ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HẢI TRIỀU
VAI TRÕ CỦA ĐÀO TẠO NGHỀ ĐỐI VỚI
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội, 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ HẢI TRIỀU
VAI TRÕ CỦA ĐÀO TẠO NGHỀ ĐỐI VỚI
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS TS Dƣơng Văn Thịnh
Hà Nội, 2017
1.2.2. Nội dung vai trò của đào tạo nghề đối với phát triển nguồn nhân
lực ở nƣớc ta hiện nay .............................................................................. 18
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1.................................................................................. 30
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN TỐT
HƠN VAI TRÕ CỦA ĐÀO TẠO NGHỀ ĐỐI VỚI PHAT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ..................................... 31
2.1. Thực trạng nguồn nhân lực và thành tựu, hạn chế trong thực hiện vai
trò đào tạo nghề ở nƣớc ta hiện nay ............................................................. 31
2.1.1. Thực trạng nguồn nhân lực ............................................................ 31
2.1.2. Những thành tựu đạt đƣợc trong thực hiện vai trò của đào tạo nghề
đối với phát triển nguồn nhân lực. ........................................................... 33
2.1.3. Hạn chế trong việc thực hiện vai trò của đào tạo nghề đối với phát triển
nguồn nhân lực trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam .... 50
2.2. Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong thực hiện vai trò
của đào tạo nghề .......................................................................................... 52
2.2.1. Nguyên nhân của những thành tựu trong thực hiện vai trò của đào
tạo nghề .................................................................................................... 52
2.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện vai trò của đào
tạo nghề .................................................................................................... 54
2.3. Giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn vai trò của đào tạo nghề trong quá
trình phát triển nguồn nhân lực .................................................................... 55
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2.................................................................................. 62
KẾT LUẬN .................................................................................................... 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 66
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. So sánh yêu cầu của doanh nghiệp về kỹ năng thực hành nghề (kỹ
Chúng ta đang sống trong thời kỳ hội nhập và phát triển toàn cầu đặc
biệt về mặt kinh tế, điều này đòi hỏi mỗi con ngƣời phải đƣợc đào tạo trình độ
học vấn, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, tu dƣỡng, rèn luyện phẩm chất đạo
đức, ý thức đạo đức tốt hơn để có thể đáp ứng những yêu cầu của sự biến đổi
khoa học công nghệ nhanh chóng, nắm vững công nghệ và tạo nên bƣớc phát
triển vững chắc cho nền kinh tế nƣớc nhà.
Nhân tố con ngƣời đƣợc khẳng định là có giá trị lớn lao và ý nghĩa
quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc nói chung cũng nhƣ quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nƣớc ta nói riêng.
Trong thời kỳ đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất
nƣớc và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, lao động nƣớc ta có nhiều
cơ hội tìm kiếm việc làm. Ngƣời lao động có thể vƣơn lên làm giàu bằng
1
chính sức lực của mình. Tuy nhiên cũng có rất nhiều thách thức đặt ra cho
ngƣời lao động bởi chất lƣợng nguồn lao động: không biết nghề, không đƣợc
đào tạo nghề, đào tạo thiếu đồng bộ, không đáp ứng yêu cầu của thực tiễn sản
xuất v.v. . Vì thế ngƣời lao động rất khó tìm đƣợc việc làm, hoặc có việc làm
nhƣng không ổn định.
Xuất phát từ yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc thì con
ngƣời phải có đủ những phẩm chất và năng lực để đáp ứng những yêu cầu mà
thực tiễn sản xuất đòi hỏi. Quan điểm của triết học Mác – Lênin đã khẳng
định: Con ngƣời là yếu tố quan trọng nhất, là lực lƣợng sản xuất hàng đầu của
xã hội, là chủ thể của quá trình trao đổi giữa con ngƣời và tự nhiên. Trong bối
cảnh xã hội hiện nay, những chuẩn mực về kỹ năng lao động ngày càng cao.
Vì vậy, việc xây dựng và phát triển nguồn nhân lực phù hợp với điều kiện
thực tế của nƣớc ta có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinhh
tế - xã hội của đất nƣớc.
Hiện nay ở Việt Nam đang hình thành 2 loại hình nhân lực: nhân lực
dung chính của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đƣờng đầu tiên.
Đại hội VIII (năm 1986), Đại hội IX (năm 2001), Đại hội X (năm 2006) và XI
(năm 2011) của Đảng, tiếp tục bổ sung và hoàn thiện nhận thức của Đảng về
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đã đƣa ra quan điểm về công nghiệp hóa, hiện
đại hóa cụ thể là: công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa, và công nghiệp hóa,
hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với
phát triển kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế
quốc tế. Lấy phát huy nguồn lực con ngƣời là yếu tố cơ bản cho sự phát triển
nhanh và bền vững. Đảng đề ra nội dung và định hƣớng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa trong những năm tiếp theo thiết thực và phù hợp với xu thế thời
đại, tất cả nhằm mục tiêu vì con ngƣời, vì sự phát triển bền vững, phấn đấu
đến năm 2050 nƣớc ta trở thành một nƣớc công nghiệp hiện đại.
3
2.2. Những nghiên cứu liên quan đến vai trò của đào tạo nghề, phát
triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Việt Nam
Góp phần vào việc phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay,
nhất là nguồn nhân lực có tay nghề kỹ thuật cao, đào tạo nghề là một xu
hƣớng cấp thiết và có tính chất quyết định. Không chỉ góp phần đào tạo về
mặt chuyên môn, nghiệp vụ kỹ thuật, đào tạo nghề còn phát triển mặt kỹ năng
mềm, giáo dục văn hóa nghề. Kỹ năng nghề và văn hóa ứng xử, văn hóa làm
việc của mỗi ngƣời sau khi đƣợc đào tạo cho phép họ tiếp cận với thị trƣờng
nguồn nhân lực toàn cầu, có khả năng cạnh tranh cao và tham gia vào các
ngành công nghiệp mang tính hội nhập.
Đề tài nghiên cứu khoa học về “Mối quan hệ giữa nâng cao chất lƣợng lao
động với giải quyết việc làm trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nƣớc” (2001) do PGS.TS Trần Văn Chử làm chủ nhiệm đề tài. Trong đề tài, tác
giả và cộng sự đã phân tích và làm rõ mối quan hệ giữa nâng cao chất lƣợng lao
nghề đó là đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân, đẩy mạnh dạy
nghề và tạo việc làm, nhất là ở nông thôn và vùng đô thị hóa; hỗ trợ các đối
tƣợng chính sách, ngƣời nghèo học nghề.
2.3. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận văn
Một là, kế thừa những công trình đã công bố, tác giả luận văn sẽ nghiên
cứu, chỉ ra những đặc trƣng và những điều kiện cần thiết, đặc biệt trong đó là
điều kiện về nguồn nhân lực để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa
hiện đại hóa của Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Hai là, nghiên cứu làm rõ hơn vấn đề lý luận và thực trạng việc thực
hiện vai trò của đào tạo nghề đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
của Việt Nam (cụ thể là làm rõ vai trò của đào tạo nghề trong việc nâng cao
chất lƣợng nguồn nhân lực đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
5
của Việt Nam, chỉ ra những thành công, hạn chế và những nguyên nhân của
những thành công và hạn chế đó).
Ba là, Trên cơ sở đánh giá thực trạng việc thực hiện vai trò của đào tạo
nghề trong việc nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực đối với sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, tác giả sẽ đề xuất một số giải pháp để thực hiện tốt
hơn vai trò của đào tạo nghề đối với phát triển nguồn nhân lực trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam, góp phần phát triển bền
vững đất nƣớc hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận và đánh giá thực
trạng vai trò của đào tạo nghề đối với việc nâng cao chất lƣợng nguồn nhân
lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam những năm qua,
tác giả đề xuất một số giải pháp để thực hiện tốt hơn vai trò của đào tạo nghề
đối với việc nâng cao chất lƣợng nhân lực theo yêu cầu CNH, HĐH ở Việt
các ngành, các cơ sở đào tạo nghề trên phạm vi cả nƣớc, mà chỉ tập trung vào
hình thức đào tạo tập trung tại một số trƣờng đào tạo nghề.
Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò của đào tạo nghề đối với việc
phát triển nguồn nhân lực theo yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận văn chủ yếu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh và đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc ta về công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, về vai trò của con ngƣời, của nguồn nhân lực đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội. Tác giả cũng kế thừa những thành tựu của các công
trình nghiên cứu đã công bố của các tác giả có nội dung liên quan tới vấn đề
mà luận văn đề cập.
7
- Luận văn sử dụng phƣơng pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích, lý giải và làm rõ vấn đề; đồng thời kết
hợp các phƣơng pháp: lịch sử - logic, phân tích - tổng hợp, thống kê, so sánh,
khái quát hóa, trừu tƣợng hóa, v.v., nhằm đạt mục đích mà luận văn đã đề ra.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận chung về nguồn nhân lực và
vai trò của đào tạo nghề trong nâng phát triển nguồn nhân lực có chất lƣợng
cao đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Góp phần cung cấp thêm những cơ sở khoa học về thực trạng vai trò
đào tạo nghề đối với việc phát triển nguồn nhân lực, về giải pháp phát huy vai
trò đào tạo nghề đối với việc phát triển nguồn nhân lực; làm tài liệu tham
khảo cho các cơ quan, ban ngành trong quá trình hoạch định chính sách về
phát triển đào tạo nghề trong cả nƣớc đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
kinh tế tri thức là yếu tố quan trọng của nền kinh tế và của công nghiệp hóa,
hiện đại hóa [17, 87].
9
Đại hội XI nhấn mạnh thêm về nội dung, phƣơng hƣớng tiến hành và
mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nƣớc ta: “Thực hiện công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ
tài nguyên, môi trƣờng, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả
và bền vững, gắn chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ” [18, 72].
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm phát triển lực lƣợng sản xuất, xây
dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật trên cơ sở thực hiện cơ khí hóa nền sản xuất xã
hội và áp dụng những thành tựu khoa học – công nghệ hiện đại. Quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa trƣớc hết là quá trình cải biến lao động thủ
công, lạc hậu thành lao động sử dụng công cụ, phƣơng tiện hiện đại, có năng
suất cao. Đó là bƣớc chuyển đổi căn bản từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền
kinh tế công nghiệp.
Đặc điểm Công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam là:
Thứ nhất, công nghiệp hóa phải gắn liền với hiện đại hóa. Sở dĩ nhƣ
vậy vì trên thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện
đại, phải tranh thủ ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại
để hiện đại hóa những ngành, những khâu có khả năng nhảy vọt.
Thứ hai, công nghiệp hóa, hiện dại hóa phải nhằm mục tiêu độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội, mà thực chất là vì mục tiêu dân giàu, nƣớc mạnh, dân
chủ, công bằng, văn minh. Ở nƣớc ta, công nghiệp hóa nhằm xây dựng cơ sở
vật chất cho chủ nghĩa xã hội, tăng cƣờng sức mạnh để bảo vệ nền độc lập
dân tộc. Đặc điểm này nói lên bản chất chính trị - xã hội của sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nƣớc ta.
Thứ ba, công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nƣớc ta trong điều kiện phát
triển nền kinh tế thị trƣờng có sự điều tiết của nhà nƣớc dƣới sự lãnh đạo của
động của biến động tự nhiên (sinh, tử…) và biến động cơ học (di dân) mà
11
còn chịu ảnh hƣởng của hệ thống các qui luật: qui luật cung cầu về nhân
lực, qui luật cạnh tranh…
Khái niệm nguồn nhân lực trên thực tế đƣợc hiểu dƣới nhiều góc độ
khác nhau.
Theo Liên hợp quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ
năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con ngƣời có quan hệ tới sự
phát triển của mỗi cá nhân và của đất nƣớc”. [46, 1]
Ngân hàng thế giới cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con
ngƣời bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…của mỗi cá nhân” [46].
Nhƣ vậy, ở đây, nguồn lực con ngƣời đƣợc coi nhƣ một nguồn vốn bên cạnh
các vốn vật chất khác: vốn tài chính, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên.
Theo các tổ chức lao động quốc tế thì:
- Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những ngƣời trong độ
tuổi có khả năng tham gia lao động.
- Nguồn nhân lực đƣợc hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn
nhân lực là nguồn cung cấp lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực
con ngƣời cho sự phát triển. Do đó nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cƣ
có thể phát triển bình thƣờng. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao
động của xã hội, là nguồn lao động đáp ứng cho yêu cầu phát triển kinh tế, xã
hội, bao gồm các nhóm dân cƣ trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia
vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào
quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ đƣợc huy
động vào quá trình lao động.
Vậy nguồn nhân lực có những đòi hỏi về trình độ học vấn, năng lực
chuyên môn, thể lực, phẩm chất đạo đức, nhân cách để thực sự trở thành đơn
vị cấu thành chất xám trong kết quả sản xuất và hoạt động của xã hội. Nguồn
cũng nhƣ các nhà quản lý kinh tế hàng đầu của thế giới đều nhất trí cho rằng:
13
Nguồn nhân lực là nền tảng chủ yếu để tạo ra của cải cho các nƣớc. Tiền vốn
và các tài nguyên thiên nhiên là các nhân tố thụ động trong sản xuất, con
ngƣời là những tác nhân tích cực, chủ động tích lũy vốn, khai thác tài nguyên
thiên nhiên, xây dựng các tổ chức xã hội, kinh tế và chính trị đƣa sự nghiệp
đất nƣớc phát triển tiến lên. Rõ ràng là đất nƣớc nào bất lực trong việc phát
triển tay nghề và kiến thức cho nhân dân mình và không sử dụng những cái
đó một cách hữu hiệu trong nền kinh tế quốc dân sẽ không phát triển đƣợc bất
kỳ thứ gì.
Nhƣ chúng ta đã biết, xét đến cùng, yếu tố giữ vai trò chi phối , quyết
định sự vận động, phát triển của xã hội chính là lực lƣợng sản xuất. Lực lƣợng
sản xuất bao gồm sức lao động và tƣ liệu sản xuất trong đó ngƣời lao động là
yếu tố quan trọng hàng đầu. Ph. Ăngghen từng nhấn mạnh rằng: muốn nâng
nền sản xuất lên thì một mình tƣ liệu lao động dù tƣ liệu cơ giới hay bất kỳ tƣ
liệu nào khác cũng không đủ, mà cần có những ngƣời có năng lực tƣơng xứng
sử dụng những tƣ liệu đó. Nhƣ vậy, vai trò của nguồn nhân lực xuất phát từ
vai trò quan trọng của con ngƣời trong sự phát triển của lực lƣợng sản xuất
đối với sự phát triển của kinh tế, xã hội.
Ở nƣớc ta, Đảng và Nhà nƣớc luôn khẳng định quan điểm coi con
ngƣời là trung tâm của sự phát triển, của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Hiện nay, trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế, phát triển nhân lực đƣợc coi là một trong ba khâu đột phá
của chiến lƣợc chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc;
đồng thời, phát triển nhân lực trở thành nền tảng phát triển bền vững và tăng
lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Yêu cầu nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Việc phát triển nhân lực, một mặt, cần phải có tầm nhìn chiến lƣợc phát
nhóm cũng nhƣ tham gia vào các ngành công nghiệp mang tính hội nhập cao.
15
1.2. Đào tạo nghề và vai trò của đào tạo nghề đối với phát triển nguồn
nhân lực trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nƣớc ta
1.2.1. Khái niệm, mục tiêu, nội dung và hình thức của đào tạo nghề
- Khái niệm đào tạo nghề
Luật giáo dục nghề nghiệp ban hành ngày 27/11/2014 có viết:
“Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân
nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các
chƣơng trình đào tạo nghề nghiệp khác cho ngƣời lao động, đáp ứng nhu cầu
nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, đƣợc thực hiện theo
hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thƣờng xuyên.” [34, tr.1]
“Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức,
kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học để có thể tìm đƣợc
việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao
trình độ nghề nghiệp.” [34, tr.1]. Tác giả luận văn coi đây là định nghĩa khái
quát về khái niệm đào tạo nghề, đƣợc sử dụng trong luận văn.
Con ngƣời đã trở thành một yếu tố quan trọng trong tăng trƣởng kinh
tế. Nhờ có giáo dục đào tạo, trong đó có đào tạo nghề, ngƣời lao động có thể
nâng cao đƣợc kiến thức và kỹ năng nghề của mình, qua đó nâng cao năng
suất lao động, góp phần phát triển kinh tế. Nhƣ vậy có thể khẳng định: giáo
dục đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng là thành tố quan trọng nhất,
có ý nghĩa quyết định phát triển nguồn nhân lực. Muốn có một nguồn nhân
lực chất lƣợng cao, có khả năng cạnh tranh cao trên thị trƣờng lao động, song
song với các cơ chế, chính sách sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực, cần phải
tăng cƣờng đầu tƣ, nâng cao chất lƣợng đào tạo nghề.
- Mục tiêu chung của đào tạo nghề
Luật giáo dục nghề nghiệp nêu: Giáo dục nghề nghiệp là nhằm đào tạo
làm việc, có thể học ngoài giờ làm việc và lựa chọn các chƣơng trình thích hợp.
17
Các hình thức trên đều đƣợc áp dụng ở nƣớc ta hiện nay.
1.2.2. Nội dung vai trò của đào tạo nghề đối với phát triển nguồn
nhân lực ở nước ta hiện nay
Trong thời đại ngày nay, con ngƣời đƣợc coi là “tài nguyên đặc biệt”,
một nguồn lực của sự phát triển kinh tế, xã hội. Bởi vậy, việc phát triển con
ngƣời, phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong
hệ thống phát triển các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ đến con ngƣời là yếu tố
đảm bảo chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vƣợng của mọi quốc gia.
Đầu tƣ cho con ngƣời là đầu tƣ có tính chiến lƣợc, là cơ sở chắc chắn cho sự
phát triển bền vững.
Do có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm nguồn nhân lực,
thế nên trong quan điểm về phát triển nguồn nhân lực cũng có nhiều hƣớng
khác nhau. Theo quan niệm của Liên hợp quốc, phát triển nguồn nhân lực
bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm năng của con ngƣời nhằm thúc
đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lƣợng cuộc sống nguồn
nhân lực. Hoặc, phát triển nguồn nhân lực là quá trình gia tăng giá trị cho
con ngƣời cả về vật chất và tinh thần, cả trí tuệ và tâm hồn cũng nhƣ kỹ
năng nghề nghiệp làm cho con ngƣời trở thành những ngƣời lao động có
năng lực và phẩm chất mới cao hơn, đáp ứng đƣợc yêu cầu to lớn của sự
phát triển kinh tế, xã hội.
Nguồn nhân lực có kỹ thuật, có chất lƣợng là những con ngƣời lao
động có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một ngành cụ
thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định.
Nguồn lao động có chất lƣợng này phải đáp ứng đƣợc yêu cầu của thị trƣờng
(yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nƣớc), đó là: có kiến thức, có
kỹ năng, biết tìm và tự tạo việc làm, việc làm an toàn, làm việc hợp tác, có
của đất nƣớc.
19