bổ tín
dụng, những nỗ lực để giám sát ngƣời sử dụng vốn, giảm thiểu rủi ro. Đồng thời, IMF
cho rằng ổn định tài chính có khả năng (i) nâng cao hiệu quả phân bổ các nguồn lực kinh
tế cũng nhƣ hiệu quả của các tiến trình kinh tế khác (tích lũy của cải, tăng trƣởng kinh
tế, giải quyết phúc lợi xã hội); (ii) đánh giá, quản lý các rủi ro mang tính hệ thống ; và
(iii) duy trì đƣợc khả năng thực hiện các chức năng chính nêu trên ngay cả khi bị ảnh
hƣởng bởi cú sốc bên ngoài và/hoặc bởi sự hình thành những mất cân đối lớn trong nền
kinh tế.
Theo Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS), ổn định tài chính đƣợc coi nhƣ là
không có sự bất ổn trong tình huống mà ở đó hiệu quả kinh tế có khả năng bị suy yếu
do biến động giá của các tài sản tài chính hoặc sự bất lực của các tổ chức tài chính
Về v trò ủ sự ổ đị tà
í
Theo quan điểm của phái kinh tế mới – lý thuyết tăng trƣởng kinh tế nội sinh,
Mankiw (1992), King và Levine (1993) nhấn mạnh rằng một khu vực tài chính vững
mạnh có thể thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế trong dài hạn, hỗ trợ đổi mới công nghệ,
nghiên cứu và phát triển. Một khu vực tài chính ổn định và vững mạnh không chỉ huy
động đƣợc các nguồn vốn trong nƣớc, mà còn giúp thu hút và nâng cao hiệu quả sử
dụng các nguồn vốn bên ngoài cho nền kinh tế nhƣ vốn đầu tƣ trực tiếp và vốn đầu tƣ
gián tiếp nƣớc ngoài.
Theo Durmuş Yılmaz (2007), sự thay đổi trong nhận thức của ngƣời tham gia thị
trƣờng là đặc biệt quan trọng, đồng thời xem xét các bài học rút ra từ kinh nghiệm đau
đớn của cuộc khủng hoảng trên toàn thế giới. Các nhà hoạch định chính sách nhận thấy
rằng sự bất ổn tài chính có thể gây tổn hại cho sự phát triển và gây ra những gián đoạn
nghiêm trọng, nhƣ thanh khoản thị trƣờng giảm, giá tài sản biến động mạnh và hậu quả
là gây ra khủng hoảng ngân hàng và tiền tệ. Vì vậy, hiện nay nhiều NHTW xem xét duy
trì sự ổn định tài chính nhƣ là một mục tiêu bổ sung cho sự ổn định giá cả.
Tác giả Jerome Creel (2013) nghiên cứu mối liên hệ giữa hiệu quả kinh tế và sự
ổn định tài chính trong Liên minh Châu Âu từ năm 1998 đến năm 2011. Tác giả sử
dụng các khung tiêu chuẩn về các biến và phƣơng pháp kinh tế lƣợng - của Beck và
Levine (2004) để ƣớc lƣợng các các mối quan hệ, đồng thời sử dụng các biện pháp
khác nhau của sự bất ổn tài chính (chỉ số thể chế, chỉ số vĩ mô, và chỉ số thống kê và
thấy rằng sự bất ổn tài chính có ảnh hƣởng tiêu cực đến tăng trƣởng kinh tế.
Trong khi đó, các nhà kinh tế theo quan điểm lý thuyết phát triển dựa vào ngân
hàng (the bank – based theory) thì nhấn mạnh tới vai trò của các ngân hàng thƣơng
mại (NHTM) trong quá trình tăng trƣởng kinh tế. Các nhà kinh tế theo quan điểm này
cho rằng trong giai đoạn đầu của phát triển kinh tế tại các nƣớc đang phát triển, các
NHTM không chỉ là kênh huy động vốn quan trọng đáp ứng nhu cầu tăng trƣởng kinh
tế mà còn có chức năng hỗ trợ, dẫn dắt, định hƣớng (vai trò bà đỡ) cho sự phát triển
của khu vực doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, giúp giảm thiểu các rủi ro
tài chính và tƣ vấn cho các nhà đầu tƣ. Ví dụ, Stiglitz (1985) và Bhide (1993) chỉ ra
không chỉ tác động đến một vài tổ chức đơn lẻ.
Nguồn: IMF (2013)
IMF (2013), Jan Frait, Zlatuše Komárková (2013), Jan Brockmeijer (2011) phân
chia rủi ro hệ thống theo hai khía cạnh: (i) theo thời gian hay tính thuận chu kỳ (time
dimension hay procyclical dimension) phản ánh sự tích tụ rủi ro hệ thống theo thời
gian thông qua cơ chế khuếch đại hoạt động bên trong hệ thống tài chính và giữa hệ
10
thống tài chính với nền kinh tế thực; và (ii) liên kết chéo giữa các khu vực (crosssectional dimension hay structural dimension), tức là sự phân bố rủi ro giữa các lĩnh
vực trong hệ thống tài chính tại một thời điểm nhất định.
Về nguyên nhân gây ra rủi ro hệ thống, có rất nhiều nghiên cứu về nguyên
nhân gây ra rủi ro hệ thống, bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
Hoạt động của khu vực tài chính chịu tác động của rất nhiều yếu tố bên trong và
bên ngoài khu vực tài chính. Do đó, nguyên nhân gây ra sự bất ổn của khu vực tài
chính cũng rất đa dạng và phức tạp. Một nghiên cứu quốc tế do các chuyên gia IMF
thực hiện (Shogo Ishii và Karl Habermeier, 2002) đã phân tích về nguồn gốc cơ bản
gây ra bất ổn khu vực tài chính. Theo đó, có 3 nhóm nguyên nhân chính dẫn đến sự bất
ổn của khu vực tài chính: (i) những mối liên hệ giữa khu vực tài chính và kinh tế vĩ
mô. Những mối liên hệ này có thể dẫn đến những rối loạn mang tính nội sinh cho cả
khu vực tài chính và kinh tế vĩ mô; (ii) các yếu kém về cấu trúc (structural
weaknesses): Các yếu kém về cấu trúc thƣờng đóng vai trò trọng yếu trong nhiều
trƣờng hợp xảy ra bất ổn tài chính hoặc sụp đổ hệ thống tài chính. Thực tế đã chứng
minh rằng các yếu kém này trở nên đặc biệt nguy hiểm khi một quốc gia vừa thực hiện
một sự thay đổi về cơ chế chính sách chẳng hạn nhƣ sự nới lỏng các quy định tài chính
hoặc tự do hóa tài khoản vốn; (iii) một số hình thức can thiệp nhất định của Chính phủ
vào khu vực tài chính không có lợi cho hiệu quả hoạt động và sự ổn định của khu vực
tài chính trong dài hạn.
Theo tổng kết của IMF (2013) thì nguyên nhân chủ yếu gia tăng rủi ro hệ thống
Các chỉ số này nhằm xác định sự gia tăng rủi ro trong khu vực tài chính, đặc biệt là
khu vực ngân hàng. Có sự khác biệt lớn giữa bộ chỉ số FSIs và MPIs. Bộ chỉ số MPIs
có nhiều chỉ số hơn, tổng quan hơn về các lĩnh vực và danh mục theo dõi (Adam Geršl
and Jaroslav Heřmánek, CNB, 2013).
Nhóm các chỉ số cảnh báo rủi ro hệ thống. Hệ thống cảnh báo sớm (Early
Warning System –EWS) khủng hoảng tiền tệ, ngân hàng và cán cân thanh toán. Mô
hình EWS thế hệ thứ nhất: đƣợc xây dựng và phát triển bởi Giáo sƣ kinh tế Krugman
(1979) và đƣợc phát triển bởi Flood và Garber (1984). Theo Krugman, khủng hoảng
tiền tệ là do thâm hụt ngân sách cao. Khi chi tiêu chính phủ tăng cao và đƣợc tiền tệ
hóa nó thông qua tăng trƣởng tín dụng trong nƣớc, dẫn đến lạm phát cao và đồng tiền
mất giá, do đó nhà đầu tƣ và dân có xu hƣớng găm ngoại tê. Khi đó để duy trì tỷ giá ở
mức ấn định, NHTW phải giảm dự trữ ngoại tế tới mức cạn kiệt, mất cân bằng tỷ giá
và phá giá xảy ra do sức ép của thị trƣờng.
Mô hình EWS thế hệ thứ hai: là sự nối tiếp các nghiên cứu của các Krugman và
Flood. Theo Nguyễn Phi Lân (2006), những nghiên cứu của Obstfeld (1986, 1994,
1996) cho rằng mô hình cảnh báo thế hệ thứ hai không xuất phát từ những yếu tố kinh
tế vĩ mô mà tập trung vào kỳ vọng. Mô hình này nhấn mạnh tầm ảnh hƣởng kì vọng
hiện thực hóa khủng hoảng và những rối loạn tiền tệ. Theo đó, một cuộc khủng hoảng
tiền tệ xảy ra là do: (i) Kỳ vọng gắn kết với nhau theo hƣớng gây ra khủng hoảng; (ii)
Hành vi bầy đàn một cách hợp lý; (iii) Tính lan truyền.
Các mô hình cảnh báo thế hệ thứ ba đƣợc xây dựng sau cuộc khủng hoảng tài
chính - tiền tệ Châu Á 1997 - 1998. Mô hình EWS đƣợc xây dựng bởi Kaminsky và
Reinhart (1999), là mô hình cảnh báo về khủng hoảng kép, gắn kết giữa khủng hoảng
ngân hàng và khủng hoảng tiền tệ thông qua một khu vực tài chính mong manh dễ đổ
vỡ. Theo các tác giả này, nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thƣờng là một trong những
nguyên nhân gây khủng hoảng ngân hàng nhƣng thƣờng đi trƣớc khủng hoảng tiền tệ.
Khi khủng hoảng tiền tệ xảy ra thì sẽ nhanh chóng tác động làm trầm trọng khủng
hoảng ngân hàng, kết quả là nền kinh tế rơi vào khủng hoảng kép.
Các mô hình cảnh báo thế hệ thứ tƣ: Các mô hình EWS ở cả ba thế hệ trƣớc đều
phản ánh các yếu tố kinh tế nhƣ: chỉ số CPI, tăng trƣởng kinh tế, thâm hụt ngân sách,
g ĩ
í s
toà vĩ mô
Để đảm bảo ổn định khu vực tài chính, nhiều nghiên cứu cho rằng có thể sử dụng
các công cụ chính sách nhƣ chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, chính sách an toàn
vi mô, và chính sách an toàn vĩ mô. Tuy nhiên, các chuyên gia IMF, WB và nhiều tổ
chức khác đều cho rằng chính sách an toàn vĩ mô là chính sách điển hình nhất để thực
hiện mục tiêu ổn định tài chính hiệu quả. Do đó luận án sẽ đi sâu nghiên cứu các tài
liệu liên quan đến chính sách này.
IMF (2011), IMF, FSB và BIS (2009) định nghĩa chính sách an toàn vĩ mô là
việc sử dụng chủ yếu các công cụ thận trọng để hạn chế các rủi ro hệ thống. Các rủi ro
gây ra sự gián đoạn trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính bắt nguồn từ sự đổ vỡ
của tất cả hoặc một phần của hệ thống tài chính, và có thể gây ra những hậu quả tiêu
cực nghiệm trọng đối với nền kinh tế thực. Bằng cách giảm thiểu rủi ro hệ thống,
chính sách an toàn vĩ mô nhằm đạt đƣợc mục đích cuối cùng là giảm tầm suất và mức
độ nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng tài chính.
Về mụ t êu í s
toà vĩ mô
Cùng chung quan điểm trên, theo Gabriele Galati and Richhild Moessner (2011),
chính sách an toàn vĩ mô là nhằm hạn chế các rủi ro và chi phí của các cuộc khủng
hoảng mang tính hệ thống.
Theo IMF (2013) chính sách an toàn vĩ mô làm tăng khả năng phục hồi của hệ
thống tài chính để tổng hợp các cú sốc hệ thống, bằng cách xây dựng bộ đệm hấp thu
tác động và giúp duy trì khả năng của hệ thống tài chính để cung cấp tín dụng cho nền
kinh tế. Thứ hai, nó có thể giúp hạn chế sự gia tăng của các rủi ro hệ thống theo thời
gian, bằng cách giảm tính ngƣợc chu kỳ giữa giá tài sản và tín dụng và tăng không bền
vững các khoản tài trợ đòn bẩy và không ổn định. Thứ ba, theo cấu trúc, chính sách an
toàn vĩ mô có thể kiểm soát sự gia tăng của các nguy cơ dễ bị tổn thƣơng trong hệ
thống tài chính. FSB, BIS, IMF (2011) khẳng định mục tiêu của chính sách an toàn vĩ
mô là nhằm ngăn ngừa rủi ro hệ thống lan truyền qua hệ thống tài chính mà có thể gây
sản; và (3) các công cụ liên quan đến thanh khoản.
Về mô ì tổ ứ gắ vớ ổ đị k u vự tà
í (C
ơ qu
t ự t ổ đị tà
í )
Theo Erlend W.Nier al et. (2011), có 7 mô hình tổ chức cho chính sách an toàn vĩ
mô dựa trên 5 tiêu chí: mức độ tích hợp về cơ chế tổ chức của NHTW và các cơ quan
giám sát ; Sở hữu nhiệm vụ chính sách an toàn vĩ mô; Vai trò của Bộ Tài chính/ Bộ
Ngân khố/ Chính phủ; Sự phân tách giữa quyết định chính sách và giám sát công cụ
điều hành ; và tồn tại một cơ quan riêng biệt thực hiện nhiệm vụ điều phối chính sách.
Tác giả tóm tắt 7 mô hình trên thành 4 nhóm mô hình cơ bản: (1) chính sách an toàn vĩ
mô với trách nhiệm đƣợc chia sẻ; (2) chính sách an toàn vĩ mô đƣợc giao cho NHTW,
tách bạch với an toàn vi mô (Nhật Bản, Indonesia), (3) NHTW là cơ quan vừa giám sát
an toàn vĩ mô và vừa giám sát an toàn vi mô; (4) hình thành một cơ quan độc lập với
nhiệm vụ giám sát an toàn vĩ mô.
Theo IMF (2013), để thực hiện chính sách an toàn vĩ mô nói riêng và ổn định tài
chính nói chung, hiện nay có 3 mô hình cơ bản:
Mô hình 1: Nhiệm vụ an toàn vĩ mô đƣợc giao cho NHTW với quyết định cuối
cùng thuộc về Thống đốc NHTW (nhƣ trƣờng hợp Cộng hòa Séc).
Mô hình 2: nhiệm vụ an toàn vĩ mô đƣợc giao cho một ủy ban chuyên dụng bên
trong hệ thống ngân hàng (nhƣ ở Anh).
14
Mô hình 3: Nhiệm vụ an toàn vĩ mô đƣợc giao cho một ủy ban bên ngoài
NHTW, trong đó có sự tham gia của NHTW (nhƣ trƣờng hợp ở Úc, Áo, Mỹ).
K
NHTW và chính phủ có thể tránh đƣợc cuộc khủng hoảng đó.
Theo Diana Yumanita (2011), Bank Indonesia (đã sử dụng các chỉ số an toàn vĩ
mô và các chỉ số khác nhƣ một phần của hệ thống cảnh báo sớm (Early Warning
System- EWS) để giám sát sự ổn định tài chính. Dữ liệu cảnh báo sớm đƣợc báo cáo
thƣờng xuyên cho Hội đồng thống đốc và đƣa ra báo cáo ổn định tài chính hàng tuần.
Ở mức độ tổng thể hơn, một công cụ chủ yếu đƣợc BI sử dụng để đánh giá ổn định tài
chính là các chỉ số ổn định tài chính (FSI). Ngoài ra, BI cũng tiến hành kiểm tra sức
chịu đựng và tiến hành khảo sát một cách thƣờng xuyên. Ở mức độ vi mô, các chỉ số
an toàn vi mô đƣợc sử dụng để giám sát các rủi ro tín dụng, rủi ro thị trƣờng, rủi ro
thanh khoản và rủi ro hệ thống nhằm ngăn chặn sự lan truyền có thể ảnh hƣởng đến hệ
thống tài chính, doanh nghiệp và hộ gia đình. NHTW Indonesia cũng theo dõi các chỉ
15
số kinh tế vĩ mô để đo lƣờng sự ổn định tài chính. Các chỉ số an toàn vi mô đƣợc sử
dụng bổ sung, đây là các chi số hữu ích để đo lƣờng sức khỏe các tổ chức tín dụng.
Kinh nghiệm của Hàn Quốc: Theo NHTW Hàn Quốc (Bank of KoreaBOK), Luật Ngân hàng Hàn Quốc sửa đổi tháng 12/2011 đƣa thêm nhiệm vụ ổn định
tài chính vào chức năng/nhiệm vụ của NHTW Hàn Quốc. Sự thay đổi này đã xác nhận
chính sách an toàn vĩ mô nhƣ một chính sách mới bên cạnh chính sách tiền tệ truyền
thống của NHTW Hàn Quốc (BOK). Tiếp đó, BOK thành lập Vụ Phân tích Vĩ mô và
nỗ lực tập trung vào việc đƣa ra khuôn khổ giám sát các điều kiện an toàn vĩ mô, làm
cơ sở cho việc thực thi chính sách. Báo cáo Ổn định tài chính (FSR) đƣợc trình cho
Quốc hội. BOK theo dõi an toàn vĩ mô một cách toàn diện và có hệ thống. Đặc biệt
BOK tăng cƣờng chức năng của FSR trong việc cung cấp cảnh bảo sớm và đề xuất
việc lựa chọn chính sách cho cơ quan cấp trên. Choongsoo Kim (2014) nghiên cứu hệ
thống mô hình đánh giá rủi ro đối với chính sách an toàn vĩ mô (SAMP) là một phân
tích định lƣợng tiêu chuẩn hóa mô hình theo dõi và đánh giá khả năng phục hồi của hệ
thống tài chính trong trƣờng hợp có các cú sốc từ bên ngoài. Kể từ khi cuộc khủng
hoảng, sự biến động về vốn tăng lên nhanh chóng do thực hiện lãi suất bằng không (0)
và gói nới lỏng định lƣợng (QE) của các nền kinh tế lớn. Để đối phó với những điều