Phân tích các chế tài thương mại và các trường hợp bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm hợp đồng. Cho ví dụ minh họa - Pdf 34

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
Hiện nay, khi đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, đặc biệt là sau khi gia
nhập WTO, các quan hệ kinh tế ngày càng phát triển mạnh mẽ. Cùng với sự phát triển
đó, một nền kinh tế mới đã được mở ra dựa trên sự thiết lập nền tảng pháp lý quyền tự
do kinh doanh trong quan hệ thương mại. Cũng từ đó mà các quan hệ hợp đồng trong
thương mại trở nên đa dạng và phức tạp hơn. Mặt trái của nó là các vi phạm hợp đồng
diễn ra nhiều và phổ biến hơn. Để đảm bảo cam kết giữa các bên được thực hiện hoặc
đền bù những tổn thất đã gây ra cho bên bị thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng, pháp
luật về chế tài thương mại đã ra đời. Các chế tài thương mại đóng vai trò chủ yếu trong
việc hình thành và củng cố thái độ tích cực của các bên khi thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.
Để duy trì tính ổn định, trật tự các bên quan hệ kinh tế, chế tài trong thương mại không
chỉ bảo vệ quyền bình đẳng trong kinh doanh mà còn là biện pháp hữu hiệu để quản lý
hoạt động kinh doanh đối với nền kinh tế quốc gia. Xuất phát từ lý do trên nhóm em đã
chọn đề tài: Phân tích các chế tài thương mại và các trường hợp bên vi phạm hợp
đồng được miễn trách nhiệm hợp đồng. Cho ví dụ minh họa.
NỘI DUNG
I Khái quát chung về chế tài thương mại
1. Khái niệm và đặc điểm chế tài thương mại
Khi một quan hệ hợp đồng thương mại đã được giao kết hợp pháp và phát sinh
hiệu lực pháp luật thì các bên phải thực hiện các nghĩa vụ mà mình đã thỏa thuận trong
hợp đồng. Việc vi phạm các nghĩa vụ trong hợp đồng dẫn đến hậu quả bên vi phạm phải
chịu chế tài thương mại.


Bài tập nhóm số 2

Môn Luật thương mại – Modul 2

Theo Điều 292 LTM 2005, chế tài thương mại được hiểu đó là các biện pháp tác


Lớp N01 – Nhóm 1 – TL 4


Bài tập nhóm số 2

Môn Luật thương mại – Modul 2

Theo khoản 1 Điều 297 LTM 2005: “Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên
bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác
để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh”. Như vậy có
thể hiểu đây là hình thức chế tài mà bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng trong thương mại
phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của bên bị vi phạm.
+ Căn cứ áp dụng chế tài buộc thực hiện đứng hợp đồng chỉ gồm hai yếu tố: có
hành vi vi phạm hợp đồng và có lỗi của bên vi phạm. Theo Điều 297 LTM 2005, bên có
quyền lợi bị vi phạm chỉ có quyền buộc bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng nếu bên
vi phạm có lỗi. Nếu bên vi phạm có hành vi vi phạm hợp đồng nhưng không có lỗi thì
họ không bị áp dụng các hình thức chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng.
+ Các biện pháp buộc thực hiện đúng hợp đồng: theo Điều 297 khi áp dụng chế
tài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có thể lựa chọn hoặc yêu cầu bên bị vi
phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc lựa chọn các biện pháp khác để hợp đồng được
thực hiện và bên bị vi phạm phải chịu chi phí phát sinh. Chế tài buộc thực hiện đúng hợp
đồng thường được đặt ra khi có vi phạm các điều khoản về số lượng, chất lượng hàng
hóa, yêu cầu kỹ thuật của công việc. Khoản 2 Điều 297: “Trường hợp bên vi phạm giao
thiếu hàng hoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng thì phải giao đủ hàng hoặc
cung ứng dịch vụ theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp bên vi phạm giao
hàng hóa, cung ứng dịch vụ kém chất lượng thì phải loại trừ khuyết tật của hàng hóa,
thiếu sót của dịch vụ giao hàng khác thay thế, cung ứng dịch vụ theo đúng hợp đồng,
Bên vi phạm không được dùng tiền hoặc hàng khác chủng loại, loại dịch vụ khác để
thay thế nếu không được sự chấp thuận của bên bị vi phạm”.

Phạt vi phạm hợp đồng được áp dụng ngay cả khi thiệt hại chưa xảy ra. Yếu tố
thiệt hại không có tính chất quyết định đến việc áp dụng chế tài phạt vi phạm. Tuy
nhiên, trong quan hệ hợp đồng, mức độ vi phạm cũng có thể ảnh hưởng tới việc áp dụng
chế tài này. Đó là việc pháp luật cho phép áp dụng xác định khoản tiền phạt dựa trên giá
trị phần hợp đồng bị vi phạm, mức phạt “do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng
không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm” (Điều 301 LTM 2005).
+ Chủ thể có thẩm quyền áp dụng chế tài phạt vi phạm: là bên bị vi phạm hoặc
trong trường hợp có đơn yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết (Tòa án, trọng tài)
thì lúc này các cơ quan được yêu cầu sau khi xem xét tính hợp pháp của đơn kiện sẽ ra
quyết định thực hiện hay không thực hiện chế tài này.
+ Mức phạt vi phạm: Điều 301 LTM 2005 quy định: “Mức phạt đối với vi phạm
nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng hợp mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa
thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm,
trừ trường hợp quy định tại Điều 266 của Luật này”.
Có thể hiểu quy định này là mức phạt thực tế mà các bên có thể đưa ra là 8%
nhưng phải là trên phần nghĩa vụ bị vi phạm. Vì vậy, cần phải xác định được phần nghĩa
vụ bị vi phạm là bao nhiêu để có thể tính toán ra số tiền phạt vi phạm thực tế. Việc hiểu
4

Lớp N01 – Nhóm 1 – TL 4


Bài tập nhóm số 2

Môn Luật thương mại – Modul 2

và chứng minh thế nào là “giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm” hoàn toàn không
đơn giản. Chưa kể việc đánh giá, kết luận trong trường hợp phải đưa ra Tòa án giải
quyết thì hoàn toàn phụ thuộc vào nhận thức chủ quan của Thẩm phán hoặc Hội đồng
xét xử. Ví dụ: Công ty Hưng Thịnh ký hợp đồng bán 3.000 tấn khoai lang vụ hè năm


Bài tập nhóm số 2

Môn Luật thương mại – Modul 2

Biện pháp này trong BLDS 2005 không được xem là một chế tài hợp đồng mà là
một trong những biện pháp đảm bảo thực hiện đúng hợp đồng (Điều 422 BLDS 2005
cho phép các bên thỏa thuận về mức phạt vi phạm). Như vậy việc quy định không thống
nhất, thiết chặt chẽ giữa LTM 2005 và BLDS 2005 dẫn tới việc áp dụng chế tài này
trong từng quan hệ hợp đồng rất khó khăn và nhiều bất cập.
+ Tính chất của chế tài phạt vi phạm hợp đồng: mặc dù mang tính chất tiền tệ
nhưng chế tài phạt vi phạm không chỉ mang mục đích trừng phạt bên vi phạm mà còn góp
phần nâng cao ý thức thực hiện hợp đồng của các bên, phòng ngừa vi phạm hợp đồng.
3. Bồi thường thiệt hại
Bồi thường thiệt hại là hình thức chế tài nhằm khôi phục, bù đắp những lợi ích vật
chất bị mất mát, hư tổn của bên bị vi phạm hợp đồng trong kinh doanh. Điều 302 LTM
2005 định nghĩa: “Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất
do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm”.
+ Căn cứ áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại: LTM 2005 dành hẳn một điều luật
quy định về căn cứ áp dụng đối với loại chế tài này, điều đó cho thấy đây là một loại chế
tài nghiêm khắc bởi vì giá trị bồi thường tổn thất nhiều khi là rất lớn điều này tùy thuộc
vào thiệt hại đã xảy ra do bên vi phạm hợp đồng mà không có giá trị giới hạn bồi thường
như phạt vi phạm. Theo Điều 303 LTM 2005: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát
sinh khi có đủ các yếu tố sau:
1. Có hành vi vi phạm hợp đồng;
2. Có thiệt hại thực tế;
3. Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại”.
Như vậy bên có quyền muốn áp dụng chế tài này đối với bên vi phạm thì phải
chứng minh đã có hành vi không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không
đầy đủ các nghĩa vụ trong hợp đồng của bên đối tác. Phải chứng minh được đã có thiệt

+ Chủ thể có quyền áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại:
Bên bị vi phạm phải chứng minh đã có hành vi vi phạm hợp đồng của bên đối tác;
chứng minh được đã có thiệt hại xảy ra trong thực tế; chứng minh được hành vi vi phạm
và thiệt hại đó có mối quan hệ nội tại, tất yếu với nhau, hành vi vi phạm hợp đồng là
nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại, từ đó mới phát sinh quyền áp dụng chế tài buộc
bồi thường thiệt hại đối với bên vi phạm. Khi hai bên không tự thương lượng, hòa giải
được, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu Tòa án hoặc trọng tài giải quyết. Sau khi xem
xét tính hợp pháp của yêu cầu, các cơ quan này ra quyết định buộc bên vi phạm tuân thủ
các cam kết trong hợp đồng và các quy định của pháp luật.
+ Tính chất của chế tài bồi thường thiệt hại: đây là chế tài mang tính chất tiền tệ
dùng để bù đắp những thiệt hại vật chất thực tế cho bên bị vi phạm. Do đó, số tiền bồi
thường đó phải đảm bảo bồi hoàn, bù đắp và khôi phục lợi ích vật chất bị thiệt hại do
hành vi vi phạm gây ra cho bên bị thiệt hại mà thiệt hại này sẽ không xảy ra khi thực
hiện đúng hợp đồng. Mục đích của nó hoàn toàn khác với phạt vi phạm là dùng để răn
7

Lớp N01 – Nhóm 1 – TL 4


Bài tập nhóm số 2

Môn Luật thương mại – Modul 2

đe, trừng phạt, phòng ngừa và giáo dục các bên tham gia hợp đồng thì bồi thường thiệt
hại có chức năng chủ yếu là bồi hoàn, bù đắp, khôi phục lợi ích vật chất bị thiệt hại cho
bên bị vi phạm.
4. Tạm ngừng, đình chỉ và hủy bỏ hợp đồng
4.1 Tạm ngừng thực hiện hợp đồng
Tạm ngừng thực hiện hợp đồng không được quy định tại LTM 1997, đến LTM
2005 chế tài này đã được quy định bổ sung. Theo đó, tạm ngừng thực hiện hợp đồng là

Môn Luật thương mại – Modul 2

thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu
lực. Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các nghĩa vụ
hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng. Các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ
đã thỏa thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi hủy bỏ
hợp đồng và về giải quyết tranh chấp.
Với chế tài hủy hợp đồng, các bên có quyền đòi lợi ích do việc đã thực hiện phần
nghĩa vụ của mình theo hợp đồng. Nếu các bên đều có nghĩa vụ hoàn trả thì nghĩa vụ
của họ phải được thực hiện đồng thời và trong trường hợp bên có nghĩa vụ không thể
hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì phải hoàn trả bằng tiền. Bên bị vi phạm có quyền
yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật thương mại.
LTM 2005 đã quy định cụ thể các trường hợp được áp dụng chế tài hủy hợp đồng
(trừ các trường hợp miễn trách nhiệm theo quy định của Luật), bao gồm:
+ Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thỏa thuận là điều kiện để hủy hợp đồng;
+ Một bên vi phạm nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng.
Ngoài ra, LTM 2005 còn quy định cụ thể việc hủy bỏ hợp đồng trong trường hợp
giao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần như sau:
+ Trường hợp có thoả thuận về giao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần, nếu một
bên không thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc giao hàng, cung ứng dịch vụ và việc
này cấu thành một vi phạm cơ bản đối với lần giao hàng, cung ứng dịch vụ đó thì bên
kia có quyền tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng đối với lần giao hàng, cung ứng dịch vụ.
+ Trường hợp một bên không thực hiện nghĩa vụ đối với một lần giao hàng, cung
ứng dịch vụ là cơ sở để bên kia kết luận rằng vi phạm cơ bản sẽ xảy ra đối với những lần
giao hàng, cung ứng dịch vụ sau đó thì bên bị vi phạm có quyền tuyên bố huỷ bỏ hợp
đồng đối với những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ sau đó, với điều kiện là bên đó phải
thực hiện quyền này trong thời gian hợp lý.
+ Trường hợp một bên đã tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng đối với một lần giao hàng, cung
ứng dịch vụ thì bên đó vẫn có quyền tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng đối với những lần giao
hàng, cung ứng dịch vụ đã thực hiện hoặc sẽ thực hiện sau đó nếu mối quan hệ qua lại giữa

“1. Bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau:
a) Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận;
b) xảy ra sự kiện bất khả kháng;
c) hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia;
d) Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước có
thảm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.”
1. Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận
Tùy thuộc vào loại hợp đồng, hoàn cảnh thực tế khi ký kết hợp đồng, các bên có
thể lường trước sự vi phạm và thỏa thuận về các trường hợp miễn trách nhiệm. Ví dụ:
các bên có thể thỏa thuận miễn trách nhiệm khi bên bị vi phạm không thực hiện một
phần hay toàn bộ hợp đồng là do sự vi phạm hợp đồng của bên kia như việc chủ hàng
10

Lớp N01 – Nhóm 1 – TL 4


Bài tập nhóm số 2

Môn Luật thương mại – Modul 2

ghi ký mã hiệu, đóng gói không phù hợp, chỉ dẫn kỹ thuật sai, chủ hàng chậm giao
nguyên liệu để bên nhận gia công hoàn thành bàn giao sản phẩm đồng bộ….(1)
2. Xảy ra sự kiện bất khả kháng
Sự kiện bất khả kháng để miễn trách nhiệm hợp đồng được quy định trong Bộ luật
dân sự. Theo khoản 1 Điều 161 Bộ luật dân sự năm 2005 thì: “Sự kiện bất khả kháng
hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện, quyền yêu cầu không thể
khởi kiện, yêu cầu trong phạm vi thời hiệu. Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một
cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã
áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”. Từ quy định này cho thấy một
sự kiện được coi là bất khả kháng (với tính chất là căn cứ để miễn trách nhiệm hợp

Môn Luật thương mại – Modul 2

Trong mọi trường hợp khi người vi phạm muốn được miễn trách nhiệm do không
thực hiện nghĩa vụ thì họ phải chứng minh rằng mình không có lỗi. Theo nguyên tắc
người vi phạm nghĩa vụ đạt được mục đích này chỉ trong trường hợp nếu họ chứng minh
được rằng nghĩa vụ không được thực hiện do những yếu tố khách quan không phụ thuộc
họ gây ra. Điều này có nghĩa là các yếu tố nói trên làm cho việc thực hiện nghĩa vụ trở
thành không thể được. Các yếu tố miễn trừ trách nhiệm dân sự của người vi phạm nghĩa
vụ do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo pháp luật của các nước
Châu Âu lục địa được gọi là yếu tố bất khả kháng.
4. Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý
nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp
đồng
Theo điểm d Khoản 1 Điều 294 LTM 2005 thì có trường hợp miễn trách nhiệm
đối với hành vi vi phạm đó là: khi hành vi vi phạm của một bên là do thực hiện quyết
định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được khi giao kết
hợp đồng. Như vậy, việc một bên vi phạm là do thực hiện quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền mà khi giao kết hợp đồng mà họ không biết, trong trường hợp này
thì bên vi phạm sẽ được miễn trách nhiệm của mình đối với việc thực hiện hợp đồng đối
với bên kia.
Ví dụ: A giao kết hợp đồng mua bán trước với B vào tháng 7 / 2011, theo đó A sẽ
chuyển toàn bộ sản lượng cà phê có trong vườn của A khi đến lúc thu hoạch là vào
tháng 11/2011, nhưng hiện tại vườn cà phê của A chưa chín nhưng các bên đã giao kết
hợp đồng mua bán trước sản lượng cà phê đó. Nhưng sau 2 tháng khi giao kết hợp đồng
thì A nhận được thông báo của cơ quan nhà nước là cần giải phóng mặt bằng toàn bộ
diện tích vườn ca phê của A để xây dựng công trình quan trọng của nhà nước và nhà
nước sẽ bồi thường hợp lí cho việc giải phóng mặt bằng đó. Do vậy, khi đến mùa thu
hoạch thì A đã vi phạm hợp đồng vì không có hàng giao cho B, nhưng A sẽ không phải
chịu trách nhiệm.
IV Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện về chế tài thương mại và các

thương mại hay không? Có ý kiến cho rằng, quy định của BLDS sẽ được áp dụng khi luật
chuyên ngành LTM không điều chỉnh. Có ý kiến khác lại cho rằng do là luật chuyên ngành
điều chỉnh lĩnh vực quan hệ cụ thể lên không thể lấy luật chung là BLDS để điều chỉnh, tức
LTM không nói gì về quyền cầm giữ tài sản thì không được áp dụng là một chế chế tài
trong thương mại. Thiết nghĩ, quyền cầm giữ tài sản cần được ghi nhận trong LTM như một
chế tài trong thương mại cùng với các chế tài đã quy định tại Điều 292 LTM để đảm bảo sự
đồng bộ giữa BLDS và LTM, thống nhất trong quá trình áp dụng và đáp ứng như cầu của
thực tiến thực hiện hợp đồng, bảo vệ quyền lợi của bên bị vi phạm.
Thứ hai, Điều 300 LTM quy định chế tài phạt vi phạm chỉ được áp dụng “nếu
trong hợp đồng có thỏa thuận” liệu có hạn chế sự thỏa thuận của các bên trong quá trình
thực hiện hợp đồng. Xét thấy, tuy ban đầu trong hợp đồng không thỏa thuận về phạt vi
phạm, như sau đó các bên có thỏa thuận mới hoặc một bên thừa nhận vi phạm và chất
13

Lớp N01 – Nhóm 1 – TL 4


Bài tập nhóm số 2

Môn Luật thương mại – Modul 2

nhận mức phạt do bên bị vi phạm đưa ra thì không có lý do gì không chấp nhận sự thỏa
thuận của các bên.
Thứ ba, Điều 301 LTM quy định “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng
hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng
không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại
Điều 266 của Luật này” liệu có hợp lý. Có nhiều ý kiến từ các nhà khoa học và các
thương nhân cho rằng, mức phạt vi phạm tối đa chỉ là 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng
bị vi phạm là quá thấp, không đủ tính rằng đe đối với bên có ý định vi phạm hợp đồng,
đồng thời giới hạn này đã hạn chế quyền sự do thỏa thuận của các bên, tính tự do của


chủ thể tham gia vào quan hệ hợp đồng sẽ biết được chính xác quyền và nghĩa vụ của
mình, từ đó có thể đưa ra những thỏa thuận hợp lý và hợp pháp nhất.
Thứ năm, cách hiểu và áp dụng trường hợp “Xảy ra sự kiện bất khả kháng” – một
trong các trường hợp bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm, còn chưa rõ ràng.
Sự kiện bất khả kháng mới chỉ được giải thích một cách rất ngắn gọn tại khoản 1 Điều
161 BLDS 2005 như sau: “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan
không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện
pháp cần thiết và khả năng cho phép”. Đây là sự giải thích theo phương pháp trừu tượng
hóa, bởi vậy nội dung giải thích rất chung chung, mơ hồ và gây khó khăn cho việc diễn
giải. Đồng thời, sự kiện bất khả kháng lại mới được giải thích tại BLDS, trong khi đó
luật chuyên ngành trực tiếp áp dụng điều chỉnh quan hệ hợp đồng thương mại là LTM
lại không có một chỉ dẫn cụ thể nào. Vậy nên trong thực tiễn áp dụng, việc giải thích và
áp dụng sự kiện bất khả kháng mang nhiều tính chất chủ quan, quan điểm và còn nhiều
khi không được được sự chính xác. Việc giải thích sự kiện bất khả kháng cần áp dụng
phương pháp tổng hợp (kết hợp phương pháp trừu tượng và phương pháp liệt kê) mới
tạo nên sự rõ ràng và cụ thể dễ dàng cho việc áp dung. Theo đó, điểm b khoản 1 Điều
294 LTM 2005 nên sửa đổi theo hướng sau: “Xảy ra các sự kiện như hỏa hoạn, giông
bão, lũ lụt, lốc xoáy, động đất, sụt lở đất, sét đánh, sóng thần, chiến tranh, bạo loạn,
cấm vận, bao vây hoặc các hạn chế khác của chính phủ về xuất khẩu hay nhập khẩu và
các sự kiện bất khả kháng khác, là những sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể
lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần
thiết và khả năng cho phép”.
Thứ sáu, LTM 2005 chưa quy định hướng dẫn cách giải quyết vấn đề một bên
của hợp đồng thương mại vi phạm hợp đồng là do quyết định trái pháp luật của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền. Theo nhóm chúng em, LTM 2005 cần quy định về vấn đề này
theo hướng như sau: bên vi phạm phải chịu trách nhiệm trước bên bị vi phạm, sau đó
bên vi phạm có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền bồi thường thiệt hại do
hành vi trái pháp luật của mình gây ra.
KẾT LUẬN

7. Tạp chí ngân hàng số 21/2010.
8. Wedside: thongtinphapluatdansu.com.
9. Webside: .
10.Webside: />11. Webside: www.tuvanluat.com.vn.

16

Lớp N01 – Nhóm 1 – TL 4


Bài tập nhóm số 2

Môn Luật thương mại – Modul 2

17

Lớp N01 – Nhóm 1 – TL 4




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status