Header Page 1 of 126.
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÀO MINH DŨNG
BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT NGƯỜI THEO PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM.
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hải Dương)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2016
Footer Page 1 of 126.
Header Page 2 of 126.
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐÀO MINH DŨNG
BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT NGƯỜI THEO PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM.
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hải Dương)
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số
: 60 38 01 04
BẮT NGƢỜI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM ........................... 10
1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn và biện biện pháp ngăn chặn bắt ngƣời
trong tố tụng hình sự Việt Nam................................................................... 10
1.2 Những yêu cầu và vai trò của biện pháp ngăn chặn bắt ngƣời ............. 16
1.3. Biện pháp ngăn chặn bắt ngƣời trong tố tụng hình sự Việt Nam từ năm
1945 đến năm 2003. .................................................................................... 21
Chƣơng 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003
VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT NGƢỜI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HẢI DƢƠNG. ......................................................... 29
2.1. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về biện pháp ngăn
chặn bắt ngƣời. ............................................................................................ 29
2.2. Thực tiễn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về
biện pháp ngăn chặn bắt ngƣời trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng ..................... 56
Chƣơng 3: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THI HÀNH ĐÚNG
BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT NGƢỜI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
VIỆT NAM. .................................................................................................... 68
3.1. Các yêu cầu bảo đảm thi hành đúng biện pháp ngăn chặn bắt ngƣời
trong tố tụng hình sự Việt Nam................................................................... 68
3.2. Các giải pháp bảo đảm thi hành đúng biện pháp ngăn chặn bắt ngƣời
trong tố tụng hình sự ................................................................................... 80
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 95
1
Footer Page 4 of 126.
Header Page 5 of 126.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Header Page 6 of 126.
DANH MỤC BẢNG, HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
STT
1
2
3
4
Tên bảng và biểu đồ
Trang
Bảng 2.1: Số đối tƣợng áp dụng BPNC bắt ngƣời tại tỉnh Hải Dƣơng 56
năm 2011-2015.
Biểu đồ 2.2: Số lƣợng các đối tƣợng bị bắt từ năm 2011-2015
57
Biểu đồ số 2.3: Số lƣợng đối tƣợng bị bắt theo các hình thức bắt từ 58
năm 2011-2015
Biểu đồ 2.4: Tƣơng quan các hình thức bắt từ năm 2011 - 2015
3
Footer Page 6 of 126.
59
hình sự.
4
Footer Page 7 of 126.
Header Page 8 of 126.
Thực tế trong những năm qua việc áp dụng BPNC bắt ngƣời trong quá
trình điều tra, giải quyết vụ án hình sự của Cơ quan điều tra (CQĐT) trong cả
nƣớc nói chung cũng nhƣ địa bàn Hải Dƣơng nói riêng còn những hạn chế
nhất định, dẫn đến hậu quả bỏ lọt tội phạm, làm oan ngƣời vô tội, vi phạm
nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, hiểu đúng và thống nhất các
quy định của BLTTHS về BPNC bắt ngƣời là điều cần thiết giúp cơ quan
pháp luật nâng cao hiệu quả trong việc điều tra, xét xử và thi hành án hình sự.
Tuy nhiên, cho đến nay, chƣa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về
BPNC bắt ngƣời với tính chất là một trong những BPNC theo pháp luật
TTHS Việt Nam từ thực tiễn của tỉnh Hải Dƣơng. Từ những lý do nêu trên,
tác giả chọn đề tài "Biện pháp ngăn chặn bắt người theo pháp luật tố tụng
hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hải Dương)" làm luận
văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về BPNC bắt ngƣời. Các
nghiên cứu này đã đƣợc thể hiện trong công trình khoa học đƣợc công bố trên
sách, báo, tạp chí chuyên ngành và luận văn thạc sĩ, một số giáo trình giảng
dạy môn pháp luật, phần lớn đã tập trung làm rõ đƣợc các vấn đề lý luận và
pháp lý có liên quan. Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của các tác giả:
Nguyễn Vạn Nguyên có công trình "Các biện pháp ngăn chặn và
những vấn đề nâng cao hiệu quả của chúng" (Nhà xuất bản Công an nhân
dân, Hà Nội, 1995);
Nguyễn Văn Điệp: Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam
- Cơ sở pháp lý của BPNC bắt ngƣời trong TTHS;
- Thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về
BPNC bắt ngƣời trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng.
- Những điểm mới trong BLTTHS năm 2015 về BPNC bắt ngƣời và
những giải pháp bảo đảm áp dụng đúng BPNC bắt ngƣời .
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Do tính chất phức tạp và rộng lớn của đề tài, luận văn xác định phạm vi
nghiên cứu nhƣ sau:
- Về pháp luật TTHS Việt Nam từ năm 1945 đến nay
+ Nghiên cứu thực tiễn áp dụng BPNC bắt ngƣời trên địa bàn tỉnh Hải
Dƣơng.
- Về thời gian: Từ năm 2011 đến 2015.
7
Footer Page 10 of 126.
Header Page 11 of 126.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
- Phƣơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác
– Lênin; tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ
nghĩa;
5.2 Các phương pháp nghiên cứu
Các phƣơng pháp truyền thống phù hợp với việc nghiên cứu đề tài; cụ
thể:
- Phƣơng pháp phân tích, so sánh luật học, bình luận… đƣợc sử dụng
để tìm hiểu những vấn đề lý luận về BPNC bắt ngƣời theo pháp luật TTHS
Việt Nam.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Những vấn đề chung về biện pháp ngăn chặn bắt ngƣời
trong tố tụng hình sự Việt Nam.
Chƣơng 2: Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về biện
pháp ngăn chặn bắt ngƣời và thực tiễn thi hành trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng.
Chƣơng 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm thi hành đúng biện pháp
ngăn chặn bắt ngƣời trong tố tụng hình sự Việt Nam.
9
Footer Page 12 of 126.
Header Page 13 of 126.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN BẮT
NGƢỜI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn và biện biện pháp ngăn chặn
bắt ngƣời trong tố tụng hình sự Việt Nam
1.1.1 Khái niệm biện pháp ngăn chặn
“BPNC là một trong những chế định quan trọng trong luật TTHS nƣớc
ta” [4, tr7]. Các BPNC mang tính cƣỡng chế nghiêm khắc để kịp thời ngăn
chặn hành vi phạm tội, ngăn ngừa ngƣời phạm tội, bị can, bị cáo tiếp tục thực
hiện hành vi phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành vi gây khó khăn, cản
trở quá trình điều tra, truy tố, xét xử cũng nhƣ để đảm bảo thi hành án. Các
BPNC khi đƣợc áp dụng sẽ ảnh hƣởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của
công dân đƣợc ghi nhận trong Hiến pháp. Việc áp dụng các BPNC gắn liền
với sự hạn chế một số quyền và tự do cá nhân đối với bị can, bị cáo, ngƣời có
liên quan đến việc thực hiện tội phạm, nhƣng lại bảo về đƣợc quyền và lợi ích
trốn hoặc gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án nhƣ:
Bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cƣ trú, bảo lĩnh và
đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm;
- Nhóm 2: Gồm những biện pháp bảo đảm cho việc
thu thập và ghi nhận chứng cứ nhƣ: Khám xét ngƣời, khám
xét chỗ ở, địa điểm nơi làm việc, khám nghiệm hiện trƣờng,
xem xét dấu vết trên thân thể...;
- Nhóm 3: Gồm những biện pháp bảo đảm thuận lợi
cho quá trình tiến hành tố tụng đƣợc diễn ra bình thƣờng và
thuận lợi nhƣ: Kê biên tài sản, áp giải bị can, bị cáo, ngƣời
bị kết án, dẫn giải ngƣời làm chứng, những biện pháp xử lý
do Thẩm phán chủ tọa phiên tòa áp dụng đối với ngƣời có
hành vi vi phạm nội quy phiên tòa [66, tr 193-194].
Trong khoa học luật TTHS Việt Nam cũng có những khái niệm khác
nhau về biện pháp ngăn chặn.
Theo Từ điển Luật học giải thích biện pháp ngăn chặn là:
Biện pháp cƣỡng chế về mặt TTHS áp dụng khi có
đủ căn cứ đối với bị can, bị cáo hoặc ngƣời chƣa bị khởi tố
trong trƣờng hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để ngăn
11
Footer Page 14 of 126.
Header Page 15 of 126.
chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp
tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản
trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án [73, tr.69].
Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của trƣờng Đại học Luật Hà Nội đƣa
ra khái niệm:
khẩn cấp; bắt ngƣời phạm tội quả tang; Bắt ngƣời có lệnh truy nã); Tạm giữ;
Tạm giam; Cấm đi khỏi nơi cƣ trú; Bảo lĩnh; Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để
bảo đảm. Mỗi BPNC có những quy định cụ thể về đối tƣợng, thẩm quyền, thủ
tục áp dụng, do đó tùy từng trƣờng hợp để áp dụng BPNC để đạt hiệu quả
trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm.
1.1.2 Khái niệm về biện pháp ngăn chặn bắt người
Theo Từ điển Luật học thì:
Bắt là một trong những biện pháp ngăn chặn mà
CQĐT, Viện kiểm sát (VKS) hoặc Tòa án (TA) áp dụng
khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho
việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội
cũng nhƣ khi thấy cần thiết để đảm bảo thi hành án [73,
tr 44].
Bắt ngƣời trong TTHS là giữ ngƣời thực hiện hành vi phạm tội, không
cho ngƣời đó tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, đề phòng ngƣời đó bỏ trốn
hoặc gây khó khăn cho hoạt động điều tra, xét xử và thi hành án.
Hoạt động bắt ngƣời luôn là vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị,
xã hội vì bắt ngƣời đúng hay không đúng các quy định của pháp luật có liên
quan và ảnh hƣởng đến những quyền cơ bản của công dân: Quyền bất khả
xâm phạm về thân thể, quyền đƣợc bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự,
nhân phẩm…của công dân, liên quan đến đƣờng lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nƣớc.
Với ý nghĩa và tầm quan trọng của việc bắt ngƣời nhƣ vật nên thời gian
trƣớc đây Nhà nƣớc đã ban hành nhiều văn bản pháp luật TTHS quy định chi
tiết về việc bắt ngƣời nhƣ: Luật số 103-SL/005 ngày 20/5/1957, Sắc luật số
002-SLT ngày 18/6/1957; Sắc luật số 02-SL ngày 15/3/1976; Bộ luật TTHS
năm 1988-Bộ luật TTHS đầu tiên của nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. BPNC bắt ngƣời một chế định pháp lý quan trọng trong TTHS nƣớc ta.
Việc quy định và thi hành đúng đắn BPNC bắt ngƣời là bảo đảm rất quan
13
đối với bị can, bị cáo, ngƣời đang bị truy nã và trong trƣờng
hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang thì áp dụng cả đối với
ngƣời chƣa bị khởi tố về hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn
hành vi phạm tội của họ, ngăn ngừa họ trốn tránh pháp luật,
14
Footer Page 17 of 126.
Header Page 18 of 126.
tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi
hành án hình sự. [66, tr200].
Quan điểm nhƣ trên về BPNC bắt ngƣời trong TTHS đã đƣa ra đƣợc
những dấu hiệu đặc trƣng của của BPNC bắt ngƣời nhƣng chƣa đƣa ra chủ thể
tiến hành BPNC bắt ngƣời và cho rằng một trong những mục đích của bắt
ngƣời là tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành
án hình sự.
Còn theo Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trung tâm Đào tạo từ
xa Đại học Mở Hà Nội:
Bắt ngƣời là BPNC trong TTHS do CQĐT, VKS, TA
áp dụng đối với bị can, bị cáo và có thể đối với ngƣời chƣa bị
khởi tố nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa việc ngƣời phạm
tội trốn tránh pháp luật, bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét
xử và thi hành án hình sự đƣợc thuận lợi và đúng pháp luật
[65, tr.214].
Quan điểm nhƣ trên về BPNC bắt ngƣời trong TTHS là chƣa đƣa ra
đƣợc hết các đối tƣợng áp dụng nhƣ ngƣời bị truy nã.
Từ những phân tích trên, tác giả xin đƣa ra khái niệm BPNC bắt ngƣời
trong TTHS nhƣ sau:
BPNC bắt người là BPNC trong TTHS do cơ quan, người có thẩm
1.2 Những yêu cầu và vai trò của biện pháp ngăn chặn bắt ngƣời
1.2.1 Những yêu cầu của biện pháp ngăn chặn bắt người.
“Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân là một trong những
giá trị cao nhất trong xã hội cần phải đƣợc bảo vệ trƣớc hết và với mức độ cao
nhất trong tất cả các lĩnh vực của đời sống nhà nƣớc và đời sống xã hội, trong
đó có cả lĩnh vực tƣ pháp hình sự” [71, tr17]. Chính vì vậy, BPNC bắt ngƣời
đƣợc quy định rất chặt chẽ trong BLTTHS, là cơ sở cho hoạt động bắt ngƣời
trên thực tiễn, tránh vận dụng biện pháp bắt ngƣời một cách tuỳ tiện, dẫn đến
bắt oan ngƣời vô tội, bắt không đúng thủ tục, bắt trái thẩm quyền.
a, Yêu cầu chính trị
Bắt ngƣời luôn là vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị - xã hội, bắt
ngƣời đúng hay không đúng quy định của pháp luật, bắt oan sai có ảnh hƣởng
trực tiếp đến những quyền cơ bản của công dân, liên quan đến đƣờng lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc. Hiện nay, có rất nhiều những
16
Footer Page 19 of 126.
Header Page 20 of 126.
thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nƣớc đang tìm mọi cách để chống
phá Nhà nƣớc ta.
Hoạt động bắt ngƣời phải đảm bảo tốt cho nhiệm vụ chính trị của Đảng
và Nhà nƣớc và của địa phƣơng trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển
của đất nƣớc.
Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và việc áp dụng
BPNC bắt ngƣời trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đều nhằm mục đích
bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội. Xuất phát từ yêu cầy này,
Đảng, Nhà nƣớc đã có các hƣớng dẫn, chỉ đạo những hoạt động bắt ngƣời liên
quan đến các đối tƣợng có ảnh hƣởng lớn đến đời sống chính trị, kinh tế và xã
trong dƣ luận, dễ bị các thế lực phản động, thù địch trong và ngoài nƣớc
xuyên tạc để chống lại nhà nƣớc. Vì vậy, những tài liệu chứng cứ để bắt
ngƣời cần thu thập qua quá trình điều tra xác minh, cũng có thể thu thập bằng
những biện pháp nghiệp vụ. Trong quá trình thực hiện hoạt động bắt cần phải
tuân thủ đúng các điều kiện do luật định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền.
BPNC bắt ngƣời về bản chất là biện pháp cƣỡng chế, tác động trực tiếp
đến quyền tự do thân thể của công dân tuy nhiên lại không nhằm xâm phạm
đến thân thể họ nhƣ là sự trừng phạt hành vi họ đã thực hiện mà chỉ nhằm
mục đích ngăn chặn tội phạm diễn ra và hạn chế sự nguy hiểm cho xã hội. Vì
vậy, cơ quan tiến hành tố tụng không đƣợc xâm phạm tới danh dự, nhân phẩm
của ngƣời bị bắt. Không đƣợc dựa vào các tài liệu chƣa đƣợc kiểm tra, xác
minh hay dựa trên ý chí chủ quan làm căn cứ để thực hiện hoạt động bắt dẫn
đến tình trạng oan, sai, bỏ lọt tội phạm gây hậu quả nghiêm trọng về nhiều
mặt. Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành hoạt động bắt ngƣời, cơ quan, ngƣời
có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần phải biết vận dụng linh hoạt, đúng pháp
luật trong từng trƣờng hợp bắt cụ thể. Để làm đƣợc điều đó cơ quan, ngƣời
tiến hành tố tụng cần nắm vững các quy định của pháp luật về BPNC bắt
ngƣời và áp dụng chúng một cách chính xác, triệt để và đúng pháp luật.
Cc, Yêu cầu về nghiệp vụ
Điều tra là hoạt động có mục đích khám phá sự thật khách quan phục
vụ nhu cầu của con ngƣời. Trong hoạt động điều tra, BPNC bắt ngƣời là một
trong những biện pháp cƣỡng chế của Nhà nƣớc để trấn an, ngăn chặn hành vi
phạm tội và có vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm,
trốn tránh pháp luật cũng nhƣ gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.
18
Footer Page 21 of 126.
Header Page 22 of 126.
Footer Page 22 of 126.
Header Page 23 of 126.
có hành động chuẩn bị đến khi phạm tội là khoảng thời gian rất ngắn, nếu
không ngăn chặn kịp thời thì tội phạm sẽ xảy ra.
Quy định và thi hành BPNC bắt ngƣời trong TTHS có vai trò lớn trong
việc đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm:
Một là, “BPNC bắt ngƣời thể hiện sự chuyên chính của nhà nƣớc xã
hội chủ nghĩa trong việc đấu tranh, phòng chống tội phạm” [66, tr.195].
Khái niệm tội phạm đƣợc quy định rõ ràng trong Bộ luật hình sự
(BLHS) hiện hành là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây ra hoặc đe dọa gây ra
những thiệt hại cho những quan hệ xã hội quan trọng đƣợc luật hình sự bảo
vệ. Tội phạm trực tiếp hoặc gián tiếp xâm hại đến sự bền vững và ổn định của
chế độ nhà nƣớc, chế độ kinh tế-chính trị và xã hội, đến tính mạng, sức khỏe,
tự do, danh dự, nhân phẩm và tài sản của công dân cũng nhƣ những quy tắc
của cuộc sống trong xã hội chủ nghĩa.
Quy định BPNC bắt ngƣời là thể hiện đƣờng lối, chính sách của nhà
nƣớc ta trong việc xử lý những hành vi phạm tội và thể hiện thái độ kiên
quyết, triệt để của nhà nƣớc trong việc đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
Hai là, “bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng đƣợc thuận lợi, góp phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu
quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm” [66, tr.195].
Hiện nay, nhiều vụ án do tính chất phức tạp, ngƣời thực hiện hành vi
phạm tội cố tình trốn tránh, gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và
thi hành án. Do đó, việc áp dụng BPNC bắt ngƣời nhằm ngăn chặn kịp thời và
có hiệu quả ngay từ đầu những hành vi thực hiện tội phạm hoặc hành vi trốn
tránh, gây khó khăn cho việc xử lý ngƣời phạm tội. Cùng với đó, việc bắt các
đối tƣợng này góp phần hạn chế đến mức thấp nhất những khó khăn mà ngƣời
ngoài, bảo vệ chính quyền cách mạng, Nhà nƣớc đã ban hành nhiều văn bản
pháp luật quy định về những BPNC mà cụ thể là BPNC bắt ngƣời và sử dụng
biện pháp này nhƣ phƣơng tiện sắc bén để đấu tranh chống Việt gian, phản
động và những tội phạm nguy hiểm khác. Tuy nhiên, thời kỳ này chƣa có các
văn bản quy định riêng về BPNC bắt mà mới chỉ đƣợc quy định xen kẽ trong
những văn bản pháp luật, một số cơ quan tƣ pháp đƣợc ra đời liên quan đến
việc bắt đƣợc quy định: Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 về tổ chức TA và
ngạch Thẩm phán; Sắc lệnh 23/SL ngày 21/02/1946 thành lập Việt Nam Công
an vụ. Theo Sắc lệnh này thì lực lƣợng Công an vụ có nhiệm vụ “Điều tra về
21
Footer Page 24 of 126.
Header Page 25 of 126.
những hành động trái phép và truy tìm ngƣời can phạm để giúp TA trong sự
trừng trị”; Sắc lệnh số 131/SL ngày 20/07/1946 về tổ chức bộ máy Tƣ pháp
Công an tại Điều thứ 2: “Tƣ pháp Công an có nhiệm vụ truy tầm tất cả các sự
phạm pháp (đại hình, tiểu hình hoặc vi cảnh), sƣu tập các tang chứng, bắt giao
ngƣời phạm pháp cho các TA xét xử trong phạm vi luật pháp ấn định”[11];
Sắc lệnh số 85/Sl ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tƣ pháp thì: “Tƣ pháp
Công an có nhiệm vụ bắt ngƣời phạm pháp và giao cho các TA xét xử”[12].
Nội dung của các văn bản trên thể hiện rõ quan điểm của Chính quyền Nhà
nƣớc Việt Nam dân chủ Cộng hòa là tôn trọng và bảo vệ quyền tự do thân thể
của nhân dân đối với các phần tử xâm phạm đến lợi ích và sự an toàn của Nhà
nƣớc.
Sau ngày miền Bắc giải phóng (1954), đây là thời kỳ miền Bắc hoàn
toàn đƣợc giải phóng và bƣớc vào khôi phục kinh tế, tiến hành cải tạo xã hội
chủ nghĩa, chuẩn bị cho việc xây dựng và thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ
nhất.