ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ CÔNG CHUNG
CHÍNH SÁCH CỦA HÀN QUỐC ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ QUỐC TẾ
Hà Nội - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ CÔNG CHUNG
CHÍNH SÁCH CỦA HÀN QUỐC ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2016
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Mã số: 60310206
Người hướng dẫn khoa học: Tiến sỹ Hoàng Minh Hằng
Hà Nội -2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Kết quả
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài .................................................... 2
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................. 8
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 9
5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................. 10
6. Đóng góp của đề tài..................................................................................... 10
6.1 Về mặt khoa học ........................................................................................ 10
6.2. Về mặt thực tiễn........................................................................................ 11
7. Kết cấu luận văn: ......................................................................................... 11
Chương 1. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG TỚI CHÍNH SÁCH CỦA
HÀN QUỐC ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC KỂ TỪ NĂM 2000 .................... 12
1.1 KHÁI QUÁT CHÍNH SÁCH CỦA HÀN QUỐC ĐỐI VỚI TRUNG
QUỐC TRƯỚC NĂM 2000 ........................................................................... 12
1.1.1 Giai đoạn trước khi hai nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao
1992 ................................................................................................................. 12
1.1.2 Giai đoạn từ năm 1992 đến năm 2000................................................... 14
1.2 BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC BƯỚC VÀO THẾ KỶ XXI ............ 17
1.2.1 Bối cảnh quốc tế ..................................................................................... 17
1.2.2 Bối cảnh khu vực .................................................................................... 19
1.2.3. Chính sách của Mỹ đối với Trung Quốc ............................................... 22
1.2.4 Điều chỉnh chính sách của Trung Quốc chi phối tới quan hệ hai nước ........ 27
1.3 BỐI CẢNH BÊN TRONG ........................................................................ 29
1.3.1. Tình hình Hàn Quốc kể từ năm 2000 .................................................... 29
1.3.2. Định hướng điều chỉnh chính sách trong quan hệ với Trung Quốc ......... 31
Chương 2. MỘT SỐ NỘI DUNG CHÍNH SÁCH CỦA HÀN QUỐC ĐỐI
VỚI TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2016 ...... 35
2.1 CHÍNH SÁCH TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ ..................................... 35
2.1.1 Xây dựng mối quan hệ hữu nghị với Trung Quốc.................................. 35
Asian Infrastructure Investment Bank:
Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á
ARF
ASEAN
ASEAN Regional forum: Diễn đàn an ninh khu vực
Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á
ASEM
Asia-Europe Meeting
Hội nghị thượng định Á - Âu
FTA
Free Trade Agreement
Hiệp định Thương mại tự do
EAS
East Asian Summit
Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á
GDP
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hàn Quốc và Trung Quốc là hai quốc gia láng giềng ở Đông Á rất gần
gũi về địa lý và có nhiều điểm tương đồng về lịch sử và văn hóa cũng như
phong tục tập quán. Tuy nhiên, quan hệ hai nước cho đến trước khi Chiến
tranh lạnh kết thúc đã trải qua nhiều thăng trầm và bị gián đoạn trong suốt
một thời gian dài. Nguyên nhân chính ngoài rào cản về ý thức hệ còn do
những tính toán, cân nhắc về lợi ích trong quan hệ quốc tế của mỗi nước.
Sau khi ký kết Thông cáo chung bình thường hóa quan hệ vào năm 1992,
quan hệ Hàn - Trung ngày càng phát triển mạnh mẽ. Có thể thấy, chỉ chưa
đầy 20 năm hai nước đã nâng cấp từ quan hệ "đối tác hợp tác" (1998) lên
"đối tác hợp tác toàn diện" (2003) và tiếp đó là "quan hệ đối tác chiến lược"
(2008) và "đối tác chiến lược đi vào thực chất" (2013). Không chỉ phát triển
mạnh quan hệ song phương cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, sự ràng buộc đan
xen về lợi ích quốc gia giữa Hàn Quốc và Trung Quốc cũng ngày càng lớn.
Mặc dù vậy, cả Trung Quốc và Hàn Quốc đều là những cường quốc đang
trỗi dậy mạnh mẽ, nên giữa hai nước không tránh khỏi những mâu thuẫn va
chạm, tranh giành về lợi ích quốc gia. Hiện nay, giữa Hàn Quốc và Trung
Quốc đang tồn tại tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với bãi đá Ieodo/Tô
Nham, dù rằng không quá căng thẳng như tranh chấp quần đảo Điếu
Ngư/Xen-ca-cư giữa Trung Quốc với Nhật Bản ở biển Hoa Đông hay tranh
chấp giữa Trung Quốc với các nước ASEAN ở Biển Đông, nhưng việc gần
đây Trung Quốc chuyển từ "giấu mình chờ thời" sang giai đoạn "hành động
quyết đoán" trong giải quyết tranh chấp lãnh thổ khiến Hàn Quốc lo ngại.
Trong khi đó, sự tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc và việc giải quyết vấn đề
phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên lại phụ thuộc rất lớn vai trò của
Trung Quốc. Vì vậy, mục tiêu trong chính sách của Hàn Quốc là xây dựng
mối quan hệ chính trị tốt đẹp với Trung Quốc làm nền tảng để tăng cường
1
2
thúc đẩy đi vào chiều sâu. Liên quan đến đề tài của luận án, trong phạm vi các
công trình và tài liệu có thể tiếp cận được, xin tổng hợp lại như sau:
Nhóm thứ nhất, những công trình nghiên cứu về chính sách của Hàn
Quốc đối với Trung Quốc trên lĩnh vực chính trị - đối ngoại tiêu biểu là:
"South Korea Seeks to Balance Relations with China and the United States"
(Han Suk-hee, Hàn Quốc tìm cách cân bằng trong quan hệ với Trung Quốc và
Mỹ) (Đại học Yonsei 11/2012); "Relations between the Republic of Korea
and the People’s Republic of China: Comtemporary realities and trends"
(Sira, Quan hệ giữa Cộng hòa Hàn Quốc và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa:
Thực tại và tương lai) (2015); "China-Korea Relations: Prospects for a
Strategic Partnership?" (Scott A. Snyder, Quan hệ Trung Quốc – Hàn Quốc:
Triển vọng cho một đối tác chiến lược) (9/2015); "The Korean Peninsula—
Balancing Relations with the United States and China" (Bán đảo Triều Tiên
cân bằng quan hệ với Mỹ và Trung Quốc), (Tạp chí East Asian Strategic
Review, 03/006)... Nhóm những công trình nghiên cứu này trên cơ sở phân
tích bối cảnh quốc tế, khu vực và những nước lớn làm thay đổi đường lối đối
ngoại của Hàn Quốc từ chính sách thân Mỹ, đồng minh của Mỹ tại khu vực
Đông Bắc Á đã dần từng bước điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình trở
nên độc lập, tự chủ, ngày càng thân thiện, cân bằng hơn với Trung Quốc
nhằm xây dựng một môi trường hòa bình ổn định và phát triển trong khu vực
có lợi cho việc giải quyết vấn đề trên bán đảo Triều Tiên và sự nghiệp thống
nhất tổ quốc của Hàn Quốc. Bên cạnh đó, những nghiên cứu còn đề cập tới
những thách thức của Hàn Quốc trong việc lựa chọn giải quyết mối quan hệ
đồng minh Hàn – Mỹ và quan hệ đối tác chiến lược Hàn - Trung.
Nhóm thứ hai, một số nghiên cứu trên lĩnh vực kinh tế - thương mại giữa
hai nước gồm có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu: "South Korea's
Economic Dependence on China" (Steven Denney, Sự phụ thuộc kinh tế của
4
Nhân dân Triều Tiên, trong đó nổi bật là các công trình như: "东北亚安全形
势与中韩关系" (Xu hướng an ninh Đông Bắc Á và quan hệ Trung – Hàn,
Tạp chí Hòa bình và phát triển, số 5/2110); "试论―六方会谈‖与韩中关系"
(Lý Nhạn Ngọc, Bàn về đàm phán 6 bên và quan hệ Hàn – Trung) (6/2010); "
韩国李明博政府与中韩关系" (Văn Chính Nhân và Lý Xuân Phúc, Chính
phủ Ly Miêng Pắc và quan hệ Trung – Hàn); "中韩如何避免萨德危机升级
? " (Trung – Hàn làm thế nào để tránh những ảnh hưởng tiêu cực của
THAAD)...... Những nội dung nghiên cứu này phản ánh quan điểm của Chính
phủ Hàn Quốc đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc; những quan ngại về tốc độ
hiện đại hóa quốc phòng quá nhanh của Trung Quốc và tham vọng chủ quyền
lãnh thổ của Trung Quốc; thực tại tình hình an ninh khu vực Đông Bắc Á;
nhân tố để Hàn Quốc thúc đẩy hợp tác quốc phòng an ninh với Trung Quốc
đó là vấn đề phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên và hướng tới xây dựng
một khu vực hòa bình ổn định và phát triển ở khu vực Đông Bắc Á... Tuy
nhiên, vấn đề chương trình hạt nhân và những hành động gần đây của nhà
lãnh đạo Triều Tiên Kim Châng Un đã tác động tiêu cực đến quan hệ Hàn –
Trung sau khi Trung Quốc đồng minh truyền thống và quốc gia có ảnh hưởng
nhất đối với Triều Tiên không thể thuyết phục để Triều Tiên từ bỏ chương
trình hạt nhân và tên lửa của mình đã quyết định đàm phán với Mỹ xây dựng
hệ thống tên lửa đánh chặn tầm cao giai đoạn cuối (THAAD) trên lãnh thổ
Hàn Quốc.
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Hàn Quốc được đánh giá là mẫu hình thành công trong những nỗ lực kết
giao với các nước lớn trên thế giới nhờ chính sách đối ngoại tích cực, linh hoạt
chỗ duy trì "quan hệ băng giá" với các nước XHCN (Trung Quốc, CHDCND
Triều Tiên) trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Hàn Quốc đã chủ động đa dạng hóa
6
quan hệ khi tình hình quốc tế trở nên hòa dịu. Các tác giả cũng khẳng định, với
chính sách đối ngoại linh hoạt, Hàn Quốc đang giữ thế chủ động trong việc đưa
Đông Bắc Á tiến vào kỷ nguyên hòa bình và thịnh vượng thông qua 3 bước: (1)
Theo đuổi giao lưu và hợp tác liên Triều, (2) thiết lập hệ thống hợp tác kinh tế khu
vực và (3) xây dựng cơ sở hạ tầng cho một trung tâm giao vận và kinh tế... Ngoài
ra, một số bài viết của Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN), như: "Chính sách ngoại
giao cân bằng của Hàn Quốc" (Tin tham khảo thế giới, 25/6/2005); "Chính sách
đối ngoại của Hàn Quốc - thực dụng và có trọng điểm" (Tin thế giới, 21/01/2008);
"Quan hệ Trung - Hàn trong bối cảnh 'trở lại châu Á' của Mỹ",
(website:Nghiencuubiendong, 10/9/2015); "Tổng thống đắc cử Hàn Quốc nhấn
mạnh chính sách đối ngoại tăng cường hợp tác" (Tin thế giới 18/01/2008)...
Những tài liệu nói trên phân tích và làm rõ hai đặc điểm trọng yếu của ngoại giao
Hàn Quốc, đó là: "ngoại giao vì sự ổn định kinh tế" và "ngoại giao tranh thủ sự
ủng hộ của thế giới" của Hàn Quốc. Nỗ lực tăng cường quan hệ với các đối tác để
giảm áp lực về thiếu hụt năng lượng, tài nguyên và xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế
quốc tế cũng là nội dung mấu chốt trong chính sách đối ngoại của Hàn Quốc.
Nhóm thứ hai, mang tính chất khái lược về lịch sử đi đến chính thức thiết
lập quan hệ hai nước và sự ràng buộc đan xen về lợi ích giữa hai quốc gia này
trên một số lĩnh vực, tiêu biểu là các bài viết: "Quan hệ Trung Quốc – Hàn Quốc
kể từ khi bình thường hóa quan hệ" của Hoàng Minh Hằng (Tạp chí nghiên cứu
Nhật Bản và Đông Bắc Á, 10/2005); "Quan hệ với Trung Quốc là chìa khóa mở
ra tương lai cho Hàn Quốc" của Võ Hải Thanh (website:cks.inas.gov.vn, ngày
7/9/2012); "Mối quan hệ Seoul – Bắc Kinh: Hôm qua và ngày mai"
(website:cks.inas.gov.vn, ngày 24/10//2012)… Đi sâu luận giải về nguyên nhân
của quá trình đi đến bình thường hóa quan hệ Hàn – Trung muộn hơn so với các
tiếp tục kế thừa và phát triển.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
8
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài phân tích làm rõ một cách hệ thống và toàn diện chính sách của Hàn
Quốc đối với Trung Quốc giai đoạn 2000 - 2016 trên một số lĩnh vực quan trọng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên, người nghiên cứu sẽ thực hiện những nhiệm
vụ cơ bản sau:
- Trình bày cơ sở hình thành chính sách đối ngoại của Hàn Quốc đối
với Trung Quốc giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2016; trong đó, phân tích
khái quát về chính sách của Hàn Quốc theo từng giai đoạn (1948 – 1992)
kể từ khi Hàn Quốc lập quốc cho đến khi hai nước chính thức thiết lập
quan hệ ngoại giao; giai đoạn sau khi bình thường hóa quan hệ đến năm
2000. Đồng thời, nêu bật những chuyển biến mới của tình hình quốc tế,
khu vực và trong nước từ sau Chiến tranh lạnh.
- Nhận diện và phân tích những nội dung chủ yếu trong chính sách của
Hàn Quốc đối với Trung Quốc từ năm 2000 đến năm 2016; qua đó, nêu lên
những điều chỉnh chiến lược trong chính sách của nước này trên các lĩnh vực
hợp tác song phương.
- Rút ra nhận xét, đánh giá về chính sách của Hàn Quốc trên cả hai mặt
thành công và hạn chế. Trên cơ sở đó, đúc kết những bài học kinh nghiệm trong
việc điều chỉnh chính sách đối ngoại cho Hàn Quốc và Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Chính sách của Hàn Quốc đối với Trung Quốc giai đoạn từ năm 2000
đến năm 2016.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
rút ra một số nhận xét về chính sách đối ngoại của Hàn Quốc trong giai đoạn này
(đặc biệt là những thành công đạt được và hạn chế cơ bản của các chính sách).
10
- Nhận biết sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Hàn Quốc trong việc
xích lại gần hơn với Trung Quốc để cân bằng với Mỹ từ những năm đầu của
thế kỷ XXI. Trên cơ sở đó, xác định một số vấn đề đặt ra cho Hàn Quốc và
liên hệ đối với Việt Nam trong lĩnh vực quan hệ quốc tế.
6.2. Về mặt thực tiễn
- Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu và giảng
dạy cho sinh viên và học viên cao học các chuyên ngành: Lịch sử thế giới,
Quan hệ quốc tế, Quốc tế học, Đông phương học và những ai quan tâm đến
vấn đề này.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài luận án (ở một mức độ nhất định) có thể
cung cấp thêm những thông tin hữu ích cho các nhà nghiên cứu, các nhà
hoạch định chính sách của Việt Nam trong lĩnh vực đối ngoại. Từ đó, tiếp tục
củng cố và tăng cường quan hệ giữa Việt Nam với cả Hàn Quốc và Trung
Quốc là những đối tác chiến lược quan trọng của Việt Nam
7. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương chính:
Chương 1: Những yếu tố tác động tới chính sách của Hàn Quốc đối với
Trung Quốc kể từ năm 2000. Chương này phân tích những điều kiện khách
quan và chủ quan tác động tới việc hoạch định chính sách của Hàn Quốc đối với
Trung Quốc kể từ sau năm 2000.
Chương 2: Một số nội dung chính sách của Hàn Quốc đối với Trung
Quốc giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2016. Chương này đi sâu phân tích
những nội dung chính sách chủ yếu của Hàn Quốc đối với Trung Quốc trên các
mặt chính trị - đối ngoại, kinh tế và quốc phòng - an ninh giai đoạn từ năm 2000
cho Triều Tiên để đối phó với Hàn Quốc dưới sự bảo trợ của Mỹ. Xuất phát
từ bối cảnh quốc tế và đối đầu căng thẳng ý thức hệ, nên trong giai đoạn đầu
12
của cuộc Chiến tranh lạnh, quan hệ giữa hai nước là mối quan hệ đối đầu, thù
địch. Hàn Quốc coi Trung Quốc là mối đe dọa an ninh của mình vì Trung
Quốc ủng hộ Triều Tiên, viện trợ cho chế độ chính trị của Triều Tiên, lấy
Triều Tiên làm lực lượng đối trọng lại với Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Giai đoạn từ giữa những năm 1970 đến khi Chiến tranh lạnh kết thúc,
Hàn Quốc điều chỉnh chính sách đối ngoại, chuyển từ quan hệ đối đầu và thù
địch với Trung Quốc sang hòa hoãn và hợp tác. Vào những năm 70 và 80 của
thế kỷ XX, mặc dù vẫn coi nhau là kẻ thù, nhưng quan hệ hai nước đã dần đi
vào hòa hoãn. Hai nước đã bắt đầu đi vào xây dựng các quan hệ khác tách rời
với chính trị. Ngày 05/3/1983, một chiếc máy bay hàng không dân dụng của
Trung Quốc trên hành trình bay từ Tứ Xuyên về Thượng Hải đã bị không tặc
khống chế phải hạ cánh xuống sân bay Hàn Quốc, dẫn tới những cuộc tiếp
xúc đầu tiên giữa quan chức hai nước để bàn thảo giải quyết. Năm 1986, cùng
với việc tổ chức Đại hội thể thao châu Á (Asiad) lần thứ 10 và Thế vận hội
Olympic mùa hè năm 1988, Hàn Quốc đã thực hiện điều chỉnh mạnh mẽ
chính sách ngoại giao của mình trong quan hệ với các nước, không phân biệt
thể chế chính trị; năm 1990, Trung Quốc cũng tổ chức Đại hội thể thao châu
Á lần thứ 11, phía Hàn Quốc coi đây là thời cơ quan trọng để thúc đẩy quan
hệ với Trung Quốc. Phía Hàn Quốc đã cử đoàn vận động viên thể thao hơn
700 người tham gia thi tài ở các nội dung của đại hội; các doanh nghiệp Hàn
Quốc đã chi tới hơn 5 triệu USD cho chi phí quảng cáo trong thời gian diễn ra
đại hội; các tập đoàn xe hơi của Hàn Quốc đã tài trợ cho ban tổ chức khoảng
100 chiếc xe hơi để phục vụ cho các hoạt động đi lại, trong trong thời gian
diễn ra đại hội có tới 4000 lượt du khách Hàn Quốc tới thăm Trung Quốc. Để
đáp lại thái độ thiện chí của phía Hàn Quốc, khi tổ chức các nghi thức chào cờ
mậu dịch, bảo hộ và đầu tư giữa hai chính phủ, thảo luận thẳng thắn các vấn
14
đề hai nước cùng quan tâm, cũng như xác định phương hướng phát triển quan
hệ hai nước trên tinh thần khép lại quá khứ, hướng tới tương lai.
Có thể nói, việc Hàn Quốc điều chỉnh chính sách theo hướng xích lại
gần hơn với Trung Quốc, hay Hàn Quốc chủ động thúc đẩy quan hệ với
Trung Quốc là hoàn toàn phù hợp với xu hướng trong quan hệ quốc tế thời
kỳ sau Chiến tranh lạnh đang diễn ra mạnh mẽ. Về phía Hàn Quốc, giới
chức lãnh đạo Xơ-un thấy được sức hấp dẫn từ thị trường gần 1,3 tỷ dân,
trong bối cảnh Trung Quốc là quốc gia đang phát triển, công cuộc cải cách
kinh tế đang được chính phủ đẩy mạnh, cần rất nhiều vốn, công nghệ, kỹ
thuật, kinh nghiệm quản lý hiện đại nhưng phải chịu chính sách bao vây cô
lập của Mỹ và các nước phương Tây sau sự kiện Thiên An Môn năm 1989.
Cũng cần nói thêm rằng, bản thân Trung Quốc giai đoạn này đang rất muốn
phát triển quan hệ với các nước phát triển, nhất là Hàn Quốc, một quốc gia
đồng minh của Mỹ, để giảm bớt sức ép, cô lập ngoại giao từ bên ngoài 1.
Giai đoạn 1994 - 1998, Tổng thống Kim Dâng Sam lên nắm quyền đã
thực hiện những cải cách mạnh mẽ về chính trị, đề cao giá trị tự do dân chủ
trong xã hội Hàn Quốc theo mô hình phát triển của các nước như Mỹ và
phương Tây. Về kinh tế, những thành tựu đã đạt được từ "Kỳ tích sông Hàn"
trong giai đoạn những năm 70 và 80 đã đưa Hàn Quốc trở thành một nước
công nghiệp với nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế phát triển mạnh, đặc biệt là sự
nổi lên của các tập đoàn công nghiệp lớn như Hyundai, Sam Sung, LG,
Daewoo... Trong khi đó, vấn đề dân số lão hóa dẫn tới thiếu hụt nguồn lao
động và chi phí thuê lao động trong nước của Hàn Quốc ở giai đoạn này bắt
đầu ngày càng có xu hướng lên cao... khiến giới đầu tư của Hàn Quốc bắt đầu
tìm kiếm các thị trường ở các nước trong khu vực để gia công sản xuất nhằm
cường trao đổi, thăm viếng giữa các nhà lãnh đạo, cơ quan Chính phủ, Quốc
hội và đảng phái chính trị của hai nước. Hàn Quốc coi việc tăng cường tiếp
xúc trao đổi với Trung Quốc để hai bên có thể thấy rõ được lập trường của
nhau đối với những vấn đề mang lại lợi ích cho hai nước và cho hòa bình, ổn
định và hợp tác khu vực2.
2
"Tuyên bố chung Hàn Quốc – Trung Quốc", Tài liệu tham khảo đặc biệt, số ra ngày 17/11/1998.
16
1.2 BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ KHU VỰC BƯỚC VÀO THẾ KỶ XXI
1.2.1 Bối cảnh quốc tế
Bước vào thế kỷ XXI, về cơ bản hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn
là xu hướng chính của thế giới. Tuy nhiên, thế giới đứng trước những bất
ổn mới, tiềm ẩn nhiều nguy cơ và thách thức an ninh đe dọa hòa bình, ổn
định và phát triển.
Mở đầu là sự kiện khủng bố 11/9 ở Mỹ dẫn tới việc Mỹ triển khai các
hoạt động chống khủng bố trên toàn cầu, trong đó có việc Mỹ phát động
cuộc chiến tranh tại Afghanistan và Iraq để tiêu diệt tận gốc cái gọi là "căn
cứ địa" của chủ nghĩa khủng bố quốc tế. Hoạt động chống khủng bố của Mỹ
đã tác động mạnh mẽ tới đời sống chính trị trên toàn cầu. Việc Mỹ và các
nước phương Tây sử dụng cuộc "cách mạng màu" lợi dụng vấn đề dân chủ,
nhân quyền để kích động, chia rẽ nội bộ tìm cách lật đổ một số chính phủ
cầm quyền không phù hợp với "lợi ích của Mỹ", gây bất ổn tại một số quốc
gia thuộc Liên Xô cũ ("Cách mạng Hoa Hồng" tại Gruzia năm 2003; "Cách
mạng Cam" tại Ukraine năm 2004; "Cách mạng Hoa Tulip" tại Kyrgyzstan
năm 2005 và "Mùa xuân A-rập" tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi những
năm 2011 dẫn đến những sụp đổ của chính phủ đương nhiệm (tại Ai-cập,
trước nhiều thách thức.
Quan hệ giữa các nước lớn có những chuyển biến lớn từ đối đầu hoặc
liên minh, hoặc liên kết với nước này chống lại nước kia chuyển sang vừa hợp
tác vừa đấu tranh cùng tồn tại hòa bình, xây dựng các quan hệ đối tác mang
tính chiến lược, tăng cường đối thoại trong quan hệ quốc tế. Phát triển kinh tế
trở thành mối quan tâm hàng đầu trong chiến lược của mối quốc gia. Cạnh
tranh kinh tế ngày càng chiếm ưu thế so với chạy vũ trang, sức mạnh kinh tế
trở thành nhân tố quyết định của mỗi quốc gia. Cuộc cách mạng khoa học và
công nghệ, toàn cầu hoá, khu vực hoá ngày càng diễn ra nhanh chóng và các
3
"Tổng quan về kinh tế thế giới năm 2015 và dự báo năm 2016" website:tapchicongsan.org, ngày
21/01/2016.
18