Trường ĐH Thương Mại
SẢN PHẨM THẢO LUẬN NHÓM
Học phần: Bảo hiểm
Nhóm:4 Lớp: 1720FMGM2311
Tên đề tài: Phân biệt những điểm giống và khác nhau giữa BH thương mại với BH
xã hội và BH y tế? Cho ví dụ minh họa?
Kết quả đánh giá các thành viên trong nhóm:
STT Họ và tên
1
Lương Thị Kiều My
2
Nguyễn Hà My
3
Phạm Thị Thanh Ngà
4
Mai Bảo Ngọc
5
Nguyễn Hiền Ngọc
6
LỜI MỞ ĐẦU
Lịch sử Việt nam với nhiều thăng trầm gắn liền với nhiều cột mốc đang nhớ, một
trong những cột mốc đó phải nói đến Đại hội Đảng lần thứ VI – tạo ra nhiều bước
tiến cho sự phát triển của VN, trong đó có nội dung chuyển đổi nền kinh tế sang
kinh tế thị trường, hòa nhập thế giới. Từ đó nhiều ngành nghề kinh doanh có điều
kiện phát triển hơn, trong số đó có Bảo Hiểm.
Ngành bảo hiểm thực sự phát triển sau khi chính phủ xóa bỏ thế độc quyền kinh
doanh bảo hiểm theo nghị định 100 ngày 18/12/1993 và thực sự trở thành một
ngành nghề đóng góp cho đất nước, ngày càng thu hút nhiều lao động
Ngành bảo hiểm, phân chia thành nhiều loại khác nhau tùy vào đối tượng, tính chất
mà phân chia thành bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thương mại hay bảo
hiểm nhân thọ, phi nhân thọ hoặc bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm không bắt buốc.
Việc phân chia như vậy, có những điểm giống và khác nhau mà không phải ai cũng
hiểu rõ được, chính vì thế, trong bài thảo luận này sẽ giúp chung ta phân biệt 1 lẫn
nữa các loại bảo hiểm dựa vào cơ chế hoạt động, đó là Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm
y tế, Bảo hiểm thương mại. Và qua đó, với những ví dụ cụ thể sẽ giúp chúng ta
hiểu rõ hơn về các loại bảo hiểm nay .
I TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI, BẢO HIỂM XÃ HÔI VÀ
BẢO HIỂM Y TẾ.
1.1. Bảo hiểm thương mại
1.1.1. Khái niệm
Bảo hiểm thương mại hay kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh
nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp
nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo
hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người được thụ hưởng hoặc
bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. (Theo Luật
Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (2000))
1.1.2. Nội dung BH thương mại
Chỉ áp dụng được quy luật số lớn khi:
- Số lượng lớn các rủi ro và tổn thất tương tự: Việc quan sát phải tiến hành
trên một số lượng lớn, đồng thời phải trên cơ sở phân nhóm rủi ro, phân nhóm đối
tượng bảo hiểm theo những tiêu thức thích hợp. Ví dụ: để tính toán thiệt hại về
thương tật thân thể con người do tai nạn, người ta quan sát trên một số lượng lớn
các vụ tai nạn xảy ra, gây thiệt hại cho sức khoẻ con người và trong một khoảng
thời gian (thường là một năm)
- Các rủi ro tổn thất phải độc lập: Việc xảy ra hay không xảy ra của một
biến cố không làm thay đổi khả năng xảy ra của biến cố khác.
Bảo hiểm thương mại hoạt động dựa trên nguyên tắc “Lấy số đông bù số ít”
tức là rủi ro xảy ra với một hoặc một số ít người sẽ đưuọc bù đắp bằng số tiền huy
động từ rất nhiều người có cùng rủi ro như vậy.
• Lựa chọn rủi ro
Các rủi ro đã xảy ra, chắc chắn hoặc gần như chắc chắn sẽ xảy ra thì sẽ bị từ
chối bảo hiểm. Các rủi ro có thể được bảo hiểm thường có đặc điểm:
- Bất ngờ, không lường trước được;
- Phải có nguyên nhân khách quan, không chủ ý;
- Gây ra tổn thất vật chất tài chính;
- Phải tính được xác suất;
- Thuần nhất.
• Phân chia rủi ro
BHTM không nhận bảo đảm cho những rủi ro quá lớn, vượt quá khả năng tài
chính có thể bù đắp nếu không thực hiện các biện pháp phân tán rủi ro: Đồng bảo
hiểm và tái bảo hiểm.
Đồng bảo hiểm: nhiều doanh nghiệp bảo hiểm tham gia bảo hiểm cho cùng
một hợp đồng bảo hiểm.
Tái bảo hiểm: Một doanh nghiệp bảo hiểm nhận đảm bảo cho một rủi ro lớn,
sau đó nhượng lại một phần rủi ro cho một hoặc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm
−
BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội. Các bên
tham gia quan hệ BHXH gồm: Bên tham gia BHXH, Bên BHXH và Bên được
BHXH.
−
Biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH
gồm những rủi ro ngẫu nhiên và rủi ro không hoàn toàn ngẫu nhiên - Những rủi ro
này có thể xảy ra cả trong và ngoài quá trình lao động.
−
Nguồn quỹ BHXH: do các bên tham gia BHXH đóng góp và do sự hỗ trợ từ
phía Nhà nước.
−
Mục tiêu của BHXH: Nhằm thỏ mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao
động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm như:
Đền bù khoản thu nhập bị nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống
thiết yếu của người lao động.
Việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp thời
và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH.
1.3. Bảo hiểm y tế
1.3.1. Khái niệm
Bảo hiểm y tế (BHYT) là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực
hiện, nhằm huy động sự đóng góp của các cá nhân, tập thể để thanh toán chi phí y
tế cho người tham gia bảo hiểm.
1.3.2. Đặc điểm của bảo hiểm y tế
Vừa mang tính chất bồi hoàn, vừa mang tính chất không bồi hoàn;
Quá trình phân phối quỹ bảo hiểm y tế gắn chặt với chức năng giám đốc bằng đồng
tiền đối với mục đích tạo lập và sử dụng quỹ.
1.3.3. Nguyên tắc của BHYT
- Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHYT
- Mức đóng BHYT được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương, tiền
công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương tối thiểu
- Mức hưởng BHYT theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi
quyền lợi cảu người tham gia BHYT.
- Chi phí khám chữa bệnh của người được bảo hiểm do quỹ BHYT và người
tham gia bảo hiểm y tế cùng chi trả.
- Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo
đảm cân đối thu, chi và được Nhà nước bảo hộ.
II: PHÂN BIỆT NHỮNG ĐIỂM GIỐNG VÀ KHÁC NHAU GIỮA BẢO
HIỂM THƯƠNG MẠI VỚI BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ BẢO HIỂM Y TẾ
2.1. Những điểm giống nhau
Các loại bảo hiểm này được thực hiện trên cùng 1 nguyên tắc là: có tham gia đóng
góp bảo hiểm thì mới được hưởng quyền lợi, không đóng góp thì không được đòi
hỏi quyền lợi.
Hoạt động của các loại bảo hiểm này đều nhằm để bù đắp tài chính cho các đối
hiểm, thời hạn này thường là một năm hoặc một chu kỳ hoạt động.
Trong khi mối quan hệ này trong bảo hiểm xã hội là mối quan hệ lâu dài, tướng đối
ổn định và hình thức bảo hiểm chủ yếu là mang tính chất bắt buộc dựa trên mối
quan hệ lao động và quan hệ phân phối theo quy định của Nhà nước mục đích
nhằm bảo vệ người lao động trước những sự kiện, "rủi ro xã hội" như: ốm đau, tai
nạn lao động - bệnh nghề nghiệp vv... Bên cạnh đó có ràng buộc trách nhiệ của
chủ sử dụng lao động đối với người lao động từ đó thắt chặt tình đoàn kết giữa
"chủ" với "thợ" góp phần thúc đẩy ổn định xã hội.
2.2.8 Phương pháp thanh toán:
Đối với BHTM, các tổ chức bảo hiểm sẽ trả tiền trực tiếp cho người được bảo hiểm
hoặc người thụ hưởng.
BHXH sẽ thanh toán dưới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp, trong đó gián tiếp là
chủ yếu.
BHYT thanh toán chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế cơ sở khám, chữa bệnh
theo hợp đồng bệnh, chữa bện bảo hiểm y tế hoặc thanh toán trực tiếp cho người có
thẻ bảo hiểm y tế đi khám, chữa bệnh trong các trường hợp quy định tại điều 31
Luật BHYT 2010
III VÍ DỤ MINH HỌA
3.1 Ví dụ về Bảo hiểm Thương mại:
Bảo hiểm Bảo Việt là doanh nghiệp hạch toán độc lập – thành viên của Tập đoàn
Tài chính – Bảo hiểm Bảo Việt. Với kinh nghiệm hoạt động trên 45 năm và mạng
lưới 67 công ty thành viên tại tất cả 63 tỉnh, thành phố trên toàn quốc, Bảo hiểm
Bảo Việt hiện chiếm 23,64% thị phần và là doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
dẫn đầu thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam.
Các loại hình bảo hiểm Bảo Việt cung cấp bao gồm:
- Bảo hiểm Xe cơ giới
- Bảo hiểm Con người
- Bảo hiểm Tài sản
vận chuyển hành khách do xe cơ giới gây ra
Mức trách nhiệm bảo hiểm
Mức trách nhiệm đối với thiệt hại về người do chủ xe ô tô gây ra:
•
50,000,000 đồng/1 người/ 1 vụ tai nạn
Mức trách nhiệm đối với thiệt hại về tài sản do chủ xe ô tô gây ra:
•
50,000,000 đồng/1 vụ tai nạn
Biểu phí TNDS của chủ xe cơ giới:
STT Loại xe
Đơn vị tính Tổng thanh toán
I
Xe lam, Môtô 3 bánh, Xích lô đồng/1 năm 319.000
II
Xe ô tô không kinh doanh vận tải
1
Loại xe dưới 6 chỗ ngồi đồng/1 năm 436.700
3
7 chỗ ngồi theo đăng ký đồng/1 năm 1.188.000
4
8 chỗ ngồi theo đăng ký đồng/1 năm 1.387.300
5
9 chỗ ngồi theo đăng ký đồng/1 năm 1.544.400
6
10 chỗ ngồi theo đăng ký đồng/1 năm 1.663.200
7
11 chỗ ngồi theo đăng ký đồng/1 năm 1.821.600
8
12 chỗ ngồi theo đăng ký đồng/1 năm 2.004.200
9
13 chỗ ngồi theo đăng ký đồng/1 năm 2.253.900
10
18
22 chỗ ngồi theo đăng ký đồng/1 năm 3.866.500
19
23 chỗ ngồi theo đăng ký đồng/1 năm 4.056.800
20
24 chỗ ngồi theo đăng ký đồng/1 năm 4.246.000
21
25 chỗ ngồi theo đăng ký đồng/1 năm 4.412.100
22
Trên 25 chỗ ngồi đồng/1 năm ((4.011.000 + 30.000 x (số chỗ ngồi – 25))
+ VAT
IV
Xe ô tô chở hàng (xe tải)
1
Xe chở hàng dưới 3 tấn đồng/1 năm 938.300
Quyền lợi bảo hiểm xe ô tô
Nguyên tắc bồi thường là khôi phục phương tiện trở lại trạng thái ban đầu tại thời
điểm trước khi xảy ra tổn thất.
Bồi thường tổn thất bộ phận : Bảo Việt chịu trách nhiệm thanh toán chi phí thực tế
để sửa chữa , thay thế (nếu không thể sửa chữa được) các bộ phận bị tổn thất
+ Trường hợp xe được bảo hiểm với số tiền bảo hiểm thấp hơn giá trị thực tế thì số
tiền bồi thường của Bảo Việt được tính theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị
thực tế của xe.
+ Trường hợp xe được bảo hiểm bằng hoặc trên giá trị thực tế thì Bảo Việt bồi
thường theo giá trị thực tế của bộ phận đó ngay trước khi xe bị tai nạn.
Bồi thường tổn thất toàn bộ : Xe được coi là tổn thất toàn bộ trong trường hợp sau:
+ Xe bị thiệt hại trên 75% hoặc đến mức không thể sửa chữa, phục hồi để đảm bảo
lưu hành an toàn, hoặc chi phí phục hồi bằng hoặc lớn hơn giá trị thực tế của xe.
+ Xe bị mất cắp, bị cướp (có kết luận của cơ quan chức năng).
Số tiền bồi thường toàn bộ bằng giá trị thực tế của xe trước khi xảy ra tai nạn (tổn
thất) và không vượt quá số tiền bảo hiểm ghi trên Giấy chứng nhận bảo hiểm.
Thời hạn bảo hiểm Phí bảo hiểm
Nếu đóng bảo hiểm trong 2 năm
Giảm 10% phí bảo hiểm
Nếu đóng bảo hiểm trong 3 năm
Giảm 20% phí bảo hiểm
*BẢO HIỂM TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE VỚI HÀNG HÓA
Đối tượng bảo hiểm
+ Phạm vi bảo hiểm: Trách nhiệm dân sự của chủ xe phải bồi thường cho chủ hàng
hiểm.
+ Số tiền bảo hiểm mà người tham gia bảo hiểm có thể tùy ý lựa chọn
– Số tiền BH tính bằng Đồng Việt Nam : Từ 5.000.000 đ đến 50.000.000 đ
– Số tiền BH tính bằng Đôla Mỹ : Từ 5,000 $ đến 50,000 $
– Số tiền BH tính bằng Đôla Mỹ lớn hơn 50,000 $ sẽ được thỏa thuận riêng sau khi
Bảo Việt thu xếp Tái bảo hiểm
Biểu phí Bảo hiểm tai nạn lái xe và người ngồi trên xe:
STT Số tiền bảo hiểm/người/vụ
Phí bảo hiểm (1 năm)
1.
Số tiền bảo hiểm tính bằng Đồng Việt Nam Từ 5,000.000 đ đến 50,000,000
đ
0,1% x Số tiền bảo hiểm
2.
Số tiền bảo hiểm tính bằng Đô la Mỹ ($)
Từ 5,000 $ đến 10,000 $ 0,1% x Số tiền bảo hiểm
Trên 10,000 $ đến 30,000 $
0,3% x Số tiền bảo hiểm
Trên 30,000 $ đến 50,000 $
dụng mức lương tối thiểu là 3.100.000
– Lao động đã qua đào tạo phải cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu
vùng, nhân viên Bảo vệ, Tạp vụ, Bốc xếp chưa qua đào tạo, Côn ty An Tâm để
mức lương bằng với mức lương tối thiểu là 3.100.000, nhân viên thuộc nhóm Nhân
viên quản lý phân xưởng, Thủ kho là lao động đã qua đào tạo, và mức lương tối
thiểu thấp nhất phải là: 3.100.000 + (3.100.000 x 7%) = 3.317.000, Công ty An
Tâm để mức là 3.720.000 (Theo hướng dẫn tại điều 5 nghị định 103/2014/NĐ-CP)
Sau khi hoàn thành các thủ tục, Công ty đăng ký tham gia BHXH, BHYT,
VHTN lần đầu
2. Trong năm Công ty có những biến động như sau:
Ngày 05/03/2015 có 2 lao động ký hợp đồng thời vụ là Nguyễn Thanh Ngọc
và Trần Hoàng Anh đã kết thúc hợp đồng => Làm thủ tục báo giảm lao động 6
tháng đầu năm.
Ngày 01/04/2015 Lê Thị Hoài (Nhân viên kế toán) viết đơn xin thôi việc,
giám đốc đã xét đơn xin thôi việc và ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động (số
01/2015/QĐ-AT với Lê Thị Hoài (mã số sổ 7409185533) kể từ ngày 01/05/2015.
=>Làm thủ tục báo giảm lao động 6 tháng đầu năm + Báo giảm và chốt sổ
BHXH, BHTN
Ngày 01/07/2015 công ty ký hợp đồng 1 năm với Trần Thu Nga (Kế toán
viên) với mức lương căn bản là 4.340.000 đồng. (Trần Thu Nga đã có số sổ là
7409185534; trình độ đại học, ký hợp đồng số 10/2015/HD-AT )
=>Làm thủ tục báo tăng lao động sáu tháng cuối năm + Báo tăng lao động
đóng BHXH, BHYT, BHTN
Ngày 01/07/2015 công ty tiến hành gia hạn thẻ BHYT đã hết hạn cho 8 nhân
viên từ 06/2015-12/2015.(Hoàng Anh Tú, Lê Thu, Lê Minh, Nguyễn Văn Nam,
Phan Minh Tuấn, Nguyễn Thị Lan, Nguyễn Hoàng Long, Lê Trọng Sơn).
Ngày 05/07/2015 khi hợp đồng lao động của các nhân viên có hợp đồng lao
động 6 tháng kết thúc. Công ty tiến hành ký tiếp tục hợp đồng 6 tháng với các nhân
lí, xí nghiệp thuộc nhánh hoặc đại lí BHYT các quận huyện tùy theo hoàn cảnh và
điều kiện của mỗi địa phương.
Đối với BHYT tự nguyện, phạm vi bảo hiểm rộng hơn, bao gồm cả những
dịch vụ y tế đặc biệt như tạo hình thẩm mỹ, phục hồi chức năng, làm chân tay giả,
răng giả, khám chữa bệnh ở nước ngoài...
Về quỹ BHYT, được hình thành chủ yếu từ hai nguồn: thu tiền đóng BHYT
từ các đối tượng tham gia BHYT bắt buộc, tự nguyện và các nguồn khác như từ
ngân sách nhà nước, viện trợ của các tổ chức quốc tế, hội từ thiện, lãi đầu tư (chỉ
được gửi quỳ tiết kiệm hoặc mua trái phiếu)...
Điều lệ BHYT quy định mức đóng đối với BHYT bắt buộc như sau:
+ Đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp, mức đóng BHYT là 10% tổng quỳ
lương cấp bậc (chức vụ), trong đó cơ quan có trách nhiệm đóng 2/3 và cán bộ công
nhân viên đóng 1/3.
+ Đối với các doanh nghiệp, mức đóng BHYT là 3% tổng thu nhập của người
lao động, trong đó doanh nghiệp có trách nhiệm đóng 2/3 và người lao động đóng
1/3.
+ Đối vời người nghỉ hưu và mất sức lao động, mức đóng BHYT là 10%
lương hưu và trợ cấp mất sức do cơ quan BHXH thanh toán.
Các doanh nghiệp có khó khăn vì lí do khách quan, chỉ có khả năng đóng
BHYT thấp hơn mức đóng bình quân quy định chung cho công nhân viên chức thì
phải tìm mọi cách bao gồm cả việc dùng các quỹ cho phép sử dụng hoặc huy động
người lao động đóng góp thêm. Nếu không đóng góp đủ, chỉ được hưởng trợ cấp
BHYT theo tỷ lệ đóng góp.
Sau khi nộp phí, người được BHYT sẽ được cấp thẻ BHYT. Sau này mức
đóng BHYT được quy định thống nhất là 3% tiền lương theo Nghị định số 47-CP
cấp ngày 06-06-1994 của chính phủ. Toàn bộ số tiền đóng góp này được tập trung
về BHYT tỉnh, thành phố.
Đối với BHYT tự nguyện, đóng BHYT theo thỏa thuận của cơ quan BHYT.
80% số tiền đóng này được tập trung về BHYT tỉnh, thành phổ; 20% để lại đại lí
xã phường cho việc chăm sóc sức khởe ban đầu của nhân dân trong đó 15% dùng
khai thác được khoảng 50% đối tượng tham gia BHYT bắt buộc, phần còn lại là
các DN trốn đóng hoặc đóng BHYT không đúng quy định. Chất lượng phục vụ cho
những người tham gia bảo hiểm cũng còn nhiều hạn chế. Nhiều người tham gia