Đào tạo nguồn nhân lực pháp luật cho quá trình phát triển của việt nam (tóm tắt trích đoạn) - Pdf 42

ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN Lực PHÁP LUẬT
CHO QUÁ TRÌNH PHÁT TRIẺN CỦA VIỆT NAM
Phan C hí H iếu

1.
Việt Nam

Nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực pháp luật cho quá trinh phát triển của

1.1. Vai trò của hoạt động đào tạo nguồn nhân lực pháp luật
Chất lượng, sổ lượng đội ngũ cán bộ pháp luật, tư pháp chịu sự tác động của
nhiều yếu tổ: phẩm chất, năng lực của cá nhân; chính sách thu hút, bố trí, sử dụng cán
bộ của cơ quan, đơn vị; hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của các cơ sở đào tạo, cũng như
quá trình tự đào tạo của cá nhân. Trong số các yếu tố tác động đó thì hoạt động đào tạo,
bồi dưỡng giữ vai trò hết sức quan trọng. Hoạt động đào tạo giúp trang bị m ột cách hệ
thống, bài bản kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ
cán bộ pháp luật, giúp họ có nền kiến thức chuẩn để thực hiện nhiệm vụ, tự đào tạo
để bổ sung kiến thức cần thiết nhằm phát triển nghề nghiệp của mình.
Hiểu theo nghĩa rộng thì hoạt động đào tạo nguồn nhân lực pháp luật ở Việt
Nam bao gồm 3 bộ phận hợp thành cơ bản là: (1) Đào tạo pháp luật căn bản để cấp
bàng ở các trình độ: trung cấp, cừ nhân, thạc sỹ, tiến sỹ Luật; (2) Đào tạo nghề để
cấp chứng chỉ cho các chức danh tư pháp (Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư và
các chức danh tư pháp khác) và (3) Đào tạo lại, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho
những người đang hành nghề. Các hoạt động đào tạo này rất khác nhau (về đổi
tượng người học, cơ sở đào tạo, mục đích đào tạo, nội dung chương trình, phương
pháp.. nhưng giữa chúng lại có quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ với nhau.
Ý thức được tầm quan trọng cùa hoạt động đào tạo nguồn nhân lực pháp luật,
Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo, coi giáo dục
là "quốc sách hàng đầu". Trong lĩnh vực tư pháp, các Nghị quyết của Bộ Chính trị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (như Nghị quyết số 08NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 về một sổ nhiệm vụ trong tâm công tác tư pháp
trong thời gian tới, sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 08-NQ/TW ; Nghị quyết số 48NQ/TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống

dân sự tăng 8.000 người, cơ quan Tư pháp địa phương tăng 7.500 người, các tổ
chức pháp chế Bộ, ngành, địa phương tăng 3.640 người, các tổ chức bổ trợ tư pháp
tăng 28.000 người.
Kế hoạch số 900/UBTVQH11 của Ưỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 21/3/2007
về thực hiện Nghị quyết 48-NQ/TW đã đặt chỉ tiêu phát triển đội ngũ luật sư đạt từ
18.000 đến 20.000 luật sư vào năm 2020. Ngày 05/7/2011, Thủ tướng Chính phủ đã
phê duyệt Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020, trong đó xác định mục
tiêu tổng quát là: Phát triển đội ngũ luật sư đến năm 2020 có từ 18.000 đến 20.000
luật sư, hành nghề chuyên sâu theo lĩnh vực pháp luật; nâng cao chất lượng đội ngũ
luật sư, chất lượng hoạt động hành nghề luật sư, vị trí, vai trò của luật sư trong hoạt
động tố tụng, từng bước phát triển, mở rộng thị trường dịch vụ pháp lý, tạo nền tảng
để phát triển nghề luật sư Việt Nam ngang tầm với các nước trong khu vực và trên
thế giới.
Ngoài ra, nhu cầu đào tạo lại, bồi dưỡng cập nhật kiến thức cho đội ngũ cán bộ
pháp luật theo quy định của Nghị định sổ 18/2010/NĐ-CP về đào tạo, bồi dưỡng
công chức cũng rất lớn.
1.2.2. Nhu cầu về chất lượng
Cùng với nhu cầu m ở rộng quy mô, nhu cầu nâng cao chất lượng đào tạo cán
bộ về pháp luật cũng đang đặt ra hết sức bức thiết. Thời gian qua, do phải đáp ứng
yêu cầu trước mắt về nguồn nhân lực cho xã hội, cùng với những hạn chế về cơ sở
vật chất, đội ngũ giảng viên, chương trình và phương pháp đào tạo... nên chất lượng
đào tạo cán bộ về pháp luật ở nước ta còn hạn chế. Hầu hết các cơ sở đào tạo chỉ
dừng lại ở việc trang bị kiến thức pháp luật cơ bản cho người học, chưa có điều kiện
đào tạo chuyên sâu, đào tạo hướng nghiệp và rèn luyện kỹ năng thực hành. Kểt quả
là phần lớn cán bộ pháp luật chỉ đủ năng lực để thực thi những nhiệm vụ thông
thường của công chức, viên chức mà chưa có khả năng xử lý những vấn đề pháp lý
phức tạp nảy sinh trong thực tiễn. Việc rèn luyện phẩm chất, bản lĩnh và đạo đức
nghề nghiệp cho sinh viên luật cũng chưa được chú trọng đúng mức. Nhiều sinh
viên khi ra công tác chưa phát huy được năng lực và kiến thức đã được trang bị,
chậm thích ứng với thực tiễn. Tình trạng cán bộ làm công tác pháp luật không tâm


So với các lĩnh vực khác, hoạt dộng đào tạo pháp luật ở Việt Nam bắt đầu khá
muộn, nhưng đã có những tiến bộ quan trọng, số lượng các cơ sở đào tạo Luật
không ngừng tăng lên, đến nay đã hỉnh thành mạng lưới với gần 30 cơ sở, trong đó
có 3 trường đại học và 22 khoa, viện, học viện có chức năng đào tạo ngành Luật, 5
trường trung cấp Luật. Các cơ sở này thực hiện việc đào tạo pháp luật với nhiều
trình độ, từ trung cấp đến đại học, trên đại học. Hình thức đào tạo cũng ngày càng
được mở rộng với các loại hình đào tạo chính quy, vãn bằng 2, vừa làm vừa học,
đào tạo từ xa. Nội dung chương trình, giáo trình, phương pháp đào tạo từng bước
được xây dựng và hoàn thiện, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Quy mô đào
tạo cũng tăng gấp nhiều lần so với trước.
Tuy vậy, hoạt động đào tạo pháp luật còn có một số hạn chế, yếu kém sau đây:
- Chất lượng đào tạo còn thấp so với yêu cầu thực tiễn, nhất là ở các hệ đào tạo
không chính quy. Sinh viên tốt nghiệp còn hạn chế về kiến thức thực tiễn, kỹ năng
và phương pháp làm việc. Đào tạo sau đại học chất lượng chưa cao, còn nhiều kiến
thức lặp lại chương trình đại học, chưa thực hiện được mục tiêu đào tạo chuyên gia
đầu ngành cho đất nước. Việc kiểm soát chất lượng đào tạơ cùa các cơ sở đào tạo
chưa thực hiện được;
- Quy mô đào tạo còn nhỏ bé, nhất là đào íạo hộ chính quy. Tuy số lượng sinh
viên tốt nghiệp ra trường hằng năm khá nhiều, nhưng phần lớn là học viên hệ vừa
làm vừa học hoặc hệ đào tạo từ xa;
469


VÍỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ TƯ

- Chương trình đào tạo nhìn chung còn dàn trải, có nhiều nội dung trùng lặp,
chưa thật sát với nhu cầu thực tiễn, thiếu kiến thức thực tiễn, chưa dành nhiều uru
tiên cho đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành; chưa có những chương trinh đào tạo
chuyên sâu để cung cấp nguồn nhân lực pháp luật cho các cơ quan Tòa án, Viện

12/02/1998, Trường Đào tạo các chức danh tư pháp đã khai giảng lớp đào tạo nghề
Thẩm phán đầu tiên ờ nước ta, đặt nền móng cho hoạt động đào tạo nghề các chức
danh tư pháp một cách chính quy, bài bản ở Việt Nam. Từ thành công của mô hình
470


ĐÀO TAO NGUỒN NHÂN

Lực

PHÁP LUẬT..

dào tạo nghề cho các chức danh tư pháp, các văn bản pháp luật (như: Pháp lệnh
Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân, Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát
nhân dân, Luật Luật sư, Luật Thi hành án dân sự, Luật Công ch ứ n g ...) đều quy
dịnh điều kiện bắt buộc để bổ nhiệm các chức danh tư pháp là phải có trình độ cử
nhân Luật và được đào tạo về nghiệp vụ theo từng chức danh. Để đẩy mạnh hoạt
dộng đào tạo các chức danh tư pháp, ngày 25/02/2004, Thủ tướng Chính phủ ban
hành Quyết định số 23/2004/QĐ-TTg thành lập IIọc viện Tư pháp trên cơ sở
Trường Đào tạo các chức danh tư pháp. Học viện Tư pháp là cơ sở đàọ tạo trực
thuộc Bộ Tư pháp, có nhiệm vụ: đào tạo nghiệp vụ Thẩm phán, Kiểm sát viên,
Luật sư, Chấp hành viên, Công chứng viên và các chức danh tư pháp khác; bồi
dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho Chấp hành viên, Công chứng
viên, Luật sư và các cán bộ có chức danh tư pháp khác thuộc thẩm quyền quản lý
của Bộ Tư pháp.
Trong 13 năm qua, Học viện Tư pháp đã đào tạo hom 25.000 lượt học viên, tạo
nguồn bổ nhiệm Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư, Chấp hành viên, Công chứng
viên, Đấu giá viên, cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp. Bên cạnh hoạt động đào tạo,
Học viện còn tiến hành các khóa bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp
vụ cho nhiều ngàn lượt cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp, cấn bộ pháp chế của ủ y ban

Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến m ột số
nguyên nhân như:
- Đào tạo nghề cho các chức danh tư pháp là m ô hình hoàn toàn mới ở Việt
Nam nên phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm;
- Đội ngũ giảng viên còn mỏng, phương pháp sư phạm, kỹ năng nghề của một
số giảng viên chưa đồng đều, chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động đào tạo
nghề; chưa có chiến lược đào tạo, bồi dưỡng bài bản, chính quy;
- Nội dung trong chương trình, giáo trình, tài liệu còn ít tính kỹ năng; việc rèn
luyện nghề theo hướng "cầm tay, chi việc" chưa cao;
- Thể chế liên quan đến công tác đào tạo các chức danh tư pháp còn chưa đồng
bộ, hoạt động đào tạo các chức danh tư pháp chưa được quy định trong Luật Giáo
dục, Luật Giáo dục đại học nên chưa có mã ngành đào tạo, giá trị của văn bằng
chứng chỉ chưa được quy định rõ;
- Thời gian đào tạo còn tương đối ngắn1 nên việc trang bị kiến thức nghề
nghiệp chuyên sâu, kiến thức hội nhập kinh tế quốc tể cho học viên còn hạn chế;
- Chất lượng đầu vào để đào tạo các chức danh tư pháp còn thấp, không đồng
đều. Đối tượng theo học m ột số chức danh (như Thẩm phán, Kiểm sát viên, Chấp
hành viên) chỉ giới hạn trong phạm vi những người đang trong biên chế Nhà nước,
chưa thực hiện được việc tuyển sinh rộng rãi để lựa chọn người thực sự có năng lực
vào đào tạo nguồn để bổ nhiệm các chức danh tư pháp;
- Chưa có cơ chế phổi hợp hiệu quả giữa các Bộ, ngành hữu quan trong công
tác đào tạo các chức danh tư pháp; thời gian 5 năm gần đây, các ngành còn không
thống nhất được việc phân vai trong hoạt động đào tạo nghề cho Thẩm phán, Kiểm
sát viên và Luật sư, tự năm 2008, Viện kiểm sát tối cao tổ chức đào tạo riêng.
- Cơ sở vệt chất, trang thiết bị giảng dạy, học tập chưa tương xứng với nhu cầu
mở rộng quy mô đào tạo, cũng như việc áp dụng các phương pháp đặc trưng cùa

1. Thời gian đào tạo Thẩm phán, Kiểm sát viên là 12 tháng; đào tạo Luật sư, Chấp hành viên,
Công chứng viên là 6 tháng.
472

Tuy vậy, hoạt động đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ pháp luật đang có
nhiều hạn chế, bất cập, nổi lên như sau:
- Các Bộ, ngành chưa có chiến lược đào tạo lại, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, bởi
vậy, các hoạt động đào tạo lại, bồi dưỡng chưa được tiến hành một cách chính quy,
bài bản, hiệu quả không cao. Phần lớn hoạt động đào tạo lại, bồi dưỡng được xây
dựng theo kế hoạch công tác năm, thường gắn với một vấn đề mới cần triển khai
trong năm;
- Việc tham gia các khóa đào tạo lại không phải là diều kiện bắt buộc để bổ
nhiệm chức danh tư pháp (Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư, Chấp hành
viên...) trong nhiệm kỳ mới. Chính vì lý do này mà nhiều cán bộ tư pháp trong
suốt quá trình hành nghề của mình không tham gia bất kỳ khóa đào tạo lại hay
bồi dưỡng nào;
473


VIỆT NAM HỌC - KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ LÀN THỨ T ư

- Chưa thực hiện được việc đào tạo lại, bồi dưỡng theo định kỳ (bắt buộc) như
đã quy định tại Nghị định số 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05/3/2010 về đào
tạo, bồi dưỡng công chức1;
- Chưa có những chương trình đào tạo, bồi dưỡng cố định với nội dung chương
trình, tài liệu, phương pháp ổn định, được thực hiện thường xuyên hằng năm.

3.
Giậi pháp nang cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo nguồn nhân
lực pháp luật phục vụ quá trình phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đào tạo nguồn nhân lực pháp luật
phục vụ quá trình phát triển của Việt Nam cần áp dụng đồng bộ, hiệu quả hệ thống
các giải pháp, trong đó chú trọng tới một số giải pháp sau:


ĐÀO TẠO NGUỒN NHÁN

Lực

PHÁP LUẬT..

các cơ quan quản lý cán bộ lựa chọn, lên danh sách cử người đi học. Do học viên
được lựa chọn theo cơ chế cử tuyển nên cơ sở đào tạo không kiểm soát được chất
lượng đầu vào, là nguyên nhân chính dẫn đến chất lượng đầu ra không được như
mong muốn.
Để tạo bước đột phá trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp nói
chung và công tác đào tạo nguồn chức danh tư pháp nói riêng cần nghiên cứu đổi
mới mô hình đào tạo nguồn bổ nhiệm các chức danh tư pháp, cơ chế tuyển dụng cán
bộ tu pháp, trước hết là Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư. Trước mắt cần xây
dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đe án thí điểm đào tạo chung nguồn bổ
nhiệm Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư; triển khai thí điểm khóa đào tạo chung;
tổng kết, đánh giá hiệu quả để thực hiện trên diện rộng, nhằm từng bước đổi mới
căn bản mô hình đào tạo nguồn bổ nhiệm các chức danh tư pháp, tạo tiền đề cho
việc từng bước đổi mới cơ chể tuyển dụng cản bộ vào các cơ quan tư pháp. Đổi với
các cán bộ đã có biên chể của ngành Tòa án, Viện kiểm sát, Thi hành án dân sự
ưong diện quy hoạch để bổ nhiệm Thẩm phán, Kiểm sát viên, Chấp hành viên thì
Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng cục Thi hành án dân
sự vẫn tiếp tục theo học các khoá đào tạo. Sau khi tốt nghiệp, các đối tượng này trở
về cơ quan cử đi học và khi đáp ứng các yêu cẩu khác thì sẽ được bổ nhiệm làm
Thẩm phán, Kiểm sát viên, Chấp hành viên.
Trong mô hình mới này, hàng năm sẽ tiến hành kỳ thi tuyển rộng rãi trong
phạm vi toàn quốc để lựa chọn trong số các cử nhân Luật (chưa có biên chế nhà
nước) những người có phẩm chất nghề nghiệp, trình độ chuyên môn giỏi vào đào
tạo nghề chức danh tư pháp. Những người đăng ký học nghề Thẩm phán, Kiểm sát
viên, Luật sư sẽ được đào tạo trong một chương trình chung. Kết thúc khoá đào tạo,

ngũ cán bộ. Mặc dù Chính phủ đã ban hành Nghị định số 18/2010/NĐ-CP về đào
tạo, bồi dưỡng công chức đã quy định chế độ bồi dưỡng bắt buộc đối với cán bộ,
công chức (bồi dưỡng bắt buộc tổi thiểu kiến thức, kỹ năng chuyên ngành hàng năm
với thời gian thực hiện là 1 tuần/1 năm; một tuần được tính bằng 5 ngày học, một
ngày học 8 tiết), nhưng hoạt động đào tạo lại, bồi dưỡng các chức danh tư pháp
chưa được tiến hành bài bản. Thời gian tới, theo nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng các
chức danh tư pháp đã được phân công, các Bộ, ngành cần dành nhiều ưu tiên cho
hoạt động bồi dưỡng các chức danh tư pháp. Việc bồi dưỡng phải được thực hiện
theo định kỳ và phải coi đây là một điều kiện bắt buộc để tái bổ nhiệm hoặc tiếp tục
gia hạn giấy phép hành nghề theo chức danh đảm nhiệm.

3.3. Phát triển đội ngũ giảng viên đủ về sổ lượng và đảm bảo về chất lượng
- Có cơ chế thu hút chuyên gia có bằng cấp, trình độ cao về làm cán bộ giảng
dạy của các cơ sở đào tạo pháp luật và đào tạo nghề. Chú trọng đào tạo giảng viên ở
trình độ Thạc sỹ, Tiến sỹ, đào tạo nghề ở các nước tiên tiến trên thế giới;
- Xây dựng cơ chế để giảng viên tham gia vào các hoạt động thực tiễn (hoạt
động tư vấn pháp luật, thực hành nghề Luật, làm Hội thẩm Nhân dân, thực hiện một
số hoạt động của các cơ quan tư pháp, bổ trợ tư pháp theo quy định của pháp luật,
tham gia các hoạt động xây dựng pháp luật, tư vấn chính sách...);
- Đảm bảo điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ cho các giảng viên. Xây dựng
môi trường làm việc thực sự dân chủ, cởi mở, công bàng, cạnh tranh để mỗi cá nhân
phát huy hết năng lực, sở trường của mình. Thực hiện tốt công tác thi đua, khen
thường, kỷ luật;
- Có cơ chế thu hút các nhà khoa học, nhà giáo của các cơ sở đào tạo, nghiên
cứu, các Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư và những người hoạt động thực tiễn có
476


ĐẢO TẠO NGUỒN NHÂN


- ứ n g dụng triệt để các phương pháp giảng dạy tích cực hướng về người học
nhằm phát huy tính chủ động, tự giác của người học và tăng cường kỹ năng xử lý
các vấn đề thực tiễn (như phương pháp giải quyết tình huống, thảo luận nhóm, thực
hành diễn án, đóng vai...).
- Đổi mới quy trình kiểm tra, đánh giá chất lượng đào tạo đối với tất cả các hệ,
hình thức đào tạo.
3.6. Tăng cường trang bị kiến thức thực tiễn cho sinh viên
- Thực hiện lồng ghép kiến thức thực tiễn, kết hợp trang bị kỹ năng cơ bản ban
dầu vào nội dung từng môn học.

477


VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẰN THỨ T ư

- Xây đựng và đưa vào vận hành hệ thống phòng học thực hành, phòng diễn án
để sinh viên sớm tiếp cận với thực tiễn. Quán triệt phương châm sinh viên học về
cái gì phải được ỉàm quen và thực hành được cái đó.
- Có chương trình, kế hoạch cộng tác chặt chẽ với các cơ quan tư pháp, các tổ
chức tư vấn pháp luật, văn phòng luật sư để đưa sinh viên đến thực tập, tìm hiểu
thực tế về hoạt động xét xử, hoạt động tư vấn.
- Tạo môi trường để sinh viên có điều kiện tham gia vào việc giải quyết các
vấn đề thực tiễn đặt ra thông qua Văn phòng Thực hành nghề luật của trường, các
văn phòng luật sư ...
- Tăng cường các hoạt động ngoại khoá, tổ chức thường xuyên các buổi nói
chuyện, tọa đàm khoa học, sinh hoạt chuyên môn cho giảng viên và sinh viên, mời
các nhà quản lý, hoạch định chính sách, các Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư,
chuyên gia pháp luật, các chính khách, học giả nước ngoài tham dự và thuyết trình.
Tăng cường đối thoại giữa sinh viên với những người làm công tác thực tiễn.
- Điều tra, khảo sát, đánh giá nhu cầu người học, lấy phiếu đánh giá mức độ

đoạn; việc điều động giáo viên, nội dung chương trình, giáo trình tài liệu, hồ sơ tình
huống; việc tổ chức thực tập cho sinh viên, học viên...;
- Các cơ quan tư pháp, bổ trợ tư pháp tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở đào
tạo trong việc trang bị kiến thức thực tế cho giảng viên, sinh viên như: tạo điều kiện
cho một số giảng viên tham gia làm Hội thẩm Nhân dân; tạo điều kiện cho sinh viên
của Trường đi kiến tập, thực tập; giới thiệu một sổ Thẩm phán, Kiểm sát viên giỏi,
có phương pháp sư phạm tốt tham gia giảng dạy một số chuyên đề cho các cơ sở
đào tạo; thường xuyên tổ chức các phiên tòa lưu động tại trường; cung cấp một số
hồ sơ vụ án đã được xét xử để các trường biên tập thành các tài liệu học tập cho
sinh viên...
- Các cơ quan tư pháp, bổ Irợ tư pháp cần triển khai xây dựng và công bố cụ
thể các chuẩn chuyên môn đầu vào đối với các vị trí tuyển dụng vào ngành để
những sinh viên có nguyện vọng công tác trong ngành Tòa án, ngành Kiểm sát có
định hướng rõ ràng hơn trong việc chuẩn bị kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề
nghiệp phù hợp ngay trong thời gian học tại trường.
- Tăng cường hợp tác giữa các cơ sở đào tạo trong nước, nhằm tranh thủ các
nguồn lực sẵn có, phát huy thế mạnh của mỗi trường để nâng cao chất lượng đào tạo
của từng trường, vỉ dụ: chia sẻ giáo trình, tài liệu học tập và các cơ sở dữ liệu điện
tử; nghiên cứu chuẩn hóa một sổ nội dung trong chương trình đào tạo của các
trường, đi đến công nhận tín chỉ đào tạo của nhau tạo thuận lợi cho người học, tăng
cường trao đổi giảng viên, sinh viên và định kỳ tiến hành các buổi tọa đàm, tham
quan khảo sát học hỏi lẫn nhau.
Với hệ thống những giải pháp đồng bộ, khả thi, cùng với sự đầu tư mạnh của
Nhà nước và lòng quyết tâm cao của các cơ sờ đào tạo mới có thể tạo ra chuyển
biến mạnh về chất lượng đào tạo, từng bước mở rộng quy mô đào tạo để cung cấp
nguồn nhân lực pháp luật chất lượng cao, phục vụ đấl nước trong giai đoạn phát
triển mới.

479


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status