MỤC LỤC
NỘI DUNG
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài
3. Đóng góp của đề tài
NỘI DUNG
CÁC BIỆN PHÁP SƯ PHẠM NHẰM PHÁT TRIỂN TƯ DUY HỌC
SINH TRONG DẠY HỌC BÀI: “PHONG TRÀO DÂN CHỦ 19361939” (Lịch sử 12 – Chương trình Chuẩn)
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC
II. THIẾT BỊ VÀ TÀI LIỆU DẠY HỌC.
III. CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN TƯ DUY HỌC SINH
1. Trình bày miệng sinh động, gây hứng thú học tập qua đó phát triển
tính tích cực của tư duy học sinh.
2. Khai thác triệt để việc sử dụng đồ dùng trực quan để phát triển tư
duy học sinh.
3. Sử dụng hệ thống câu hỏi và bài tập nhận thức để phát triển tư duy
học sinh.
4. Khai thác, sử dụng các loại tài liệu tham khảo để phát triển tư duy
học sinh.
5. Tổ chức trao đổi, thảo luận để phát triển tính tích cực của tư duy
học sinh.
6. Hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa.
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TRANG
1
thành tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo. Trên con đường phát triển của
đất nước, sự đổi mới của nền giáo dục-đào tạo để đáp ứng với yêu cầu của
thời kỳ công nghiệp hóa-hiện đại hóa chắc chắn không thể thiếu sự đổi mới
và sáng tạo các phương pháp và phương tiện trong quá trình dạy học của mỗi
thầy, cô giáo chúng ta. Vì đó chính là trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp.
Phát biểu về điều này Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ giáo dục-đào tạo Nguyễn
Thiện Nhân đã nói: “đã đến lúc chúng ta không thể để giáo viên đơn độc và tự
bơi trong quá trình đổi mới. Phải cụ thể hoá khái niệm “dạy tốt” và xem lại
việc công nhận giáo viên dạy giỏi như hiện nay. Không thể đạt danh hiệu
“giáo viên dạy giỏi” chỉ qua giờ lên lớp của một cuộc thi nào đó. Giáo viên
giỏi trong cách nhìn nhận mới chắc chắn phải là tấm gương về đổi mới
phương pháp dạy học.”
Bên cạnh đó, Nghị quyết Hội nghị TW Đảng lần thứ hai, khóa VIII đã
khẳng định: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối
truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của học sinh. Từng bước
áp dụng các phương pháp giáo dục tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá
trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học
2
sinh”. Xuất phát từ nội dung trên, việc dạy học lịch sử trong thời gian vừa qua
đã có nhiều thay đổi quan trọng về nội dung, phương pháp dạy học; song hiệu
quả chưa cao, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đào tạo thế hệ trẻ trong tình
hình mới. Nguyên nhân của thực trạng trên là tổng hợp của nhiều yếu tố, đó là
chúng ta chưa đặt đúng vị trí, chức năng của môn Lịch sử trong hệ thống các
môn học ở phổ thông, khiến học sinh có xu hướng coi nhẹ môn Lịch sử. Điều
này thể hiện rõ ràng nhất khi biết năm học nào không thi môn sử thì nhiều
trường cho học nhanh môn sử để dành thời gian cho các môn học khác; Đó là
do trong một bộ phận cán bộ quản lý và giáo viên vẫn còn quan niệm môn
Lịch sử là môn học phụ; Đó là do nội dung sách giáo khoa còn nặng nề và quá
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Các phương pháp dạy học và những vấn đề lịch sử liên quan đến phong
trào dân chủ giai đoạn 1936-1939, lịch sử 12-chương trình chuẩn.
2.3 Nhiệm vụ của đề tài
Sử dụng các biện pháp sư phạm trong bài phong trào dân chủ 19361939 nhằm giúp giáo viên đạt hiêụ quả cao hơn trong việc tích hợp các
phương pháp dạy học để bài dạy sinh động, hấp dẫn hơn.
Qua đó, khơi dậy trong học sinh niềm hứng thú, say mê đối với bộ môn
lịch sử.
3. Đóng góp của đề tài
Qua việc nghiên cứu các phương pháp dạy học và áp dụng vào một bài
dạy cụ thể sẽ giúp cho bản thân cũng như quý đồng nghiệp thành công hơn
trong việc giảng dạy bài này.
Trên cơ sở đó, đề tài sẽ giúp cho bản thân cũng như đội ngũ giáo viên
sẽ có nhiều sáng tạo hơn trong việc soạn giảng.
4
Ngoài ra, nhằm giáo dục lòng yêu quê hương, đề tài đã sử dụng một số
tài liệu lịch sử địa phương diễn ra trên địa bàn hai huyện Đức Cơ và Chưprông
đó là những sự kiện về phong trào đấu tranh của đội ngũ công nhân ở đồn điền
chè Bàu Kạn trong giai đoạn này. Qua đó, sẽ cho học sinh thấy được mối liên
hệ giữa lịch sử địa phương với lịch sử cả nước. Từ đó, các em sẽ thấy được
trách nhiệm của bản thân trong sự nghiệp xây dựng đất nước, giữ gìn và phát
triển những thành quả mà cha ông đã tạo dựng.
4. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài
được kết cấu thành 4 phần:
I. MỤC TIÊU BÀI HỌC
II. THIẾT BỊ VÀ TÀI LIỆU DẠY HỌC
6
3. Kĩ năng:
- Rèn kĩ năng phân tích, đánh giá các sự kiện lịch sử. So sánh chủ trương
sách lược của Đảng trong hai thời kì: 1930 – 1931 và 1936 – 1939.
II. THIẾT BỊ VÀ TÀI LIỆU DẠY HỌC.
- Các tác phẩm lịch sử về thời kì 1936-1939.
- Các hồi kí, văn học về thời kì 1936-1939.
III. CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN TƯ DUY HỌC SINH:
1. Trình bày miệng sinh động, gây hứng thú học tập qua đó phát triển tính
tích cực của tư duy học sinh.
Trình bày có hình ảnh không chỉ là điểm tựa của nhận thức cảm tính,
mà còn là cơ sở cho tư duy trong việc hiểu bản chất và đánh giá sự kiện lịch
sử. Để phát triển tư duy học sinh trước hết phải xây dựng cho các em hứng thú
học tập lịch sử. Hứng thú học tập lịch sử của học sinh được biểu hiện trước hết
ở sự tập trung, chú ý của học sinh vào đối tượng nghiên cứu, tìm hiểu. Khi các
em đã chú ý, tập trung nghe giảng, quan sát, tư duy…sẽ dần dần hình thành
được biểu tượng lịch sử. Chính biểu tượng lịch sử là yếu tố đầu tiên góp phần
phát triển hứng thú học tập lịch sử cho học sinh.
Hứng thú học tập lịch sử còn được biểu hiện ở tính tích cực của tư duy
học sinh. Nếu các em chú ý, tập trung nghe giảng, chủ động tích cực tham gia
vào quá trình nhận thức lịch sử sẽ tạo ra hứng thú học tập bộ môn cho các em.
Ngược lại, từ chỗ hứng thú với môn học các em ngày càng tích cực, tự giác
tìm tòi, khát khao nhận thức về các sự kiện, hiện tượng lịch sử, luôn muốn
khám phá kiến thức mới của bộ môn mà mình ưa thích, từ đó các thao tác tư
duy của các em được rèn luyện và phát triển.
Muốn phát triển tư duy học sinh, đặc biệt là tư duy lịch sử, trước hết
giáo viên phải tạo biểu tượng chân xác, sinh động về các sự kiện và nhân vật
cách biểu hiện của thái độ, hành vi. Muốn lời giảng được sinh động, giàu hình
8
ảnh, giáo viên có thể biên tập lại một số đoạn tường thuật miêu tả nhưng vẫn
đảm bảo tính trung thực lịch sử hoặc sử dụng các đoạn tài liệu tham khảo.
Một điều lưu ý, nhóm phương pháp trình bày miệng không chỉ do giáo
viên tiến hành, mà cần định hướng cho học sinh sưu tầm, xây dựng và sử dụng
các đoạn tường thuật, miêu tả…trong tự học ở nhà hay trình bày trên lớp.
Tóm lại, sử dụng nhóm phương pháp trình bày miệng trong dạy học lịch
sử có tác dụng to lớn trong việc phát triển tư duy học sinh. Nó góp phần quan
trọng trong việc tạo biểu tượng chân xác, sinh động để khôi phục quá khứ lịch
sử. Thông qua việc tạo biểu tượng, học sinh sẽ hình dung, tưởng tượng về các
sự vật, nhân vật, các sự kiện đã diễn ra như thế nào, từ đó trong óc học sinh sẽ
có hình ảnh về quá khứ, đó là dạng tưởng tượng tái tạo, học sinh được rèn
luyện kĩ năng ghi nhớ sự kiện. Trên cơ sở hình ảnh của quá khứ, với các thao
tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá, hệ thống hoá, khái quát
hoá…để hình thành khái niệm, nêu quy luật và rút ra bài học lịch sử.
Ví dụ, để trình bày thông báo tới học sinh một cách sinh động, hấp dẫn
về các phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam trong phong trào dân chủ
1936-1930 (mục 2), giáo viên kết hợp giới thiệu hình 31 trong sách giáo khoa
“Mít tinh kỉ niệm ngày quốc tế lao động(1-5-1938)tại khu Đấu Xảo (nay
thuộc khu vực Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội)” và biên tập đoạn lược
thuật với nội dung như sau: “Đây là bức hình được chụp lại từ bộ ảnh tư liệu
trưng bày tại bảo tàng cách mạng Việt Nam. Bức ảnh chụp toàn cảnh buổi mít
tinh ngày 1/5/1938 ở khu Đấu Xảo – Hà Nội.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Đông Dương, phong trào dân
chủ 1936-1939 đã diễn ra với nhiều hình thức phong phú: phong trào dân
sinh, dân chủ, đấu tranh nghị trường, báo chí công khai…Trong phong tào
đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, bên cạnh các cuộc đấu tranh của công-nông,
đoàn thể quần chúng đại diện cho các ngành nghề, tầng lớp xã hội: thợ
10
máy, thanh niên, trí thức, phụ nữ…gồm 25 000 người, hàng ngũ chỉnh tề…
có người phụ trách từng nhóm, từng đoàn tập trung ở địa điểm quy định.
Mỗi người đều có huy hiệu trước ngực và khẩu hiệu cài trên mũ, nón. Các
đoàn tuần hành qua các phố, hô vang khẩu hiệu và lôi cuốn them nhiều
người tham gia. Kết hợp với việc phân tích và mô tả không khí cách mạng
của phong trào đấu tranh. Điều này sẽ gây sự chú ý, lôi cuốn học sinh vào bài
học, qua đó tạo biểu tượng sinh động trong óc học sinh về phong trào đấu
tranh của quần chúng nhân dân trong những năm 1936-1939.
Qua đó, giáo viên có thể giúp các em rút ra kết luận khái quát như:
mặc dù cuộc mít tinh chỉ diễn ra trong vài tiếng đồng hồ nhưng qua đó đã thể
hiện được sự đúng đắn trong việc Đảng ta đã kịp thời chuyển hướng chỉ đạo
cách mạng cũng như khẳng định được khả năng lãnh đạo của Đảng và Đảng
đã nhận được sự ủng hộ của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Để minh họa rõ
cho kết luận trên, giaó viên nhấn mạnh: Mặc dù cuộc mít tinh chỉ kéo dài mấy
tiếng đồng hồ song đã thu hút được quần chúng tham gia một cách đông đảo
và được tổ chức bài bản, rất trật tự. Đại diện các đảng phái và đại biểu của
công nhân, nông dân, phụ nữ, tiểu thương, trí thức đều được lên phát biểu.
Chính điều đó đã làm cho thực dân Pháp rất căm tức nhưng chúng đành bất
lực trước cuộc mít tinh khổng lồ, được tổ chức chặt chẽ, quy mô.
Mặt khác, lúc này trong óc học sinh cũng có thể nảy sinh tư duy so sánh
phong trào đấu tranh trong giai đoạn 1930-1931.
Hoặc, khi dạy học mục I: “Tình hình thế giới và trong nước”, giáo viên
có thể sử dụng một số số liệu như: Một số chính sách cụ thể của chính quyền
thực dân trong thời kỳ này đã làm cho cuộc sống của công nhân, viên chức và
dân chúng bản xứ thêm khốn khó: năm 1937 tổng số công nhân ở Việt Nam
ước chừng chỉ 150.000 người và số người thất nghiệp có đăng ký chính thức
2. Khai thác triệt để việc sử dụng đồ dùng trực quan để phát triển tư duy
học sinh.
Đồ dùng trực quan giữ một vai trò, vị trí quan trọng trong dạy học lịch
sử, nó không chỉ là phương tiện dạy học mà còn là một kênh thông tin và
nguồn kiến thức vô cùng quan trọng đối với việc nhận thức lịch sử.
Hiệu quả của việc sử dụng phương pháp trực quan trong dạy học lịch sử
do nhiều yếu tố quyết định, như chất lượng của bài học, tranh ảnh lịch sử,
phương pháp sử dụng, kĩ năng và năng lực sư phạm của giáo viên. Ở đây
chúng tôi đề cập đến biện pháp khai thác, sử dụng đồ dùng trực quan như thế
nào để phát triển tư duy học sinh.
Đồ dùng trực quan được sử dụng tốt sẽ huy động được sự tham gia của
nhiều giác quan, sẽ kết hợp chặt chẽ được hai hệ thống tín hiệu với nhau: tai
nghe, mắt thấy, tạo điều kiện cho học sinh dễ hiểu, nhớ lâu, gây được những
mối liên hệ thần kinh tạm thời khá phong phú, phát triển ở học sinh năng lực
chú ý, quan sát, hứng thú, hình dung, tưởng tượng. Đồ dùng trực quan có vai
trò to lớn trong việc giúp học sinh nhớ kĩ, hiểu sâu những hình ảnh, những
kiến thức lịch sử. Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vũng chắc trong trí nhớ là
hình ảnh thu nhận được bằng trực quan và những hình ảnh đó sẽ giúp học sinh
nhớ kĩ, hiểu sâu được bài học lịch sử. Cùng với việc góp phần tạo biểu tượng
và hình thành khái niệm lịch sử, đồ dùng trực quan còn phát triển khả năng
quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ cho các em. Nhìn vào bất cứ
loại đồ dùng trực quan nào, học sinh cũng thích nhận xét, phán đoán, hình
dung quá khứ lịch sử được phản ánh như thế nào. Các em sẽ đào sâu suy nghĩ
và tìm cách diễn đạt bằng lời nói chính xác, có hình ảnh rõ ràng, cụ thể về bức
tranh xã hội đã qua.
13
Bước 2: GV nêu câu hỏi, nêu vấn đề, tổ chức hướng dẫn HS tìm hiệu
nội dung tranh ảnh.
Bước 3: HS trình bày kết quả tìm hiểu nội dung tranh ảnh sau khi đã
quan sát, kết hợp gợi ý của giáo viên và tìm hiểu nội dung trong bài học.
Bước 4: GV nhận xét, bổ sung HS trả lời, hoàn thiện nội dung khai thác
tranh ảnh cung cấp cho học sinh.
Hoặc, khi dạy học mục 2: “Phong dân chủ 1936-1939”, giáo viên sử
phiếu bài tập yêu cầu học sinh so sánh chủ trương của Đảng trong Hội nghị
trung ương (7-1936) với chủ trương của Đảng trong giai đoạn 1930-1931 để
tổ chức cho học sinh thảo luận nhóm qua đó cho các em thấy được đường lối
của Đảng 1936-1939:
Nội dung
1930-1931
1936-1939
Kẻ thù
Nhiệm vụ (khẩu hiệu)
Mặt trận
Hình thức,phương pháp đấu tranh
Lực lượng tham gia
Sau khi học sinh trả lời, giáo viên nhận xét, chốt ý và hoàn thiện niên
biểu với nội dung như sau:
Nội dung
Kẻ thù
1930-1931
Đế quốc và phong kiến
1936-1939
Mặt trận nhân dân phản đế Đông
Dương sau đổi là Mặt trận Dân
chủ Đông Dương.
Bí mật, bất hợp pháp. Bạo
động vũ trang như bãi công, Hợp pháp, nửa hợp pháp, công
chuyển sang biểu tình vũ
khai hay nửa công khai.
trang ở Hưng Nguyên, Thanh
Chương, Vinh
Đông đảo, không phân biệt thành
Lực lượng Công nhân.
phần, giai cấp.Ở thành thị rất sôi
tham gia
nổi tạo nên đội quân chính trị
Nông dân
hùng hậu.
Nhận xét:
Sự khác nhau giữa phong trào 1930-1931 và phong trào dân chủ 19361939 cho thấy do hoàn cảnh thế giới và trong nước khác nhau,nên chủ trương
sách lược, hình thức tập hợp lực lượng và hình thức đấu tranh phải khác nhau
loại câu hỏi theo các mức độ nhận thức khác nhau của học sinh.
- Xây dựng câu hỏi vừa sức, sát đúng với học sinh, phù hợp với nội
dung bài học, chú ý phát triển năng lực tư duy của học sinh trong học tập lịch
sử.
- Giải quyết linh hoạt mối quan hệ giữa hệ thống câu hỏi và các nguồn
kiến thức, kết hợp với các dạng hoạt động học tập của học sinh.
Các loại câu hỏi sử dụng trong dạy học lịch sử bao gồm nhiều mức độ
nhận thức khác nhau: biết, hiểu, vận dụng. Nó giúp học sinh trong quá trình
học tập lịch sử phát hiện ra nguyên nhân, diễn biến, kết quả và ý nghĩa của
17
một sự kiện hay quá trình lịch sử. Những câu hỏi đó không chỉ đòi hỏi các em
biết sự kiện (tái hiện) mà đi sâu hiểu bản chất sự kiện (phát hiện), vận dụng
kiến thức đã học để tiếp thu kiến thức mới và áp dụng vào cuộc sống. Đối với
học sinh THPT cần tăng cường hợp lý các câu hỏi mang tính chất tìm tòi, phát
hiện, bởi vì năng lực tư duy của các em đã bước đầu trưởng thành.
Hỏi và trả lời chính là đặt ra tình huống có vấn đề rồi tìm cách giải
quyết vấn đề. Hỏi và trả lời có thể tiến hành giữa thầy giáo và học sinh, giữa
học sinh với nhau, thậm chí đối với từng cá nhân (tự hỏi và tự trả lời). Hỏi và
trả lời không phải là sự “đánh đố”, mà phải giúp học sinh hiểu sâu sắc lịch sử
hơn.
Ở bài này, để phát triển tư duy học sinh, giáo viên xây dựng và sử dụng
hệ thống câu hỏi, bài tập nhận thức theo các mức độ nhận thức và mục đích
sau đây:
Thứ nhất, sử dụng câu hỏi nhằm định hướng nhận thức cho học sinh
trong giờ học lịch sử. Đây là một hình thức của dạy học nêu vấn đề. Có nhiều
cách nêu yêu cầu học tập cho học sinh trước khi nghiên cứu bài mới, nội dung
mới, trong đó hiệu quả nhất là đặt các câu hỏi nêu vấn đề dưới dạng bài tập
nhận thức, hoặc nêu lên các câu hỏi nhận thức. Khi đưa ra bài tập nhận thức
thuẫn xung đột giữa những điều đã biết với những điều chưa biết, cho nên có
tác dụng kích thích các hoạt động nhận thức của học sinh vào vấn đề nghiên
cứu.
Bài tập nhận thức, câu hỏi nhận thức dùng để định hướng nhiệm vụ
nhận thức cho học sinh không chỉ sử dụng vào đầu giờ học cho cả bài, mà còn
được sử dụng cho từng phần, từng đơn vị cho kiến thức của bài học. Ví dụ,
trước khi dạy học mục I: “Tình hình thế giới và trong nước”, giáo viên nêu
vấn đề bằng câu hỏi nhận thức như sau: “Nguyên nhân dẫn đến phong trào
19
dân chủ 1936-1939 nổ ra là gì?” để gây sự tập trung chú ý của học sinh vào
giải quyết kiến thức trọng tâm của mục.
Thứ hai, sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở trong trao đổi đàm thoại
giúp giải quyết từng phần cho câu hỏi trọng tâm.
Câu hỏi trọng tâm được trình bày dưới dạng câu hỏi nêu vấn đề hoặc
câu hỏi nhận thức, được hiểu như là một tiền đề quan trọng để giúp học sinh
nắm chắc kiến thức cơ bản, trọng tâm của một bài, một vấn đề. Thường thì
những câu hỏi này khó đối với học sinh. Nó đòi hỏi các em phải biết phân
tích, đánh giá, biết bày tỏ thái độ của mình đối với sự kiện, hiện tượng lịch sử.
Học sinh rất khó trả lời ngay được câu hỏi vừa nêu ra vì thiếu dữ kiện. Do
vậy, cùng với quá trình cung cấp thông tin, giáo viên phải xây dựng các câu
hỏi gợi mở để giúp học sinh giải đáp dần câu hỏi trọng tâm. Giáo viên phải dự
kiến trước câu trả lời của học sinh để có phương án sử dụng câu hỏi phù hợp
với tình huống thực tế dạy học đặt ra.
Ví dụ, khi dạy học về I: “Tình hình thế giới và trong nước”, giáo viên
nêu vấn đề bằng câu hỏi nhận thức như sau: “Nguyên nhân dẫn đến phong
trào dân chủ 1936-1939 nổ ra là gì?”. Để giúp học sinh trả lời được câu hỏi
này, giáo viên dự kiến nêu các câu hỏi gợi mở nhằm giải quyết từng phần câu
A. sự ra đời của các uỷ ban hành động năm 1936.
B. phong trào mít tinh, biểu dương lực lượng khi Toàn quyền Đông
Dương mới sang nhậm chức năm 1937.
C. cuộc mít tinh kỉ niệm ngày Quốc tế Lao động (1-5-1938) tại khu Đấu
Xảo Hà Nội.
D. thắng lợi trong cuộc bầu cử vào Viện dân biểu Bắc Kì và Trung Kì.
Câu 5. Ý nghĩa quan trọng nhất của phong trào dân chủ trong những
năm 1936-1939 là:
22
A. chính quyền thực dân phải nhượng bộ quần chúng nhân dân một số
yêu sách cụ thể về dân chủ, dân sinh.
B. quần chúng nhân dân được giác ngộ, trở thành lực lượng chính trị
hùng hậu của cách mạng.
C. uy tín của Mặt trận Dân chủ nhân dân được tăng lên.
D. đội ngũ cán bộ của Đảng được rèn luyện, trưởng thành.
Ra bài tập về nhà:
1. Tại sao nói giai đoạn năm 1936-1939 là cuộc diễn tập lần thứ 2?
2. Sưu tầm tranh ảnh, tài liệu, các tác phẩm văn học, báo chí về giai đoạn lịch
sử này.
Câu hỏi 1 phần “bài tập về nhà” là dạng câu hỏi nhận thức, đồng thời là
một bài tập nhận thức, bởi vì nó chứa đựng mâu thuẫn giữa những vấn đề học
sinh đã biết và chưa biết, qua đó kích thích hứng thú tìm tòi khám phá của học
sinh. Để trả lời được câu hỏi này, học sinh phải huy động các thao tác tư duy
như ghi nhớ, tưởng tượng, phân tích, tổng hợp, so sánh đối chiếu, nhận xét
đánh giá, hệ thống hoá, khái quát hoá kiến thức mới có thể trả lời được câu
hỏi nói trên.
Tóm lại, các loại câu hỏi và bài tập nhận thức được sử dụng trong bài
học này biểu hiện ở những cấp độ nhận thức khác nhau, với những mục đích
sử giúp học sinh hiểu được bản chất của nó.
- Sử dụng tài liệu tham khảo để chứng minh cho một luận điểm khoa
học, để hiểu đúng một sự kiện, một quá trình lịch sử.
Ở bài này, để phát triển tư duy học sinh, giáo viên sử dụng tài liệu tham
khảo để xây dựng một bài miêu tả, tường thuật lịch sử; sử dụng tài liệu tham
khảo để chứng minh cho một luận điểm khoa học, để hiểu đúng một sự kiện,
một quá trình lịch sử. Vấn đề đặt ra là khai thác, sử dụng tài liệu tham khảo
như thế nào để phát triển tư duy học sinh.
24
Ví dụ, khi dạy học mục I: “Việt Nam trong những năm 1936-1939”,
giáo viên có thể sử dụng đoạn trích trong sách “Đại cương Lịch sử Việt Nam”
của Đinh Xuân Lâm để miêu tả về tình hình nền kinh tế nông nghiệp Việt
Nam trong thời kì này: “Về nông nghiệp: Năm 1936, Thống sứ Bắc Kì ra nghị
định cấp không cho những công dân Pháp làm đơn xin đất với diện tích dưới
500 ha để lập làng mới. Trong những năm 1936-1939, tại đồng bằng Bắc Kì
có 1.933.000 xuât đinh thì 968 người không có ruộng…
…Nam Kì, địa chủ chiếm hữu hơn 480.000 mẫu ruộng, trung bình mỗi
người chiếm 530 mẫu. Sau khủng hoảng phần lớn ruộng đất tập trung vào tay
tư bản Pháp và một số ít địa chủ, quan lại người Việt. Trong toàn quốc 2/3 hộ
nông dân không có hoặc ít ruộng…Kinh doanh đồn điền cao su, tư bản Pháp
thu được lãi lớn công ty cao sư Xuân Lộc, với số vốn 6.000.000 phơrăng năm
1937 thu 4.193 ngàn, năm 1938 thu 6.146 ngàn, năm 1939 thu 8.833 ngàn
phơrăng lãi…Diện tích trồng cà phê năm 1938 khoảng 800-900 ha, sản lượng
3000-4000 tấn/1 năm”[9,322] . Việc sử dụng đoạn miêu tả trên có ý nghĩa rất
quan trọng trong việc tạo biểu tượng lịch sử cho học sinh, giúp học sinh nhận
biết được tình hình của nền nông nghiệp Việt Nam sau khi thực dân Pháp tăng
cường chính sách vơ vét để bù đắp những khoản thiệt hại mà Pháp đã bị tổn