Thực hiện công bằng xã hội với việc phát triển nguồn nhân lực ở việt nam hiện nay - Pdf 42

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

PHAN HUY TRƯỜNG

THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI
VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG
VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ
Mã số: 62 22 03 02

HÀ NỘI - 2017


Công trình được hoàn thành
tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học:

1. PGS.TS. NGUYỄN MINH HOÀN

2. PGS.TS. ĐẶNG QUANG ĐỊNH

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:


Trên thế giới hiện nay, trong sự phát triển của các quốc gia lợi thế so
sánh của sự phát triển nhanh và bền vững đang chuyển dần từ yếu tố giàu
về tài nguyên, tiền vốn, giá nhân công rẻ sang lợi thế về trình độ trí tuệ của
con người và về phát huy vai trò của nguồn nhân lực (NNL) trong tiến
trình phát triển đó. Vì vậy, phát triển NNL đang trở thành một yêu cầu
quan trọng, là nguồn tài sản quý giá, là nhân tố góp phần đem lại sự tăng
trưởng, phát triển kinh tế của mọi quốc gia, điều này được minh chứng qua
mô hình tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan,
Sinhgapo….và một số nước khác trên thế giới. Bởi thế, phát huy vai trò
NNL trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội đang trở thành vấn đề
chiếm vị trí trọng tâm trong hệ thống các nguồn lực trong sự phát triển của
các quốc gia, trong đó có Việt Nam.
Trong thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, thực hiện
CBXH đang trở thành một nội dung cơ bản trong đời sống kinh tế - xã hội
và đặc biệt thực hiện CBXH với việc phát triển NNL đang đặt ra những
vấn đề lý luận và thực tiễn bức thiết. Nếu không giải quyết tốt vấn đề này,
nó sẽ là trở lực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung.
Tại sao việc thực hiện CBXH, việc phát triển NNL và việc thực hiện
CBXH đối với phát triển NNL xuất hiện những vấn đề phức tạp, nó có là
trở lực đối với sự phát triển đất nước hay không? Liệu có thể thực hiện
CBXH đối với phát triển NNL trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường,
trong điều kiện thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,
HĐH), hướng tới phát triển kinh tế tri thức, trong điều kiện số lượng NNL


2

đang tăng nhanh, trong điều kiện nước ta đang được hưởng lợi từ “dân số
vàng” hay không? Để giải đáp câu hỏi này một vấn đề cấp thiết khác cũng
đang được đặt ra trong thực hiện công bằng xã hội đối với việc phát triển

thực hiện công bằng xã hội về cơ hội đối với việc phát triển NNL.
- Nghiên cứu thực hiện công bằng về cơ hội đối với việc phát triển
nguồn nhân lực ở Việt Nam trong giai đoạn từ 1986 đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận án dựa trên hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về thực hiện


3

CBXH, về phát triển NNL và thực hiện CBXH với việc phát triển NNL.
Ngoài ra, luận án còn kế thừa và phát triển những quan điểm lý luận của các
nhà khoa học trong nước và thế giới về những nội dung có liên quan.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận điểm mang tính nguyên tắc
phương pháp luận trong tư tưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở phương pháp
luận định hướng cho quá trình nghiên cứu, thực hiện nhiệm vụ của luận án.
- Luận án kết hợp với việc sử dụng phương pháp: khái quát hoá, trừu
tượng hoá, kết hợp lịch sử - lôgic, phân tích - tổng hợp, quy nạp - diễn
dịch, hệ thống - cấu trúc, phân tích....để triển khai nhiệm vụ đề ra.
5. Đóng góp về khoa học của luận án
Với tư cách là một công trình nghiên cứu từ góc độ triết học, từ quan
điểm duy vật biện chứng và quan điểm duy vật lịch sử về thực hiện CBXH
với việc phát triển NNL, luận án có những điểm mới sau:
- Phân tích và đánh giá khái quát về thực trạng vai trò thực hiện
CBXH với việc phát triển NNL trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở
Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất một giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao vai trò của thực hiện

niệm về CBXH, chỉ ra cách thức trong việc thực hiện CBXH, các nguyên
tắc nhằm thực hiện CBXH, đề cập đến nguyên tắc phân phối nhằm thực
hiện CBXH, tiêu biểu cho xu hướng nghiên cứu này có các công trình như:
"Công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội" của tập thể tác
giả Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn, Trần Văn Đoàn, Utrich Dornberg;
"Một số vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh việc thực hiện công bằng
xã hội ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Lê Hữu Tầng; "Công bằng xã hội
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" của tác giả
Phạm Xuân Nam; "Công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa" của tác giả Nguyễn Duy Quý; "Công bằng
xã hội ở Việt Nam: nhận diện và giải pháp thực hiện" của tác giả Đỗ Huy;
"Những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội trong điều kiện nước ta
hiện nay" của tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm; "Công bằng xã hội và phát
triển con người bền vững" của tác giả Phạm Thành Nghị; "Công bằng xã
hội trong tiến bộ xã hội" của tác giả Nguyễn Minh Hoàn; "Công bằng xã
hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" của tác
giả Nguyễn Duy Quý......
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực
Phát triển NNL, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao (NNL
CLC) là một trong ba khâu đột phá chiến lược. Nghiên cứu nhằm chỉ ra
nhiệm vụ, cách thức nhằm phát huy vai trò NNL, quan niệm về NNL, vai
trò của NNL trong phát triển kinh tế - xã hội, trong tiến trình đẩy mạnh
CNH, HĐH, phát huy NNL trong nền kinh tế thị trường, trong phát triển
hướng tới kinh tế tri thức, tiêu biểu như các công trình nghiên cứu: "Phát
triển nguồn nhân lực: kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta" của Trần
Văn Tùng, Lê Ái Lâm, "Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào
công nghiệp hóa, hiện đại hóa " của tác giả Phạm Minh Hạc; "Nghiên cứu
con người và nguồn nhân lực: Niên giám nghiên cứu số 3" của Phạm Minh
Hạc, Phạm Thành Nghị và Vũ Minh Chi; "Nghiên cứu văn hoá, con người,
nguồn nhân lực đầu thế kỷ XXI" của Nhiều tác giả: có các công trình "Vấn

của tác giả Đỗ Huy; trong cuốn: "Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng
xã hội ở Việt Nam" của tác giả Hoàng Đức Thân, Đinh Quang Ty, là kết quả
công trình nghiên cứu của đề tài KX 04.19/06-10 về "Quan điểm và giải
pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội
ở nước ta", do tác giả Hoàng Đức Thân làm chủ nhiệm;...
1.3. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUAN
ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ THỰC HIỆN CÔNG
BẰNG XÃ HỘI VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC

Thực tiễn đời sống kinh tế - xã hội, vai trò của thực hiện CBXH với
việc phát triển NNL có vấn đề đặt ra, những tồn tại cần xem xét, yêu cầu
đặt ra nghiên cứu để đưa ra giải pháp nhằm phát huy vai trò thực hiện
CBXH với việc phát triển NNL trong thực tiễn Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: "Thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa",
Tạp chí Xã hội học, số 3, 2004, tác giả Phạm Xuân Nam; Cuốn sách "Công


6

bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết xã hội", Nxb khoa học xã hội,
Hà Nội, 2008, của tập thể tác giả Phạm Văn Đức, Đặng Hữu Toàn, Trần
Văn Đoàn, Utrich Dornberg; Trong bài viết "công bằng xã hội ở Việt Nam:
nhận diện và giải pháp thực hiện" của tác giả Đỗ Huy, Tạp chí Triết học,
số 5, 2008; Trong cuốn sách "nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp
ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999,
của tác giả Mai Quốc Chánh. Trong cuốn "định hướng phát triển đội ngũ
trí thức Việt Nam trong CNH, HĐH", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2001, của tác giả Phạm Tất Dong; Trong tác phẩm "Nguồn nhân lực và
nhân tài cho phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam

NGUỒN NHÂN LỰC - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
2.1. THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

2.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về thực hiện công bằng xã hội
Quan điểm chủ nghĩa Mác chỉ ra rằng, trong một hình thái kinh tế xã hội không chỉ có một loại hình quan hệ sản xuất nhất định, mà thường
tồn tại nhiều loại hình quan hệ sản xuất khác nhau và bao giờ cũng có một
loại hình quan hệ sản xuất chủ đạo, gắn liền với nó là một nguyên tắc phân
phối chủ đạo, nguyên tắc phân phối chủ đạo nào mà đảm bảo CBXH và
thực hiện CBXH với nghĩa là hưởng thụ tương xứng với cống hiến, sự
cống hiến đó mang lại hiệu quả kinh tế cho nền sản xuất xã hội cao hơn,
khi đó, nguyên tắc phân phối ấy sẽ góp phần to lớn vào việc giải phóng
con người khỏi sự bất công và bất bình đẳng xã hội.


8

Theo quan điểm của các nhà tư tưởng C.Mác và Ph.Ăngghen, muốn
có CBXH thực sự, đảm bảo thực hiện CBXH thực sự trong đời sống thì
phải thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động, phải thực hiện phân
phối đúng với giá trị của sức lao động. Nhưng sự phân phối đó chẳng
những chưa loại trừ sự bất công mà vẫn còn hàm chứa trong nó việc chấp
nhận một tình trạng bất bình đẳng nhất định giữa các thành viên trong xã
hội, "Đó vừa là ưu việt, vừa là thiếu sót của nguyên tắc phân phối theo lao
động - một thiếu sót, theo C.Mác, là không thể tránh khỏi trong giai đoạn
đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa"
Vận dụng quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về CBXH, về thực
hiện CBXH vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
từng bước thực hiện CBXH phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn.
Theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, CBXH và thực hiện


Chúng ta cần khẳng định về NNL: Một là, số lượng NNL (có bao
nhiêu và sẽ có bao nhiêu người nữa trong tương lai). Hai là, chất lượng
NNL (trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, năng lực
thẩm mỹ, kinh nghiệm sống… của người lao động. Ba là, cơ cấu NNL (cơ
cấu thể hiện các phương diện khác nhau như trình độ đào tạo, dân tộc, giới
tính, độ tuổi…
Theo quan điểm của tôi có thể khái quát quan niệm về NNL:
Theo phạm vi rộng: NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho nền
sản xuất xã hội với tư cách là yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất, giữ
vai trò quan trọng nhất, là nguồn lực cơ bản, nguồn lực vô tận của sự phát
triển kinh tế - xã hội, là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng; là bộ
phận dân số trong độ tuổi lao động với những tiềm năng, sức mạnh trong
cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội.
Theo phạm vi hẹp: NNL là lực lượng lao động của xã hội, nguồn lực
cho sự phát triển kinh tế - xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi
lao động (từ 15 - 55 tuổi đối với nữ, từ 15 - 60 tuổi đối với nam), có khả
năng tham gia vào quá trình lao động, sản xuất của xã hội, là toàn bộ cá
nhân có thể tham gia vào quá trình lao động, gắn liền với cá nhân đó là
tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực, tâm lực của họ, được phát huy trong
quá trình lao động, sản xuất, kinh doanh tạo ra của cải cho xã hội.
2.2.2. Khái quát lý luận về phát triển nguồn nhân lực
Trong thực tiễn hoạt động kinh tế - xã hội, nền kinh tế Việt Nam hiện
nay đang hưởng lợi từ "cơ cấu dân số vàng", trong tiến trình phát triển kinh
tế - xã hội. Với Việt Nam đang đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH và hướng
tới phát triển kinh tế tri thức, đặt ra yêu cầu cần phải đẩy mạnh việc hình
thành, phát triển nhanh NNL về quy mô, về số lượng, về trình độ, kỹ năng,
có chất lượng, với số lượng hợp lý đáp ứng yêu cầu nền kinh tế đang đặt ra.
Theo tôi có thể khái quát về phát triển NNL:
Thứ nhất, phát triển NNL về số lượng được quy định bởi quy mô dân

Thực hiện CBXH gắn với lợi ích của chủ thể là người lao động, sẽ
thúc đẩy NNL phát triển, thúc đẩy NNL tham gia vào hoạt động kinh tế xã hội, góp phần thực hiện tốt, hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội. Thước đo của thực hiện CBXH đó là cái để "ngăn chặn" và "trừng
phạt" những cá nhân vi phạm quan hệ lợi ích chung và lợi ích riêng trong
đời sống kinh tế - xã hội.
Tiêu chí để xác định vai trò thực hiện công bằng về cơ hội đối với sự
phát triển của NNL trong thực tiễn kinh tế - xã hội là hiệu quả kinh tế, hiệu
quả xã hội mà NNL thực hiện trong thực tiễn kinh tế - xã hội, hiệu quả đó
có góp phần tạo sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế.
2.3.2. Thực hiện công bằng xã hội đối với việc phát triển nguồn
nhân lực ở Việt Nam góp phần thúc đẩy sự phát triển của lực lượng
sản xuất
Trong tiến trình xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà
nước ta luôn khẳng định: CBXH thể hiện cả ở khâu phân phối hợp lý tư
liệu sản xuất, lẫn khâu phân phối kết quả sản xuất, cũng như ở điều kiện
phát triển năng lực của mọi thành viên trong cộng đồng.
Trong việc thực hiện phân phối tư liệu sản xuất, đối tượng phân phối
chính là các chủ thể trong nền kinh tế, thực hiện CBXH gắn liền với quan
hệ phân phối về vốn, tư liệu sản xuất được thực hiện và đảm bảo trên cơ sở
thước đo hiệu quả kinh tế và thước đo hiệu quả xã hội, sẽ tạo cơ hội, điều
kiện cho các chủ thể phát huy năng lực, sở trường của mình.
Thực hiện phân phối công bằng tư liệu sản xuất, tất yếu sẽ kéo theo
việc phân bổ nguồn lao động của xã hội gắn liền với tư liệu sản xuất đó
phù hợp hơn, đưa đến kết quả nền kinh tế đạt năng suất cao, thúc đẩy lực
lượng sản xuất của xã hội phát triển.


11

Thực tiễn phát triển kinh tế thị trường Việt Nam, Nhà nước và thị

vào bộ máy quản lý công, do đó, chúng ta cần phải thực hiện công bằng về
cơ hội trong môi trường làm việc, để thu hút đội ngũ trí thức này.
Trong thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội đang đặt ra yêu cầu là phải
sử dụng hiệu quả NNL CLC ở trong nước, thực hiện theo hướng đảm bảo
công bằng trong các chính sách tiền lương, tiền công, chính sách bảo hiểm,
các chế độ khác…từ đó sẽ thu hút có hiệu quả NNL CLC trong nước tham
gia tích cực vào quá trình hoạt động kinh tế - xã hội.
Thực hiện CBXH nhằm nâng cao chất lượng NNL, định hướng phát
triển NNL CLC và tác động đến quá trình phát huy các tố chất của NNL
CLC trong thực tiễn hoạt động kinh tế - xã hội Việt Nam, như: tố chất dân
tộc, tố chất thích ứng, tố chất sáng tạo.


12

Chương 3
THỰC TRẠNG VAI TRÒ THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI VỚI
VIỆC PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.1. TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN CÔNG BẰNG VỀ CƠ
HỘI TRONG MỘT SỐ LĨNH VỰC CƠ BẢN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC

3.1.1. Tác động của việc thực hiện công bằng về cơ hội trong lĩnh
vực kinh tế đối với phát triển nguồn nhân lực
Trong thực tiễn kinh tế - xã hội, thực hiện công bằng về cơ hội diễn
ra trong các lĩnh vực khác nhau, lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực xã hội, các khía
cạnh của đời sống xã hội, đối với hoạt động của con người…trong đó, thực
hiện công bằng về cơ hội trong lĩnh vực kinh tế đối với NNL mang tính
trực tiếp và mạnh mẽ hơn cả.
Sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế của một quốc gia sẽ tạo cơ

kiện công bằng giữa các vùng miền, các tầng lớp nhân dân trong việc tham
gia vào hoạt động kinh tế.
Tác động của thực hiện công bằng về cơ hội trong sự vận động cơ
cấu kinh tế tác động đến cơ cấu NNL, đã tạo cơ hội, điều kiện để cơ cấu
NNL chuyển dịch một cách khách quan, hợp lý, phù hợp.
Thực hiện công bằng về cơ hội trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
thành phần kinh tế, vùng kinh tế còn góp phần làm giảm khoảng cách về
mức hưởng thụ các thành quả kinh tế - xã hội của nhân dân, giữa các vùng,
miền trong cả nước.
Thực hiện công bằng về cơ hội gắn liền với việc tiến hành quy
hoạch, xác định lại cơ cấu kinh tế theo hướng khai thác tiềm năng, thế
mạnh của từng vùng, từng địa phương về đất đai, tài nguyên thiên nhiên,
lao động và địa kinh tế, tạo điều kiện các vùng đó khai thác thế mạnh một
cách hợp lý hơn, hiệu quả hơn.
Tác động của thực hiện công bằng về cơ hội trong thực hiện chính
sách đầu tư phát triển các vùng miền, nên đã tạo điều kiện phân bổ nguồn
lực, trong đó có sự phân bổ NNL giữa các vùng.
Quá trình tác động đó đã dần dần hình thành cơ cấu lao động hợp lý
và cơ cấu kinh tế phù hợp cho mỗi vùng và liên vùng; tạo ra sự cạnh tranh,
liên kết về lực lượng lao động giữa các vùng trong cả nước.
Thực hiện công bằng về cơ hội đối với việc phát triển NNL trong
điều kiện Nhà nước từng bước đổi mới chế độ tiền lương, quy định ngày
càng rõ hơn mức lương tối thiểu cho từng khu vực, xây dựng các bậc,
ngạch, thang bậc lương hợp lý, tạo điều kiện cho NNL tìm kiếm việc làm,
tự tạo việc làm, khơi dậy tính năng động và sáng tạo của các chủ thể trong
nền kinh tế, khuyến khích các chủ thể đóng góp nhân lực, vật lực, tài lực
cho hoạt động của nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển.
3.1.2. Tác động của việc thực hiện công bằng về cơ hội trong lĩnh
vực giáo dục, đào tạo đối với phát triển nguồn nhân lực
Trong lĩnh vực đào tạo, thực hiện công bằng về cơ hội nhằm thúc đẩy

doanh hay cơ sở sử dụng NNL được đào tạo đó.
Vai trò thực hiện công bằng về cơ hội trong giáo dục, đào tạo tác
động đến sự phát triển NNL là trực tiếp góp phần thực hiện thành công
mục tiêu giáo dục nói riêng, phát triển kinh tế - xã hội nói chung, góp phần
thúc đẩy NNL phát triển, phát triển lực lượng sản xuất của xã hội.
3.1.3. Tác động của việc thực hiện công bằng về cơ hội trong điều
kiện phát huy dân chủ trong đời sống xã hội đối với phát triển NNL
Thực hiện công bằng về cơ hội không chỉ tác động trong lĩnh vực
kinh tế, trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo mà nó còn tác động mạnh mẽ
trong điều kiện thực hiện và phát huy dân chủ của đời sống xã hội.
Trong đời sống xã hội, thực hiện công bằng về cơ hội đối với việc
phát triển của NNL trong môi trường dân chủ bao giờ cũng tồn tại gắn liền
với một hình thức nhà nước, trong điều kiện đó mọi thành viên của xã hội
có quyền tham gia vào việc ra quyết định về các vấn đề liên quan trực tiếp
đến đời sống của mình.
Thực hiện công bằng về cơ hội trong quá trình phát huy dân chủ
trong lĩnh vực đời sống xã hội tác động tới sự phát triển NNL, đó là:
Đối với việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm tất cả
quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Thực hiện công bằng về cơ
hội có tác dụng to lớn trong việc phát huy vai trò dân chủ của người lao
động, người lao động được tạo điều kiện, cơ hội, tức là có môi trường dân
chủ để thực hiện quyền đầy đủ nhất quyền làm chủ của mình, có nghĩa vụ
thực hiện quyền đó.


15

Phát huy hiệu quả hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện,
tác động trực tiếp trong các lĩnh vực của đời sống xã hội tới người lao
động, đảm bảo quyền dân chủ của người lao động trong đời sống.

3.2.1. Những thành tựu của thực hiện công bằng xã hội đối với
việc phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay
Tác động của vai trò đó thúc đẩy NNL vận động, phát triển, hình
thành cơ cấu NNL hợp lý, đáp ứng yêu cầu sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng CNH, HĐH, theo hướng phát triển kinh tế thị trường, thúc đẩy
nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh, hội nhập kinh tế quốc tế hiệu quả.
Thành tựu đạt được bước đầu trong quá trình phát triển của đất nước
khẳng định thực hiện công bằng về cơ hội tác động đến sự phát triển NNL,


16

đã tạo động lực thúc đẩy phát triển NNL, thể hiện sự tăng lên nhanh chóng
của lực lượng lao động, sự chuyển dịch cơ cấu lao động gắn liền với
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Kết quả là tỷ trọng lao động trong nông nghiệp
giảm, tỷ trọng lao động trong công nghiệp, dịch vụ tăng lên, nền kinh tế
đạt tốc độ tăng trưởng tương đối cao.
Cùng với những tác động tích cực nói trên, thực hiện công bằng về
cơ hội còn từng bước định hướng cho hình thành, phát triển NNL CLC, tạo
động lực hơn nữa trong việc thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, phát
triển kinh tế ở Việt Nam, làm cho nền kinh tế Việt Nam tham gia tích cực
và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng hiệu quả.
Có thể thấy rằng, tác động của thực hiện công bằng về cơ hội đến
NNL không chỉ tác động đối với nguồn cung (tức là từ chính bản thân
NNL) của NNL mà còn tác động tới cả yếu tố cầu của NNL trong thị
trường lao động.
Thực hiện công bằng về cơ hội đối với sự phát triển của NNL, kết
quả là tỷ lệ cơ cấu NNL vận động theo hướng tích cực, NNL phát triển về
số lượng và chất lượng. Thể hiện, tỷ lệ lao động trong nông nghiệp ngày
một giảm, lao động công nghiệp, dịch vụ ngày một tăng gắn liền với sự

tương xứng, chưa phù hợp, NNL phát triển có phần "lệch" so với cơ cấu
nền kinh tế, hiện tượng thừa, thiếu NNL trong nền kinh tế.
Nền kinh tế vẫn tồn tại số lượng tương đối nhiều về số lượng NNL
được đào tạo, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ bị “dư thừa”, số lượng
người lao động có trình độ nhưng không tìm kiếm được việc làm, số lượng
lao động bị thất nghiệp, một bộ phận NNL chưa được khai thác, chưa sử
dụng hiệu quả trong thực tiễn hoạt động của nền kinh tế.
Cùng với tác động của thị trường lao động, tác động của thực hiện
công bằng về cơ hội đến NNL, kết quả làm cho NNL không chỉ tăng lên về
số lượng mà còn nâng cao về chất lượng, NNL qua đào tạo ngày càng
tăng, thực tế hoạt động kinh tế còn một tỷ lệ lớn lao động đã được đào tạo
về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ chưa có việc làm, đó là hạn chế
Thực hiện công bằng về cơ hội tác động trong điều kiện tồn tại thị
trường lao động, đã dẫn đến hệ quả là NNL phát triển chưa phù hợp với
yêu cầu của nền kinh tế, một bộ phận NNL dư thừa.
Thực hiện công bằng về cơ hội tác động gắn với tác động mang tính
định hướng của Nhà nước và của thị trường đến sự vận động, phát triển
của NNL trong nền kinh tế, kết quả là một tỷ lệ lực lượng lao động phát
triển chưa phù hợp với sự thay đổi của cơ cấu kinh tế, sự chuyển dịch cơ
cấu lao động trong nền kinh tế vẫn còn diễn ra chậm, là hiện tượng thừa,
thiếu việc làm.
Thực hiện công bằng về cơ hội tác động đến sự phát triển NNL CLC,
một mặt làm cho NNL CLC phát triển tương đối nhanh chóng, thực tế, tỷ
trọng của nhân lực chất lượng cao trong tổng số NNL còn thấp so với yêu
cầu của nền kinh tế hiện nay, sự tăng lên của NNL CLC so với yêu cầu của
sự phát triển kinh tế - xã hội còn hạn chế và so với yêu cầu của sự phát
triển lực lượng sản xuất nước ta còn thiếu.
Nền kinh tế Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với vấn đề thiếu lao
động kỹ thuật cao, lao động trình độ cao, đặc biệt là thiếu lao động kỹ
thuật cao thuộc các lĩnh vực mũi nhọn. Trong đó, lao động có thể thay thế

nghĩa, việc Việt Nam từng bước tạo dựng môi trường đầu tư, kinh doanh
công bằng, thuận lợi, nền kinh tế đã huy động mọi thành phần, mọi chủ thể
tham gia phát triển kinh tế, đây cũng là nguyên nhân mang tính khách
quan đem lại những thành tựu nói trên.
Với việc nước ta thực hiện hoàn thiện phát triển thị trường lao động,
đảm bảo đồng bộ liên thông, minh bạch và tạo thuận lợi cho việc tự do
dịch chuyển lao động. Phát triển mạnh thị trường nhân lực chất lượng cao,
nhất là lao động kỹ thuật và nhân lực quản trị kinh doanh, nên đã tạo cơ
hội, điều kiện phát huy vai trò NNL tham gia phát triển kinh tế. Đây là
nguyên nhân đưa lại thành tựu.
Bên cạnh những thành tựu đạt được trong tiến trình phát triển kinh tế
- xã hội, tác động của vai trò thực hiện công bằng về cơ hội còn dẫn đến
những hạn chế và hệ quả đối với đời sống của người lao động trong quá
trình tham gia phát triển kinh tế - xã hội.
Chưa tạo ra nhiều đột phá về thể chế để huy động, phân bổ và sử
dụng có hiệu quả nguồn lực phát triển trong điều kiện hoạt động của cơ
chế thị trường.


19

Trong điều kiện tồn tại thị trường lao động, tác động của thực hiện
công bằng về cơ hội làm cho NNL phát triển bất hợp lý, đây là nguyên
nhân đưa đến hạn chế.
Nguyên nhân gắn với vai trò thực hiện công bằng về cơ hội nhằm
thúc đẩy hình thành, phát triển NNL CLC, còn nhiều bất cập, việc sử dụng
NNL CLC trong hoạt động kinh tế - xã hội nước ta chưa hiệu quả.
Nguyên nhân cho thấy việc sử dụng nhân lực có trình độ chuyên môn
kỹ thuật không đúng với ngành nghề được đào tạo, không đúng hoặc dưới
khả năng được đào tạo còn phổ biến. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự phát


20

Cần thực hiện một số quan điểm chỉ đạo sau: Một là, kết hợp các
mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trên bình diện cả nước cũng như ở
từng lĩnh vực, từng địa phương. Hai là, thực hiện tiến bộ và CBXH ngay
trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển và trong từng chính sách
phát triển.
Trong đó, vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là sự thể hiện rõ nét
định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đảm bảo cho việc thực hiện CBXH.
Khẳng định vai trò quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước
cần thực hiện tốt các chức năng sau: Một là, định hướng sự phát triển bằng
các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn
trọng các nguyên tắc của thị trường, đảm bảo cho thị trường phát triển lành
mạnh. Hai là, Nhà nước tạo môi trường pháp lý và cơ chế, chính sách
thuận lợi để nhằm phát huy các nguồn lực xã hội cho phát triển. Ba là, Nhà
nước hỗ trợ phát triển, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
quan trọng, xây dựng hệ thống chính sách xã hội phục vụ yêu cầu của sự
phát triển ngày càng cao của nền kinh tế thị trường nước ta, nhằm hạn chế
mức thấp nhất các rủi ro do tác động của cơ chế thị trường. Bốn là, Nhà
nước bảo đảm tính bền vững và tính tích cực của các cân đối kinh tế vĩ mô,
hạn chế các rủi ro và tác động tiêu cực của cơ chế thi trường. Nhà nước sử
dụng các công cụ điều tiết của mình như công cụ pháp luật, chính
sách…..để nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của các cân đối vĩ mô, từ
đó tạo ra xu hướng phát triển tích cực của nền kinh tế.
4.1.2. Đảm bảo "thực hiện công bằng xã hội trong từng bước và
trong từng chính sách phát triển" nhằm phát huy vai trò của NNL
tham gia hoạt động kinh tế - xã hội
Trong tiến trình phát triển đất nước hiện nay, thực hiện tiến bộ và

NNL, góp phần thúc đẩy phát triển NNL, từng bước hình thành cơ cấu
NNL ngày càng hợp lý, phù hợp với cơ cấu kinh tế, tạo động lực phát triển
lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam.
Vai trò thực hiện công bằng xã hội được phát huy trong:
Việc thực hiện các chính sách cho sự phát triển thị trường lao động:
như việc thực hiện hỗ trợ chi trả cho lao động dôi dư, cho vay vốn giải
quyết việc làm, phát triển hệ thống các trung tâm dịch vụ việc làm cung
cấp thông tin về thị trường lao động…. góp phần hình thành thị trường lao
động với cơ chế hoạt động minh bạch, công bằng, hiệu quả, nên tạo nhiều
cơ hội, điều kiện khách quan cho người lao động trong việc tìm, tạo việc
làm, đã kích thích cầu về lao động và giảm sức ép về việc làm trong nền
kinh tế.
Trong điều kiện thực hiện các chính sách cho phát triển thị trường
lao động và với việc thực hiện xây dựng theo lộ trình về ngạch, bậc của
công chức, viên chức hành chính sự nghiệp ngày càng tăng, làm cho mức
độ chênh lệch về tiền lương giữa hành chính sự nghiệp và khu vực sản
xuất, kinh doanh, giữa các doanh nghiệp giảm.
Thực hiện đối với công tác di dân, tạo nên sự phát triển hợp lý của
NNL, bù đắp sự thiếu hụt về NNL trong nền kinh tế.
Trong việc thực hiện cải cách hành chính và thực hiện cơ chế, chính
sách để nhằm phát triển và hoàn thiện cơ cấu NNL
Tạo cơ hội và điều kiện cho các doanh nghiệp, người sử dụng lao
động, nhất là doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân phát triển sản
xuất, kinh doanh, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động.
Trong thực hiện chính sách phát triển tập trung vào các ngành kinh tế
mũi nhọn, trên cơ sở phát triển các doanh nghiệp lớn, khu công nghiệp tập
trung với kỹ thuật và công nghệ cao tạo nên mũi nhọn tăng trưởng, góp
phần tạo nhiều việc làm và ổn định việc làm cho người lao động.



Ba là, Đảng, Nhà nước cần xây dựng và đề ra chủ trương, chính sách
cụ thể tạo cơ chế, chính sách để nâng cao nhận thức toàn xã hội về tầm
quan trọng của việc phát triển NNL CLC và thực hiện phát triển nguồn lực
này phục vụ yêu cầu phát triển đất nước.
Phát huy vai trò thực hiện công bằng xã hội trong việc thực hiện phát
triển giáo dục, đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân
chủ hóa và hội nhập quốc tế nhằm phát triển NNL CLC:
Thực hiện nội dung giải pháp trên, cần tập trung một số nội dung cụ
thể sau: Thứ nhất, thực hiện đầu tư thỏa đáng cho giáo dục - đào tạo. Thứ
hai, cần có chính sách huy động vốn từ nhiều nguồn, từ ngân sách địa
phương, từ sự đóng góp của người học theo tiêu chí nhà nước và nhân dân
cùng làm, sự bảo trợ của các tổ chức xã hội; các cá nhân và viện trợ quốc
tế. Thứ ba, phát huy vai trò thực hiện công bằng xã hội trong việc thực


23

hiện đẩy mạnh hợp tác quốc tế về giáo dục bậc cao nhằm phát triển NNL
CLC. Thứ tư, thực hiện công bằng xã hội trong việc thực hiện đổi mới
chính sách sử dụng, đãi ngộ đối với NNL CLC.
4.2.3. Phát huy vai trò thực hiện công bằng xã hội nhằm phát triển nguồn
nhân lực đáp ứng thị trường lao động trong nước theo tiến trình hội nhập kinh
tế quốc tế hiện nay

Phát huy vai trò thực hiện CBXH đối với việc thực hiện nhất quán
chính sách tuyển dụng và sử dụng NNL theo cơ chế thị trường. Cần phải
giải quyết những vấn đề: Nhà nước cần thực hiện bình đẳng, công bằng
trước pháp luật với mọi thành phần kinh tế trong việc tuyển dụng và sử
dụng lao động; Phát huy vai trò thực hiện CBXH để phát huy có hiệu quả
NNL trong hoạt động kinh tế, cần phải đảm bảo sự thống nhất trên cả 3



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status