Nghĩa vụ cấp dưỡng theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (tóm tắt trích đoạn) - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ THU HUYỀN

NGHĨA VỤ CẤP DƢỠNG THEO LUẬT HÔN NHÂN
VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

HOÀNG THỊ THU HUYỀN

NGHĨA VỤ CẤP DƢỠNG THEO LUẬT HÔN NHÂN
VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014
Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số

: 60 38 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. Lê Văn Bính

Hà nội – 2016


1.1.3. Nghĩa vụ cấp dƣỡng trong pháp luật Việt Nam từ năm 1986 đến năm
2000 ................................................................................................................. 17
1.1.4. Nghĩa vụ cấp dƣỡng trong pháp luật Việt Nam từ năm 2000 đến nay . 20
1.2. Lý luận chung về nghĩa vụ cấp dƣỡng ..................................................... 22
1.2.1. Khái niệm nghĩa vụ cấp dƣỡng ............................................................. 22
1.2.2. Đặc điểm của nghĩa vụ cấp dƣỡng ........................................................ 23
1.2.3. Ý nghĩa của nghĩa vụ cấp dƣỡng........................................................... 27
1.3. Phân biệt nghĩa vụ cấp dƣỡng và nghĩa vụ nuôi dƣỡng ........................... 29
1.4. Nghĩa vụ cấp dƣỡng trong Luật một số nƣớc trên thế giới ...................... 33
1.4.1. Nghĩa vụ cấp dƣỡng trong hệ thống pháp luật Anh .............................. 33
1.4.2. Nghĩa vụ cấp dƣỡng trong hệ thống pháp luật Hàn Quốc .................... 37
CHƢƠNG 2: NGHĨA VỤ CẤP DƢỠNG THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA
ĐÌNH NĂM 2014............................................................................................. 40
2.1. Điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dƣỡng.................................................. 40
2.2. Mức cấp dƣỡng ........................................................................................ 46
2.3. Phƣơng thức thực hiện cấp dƣỡng ........................................................... 49
2.4. Các quy định về nghĩa vụ cấp dƣỡng trong các trƣờng hợp cụ thể ......... 54


2.4.1. Các trƣờng hợp cấp dƣỡng đặc biệt ...................................................... 54
2.4.2. Nghĩa vụ cấp dƣỡng giữa các thành viên trong gia đình ...................... 59
2.5. Chấm dứt nghĩa vụ cấp dƣỡng ................................................................. 75
2.6. Ngƣời có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng.......................... 80
2.7. Đảm bảo thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng .................................................. 82
CHƢƠNG 3: THỰC TIỄN THỰC THI NGHĨA VỤ CẤP DƢỠNG VÀ
NHỮNG HẠN CHẾ TRONG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNHVỀ
NGHĨA VỤ CẤP DƢỠNG CÙNG NHỮNG KHUYẾN NGHỊ CỤ THỂ .... 85
3.1. Thực tiễn thực thi nghĩa vụ cấp dƣỡng theo quy định của luật năm 2014 ..... 85
3.2. Một số vƣớng mắc trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về
nghĩa vụ cấp dƣỡng ......................................................................................... 87

thực hiện dƣới một phƣơng thức khác đó là nghĩa vụ cấp dƣỡng.
Cấp dƣỡng là một chế định pháp lý quan trọng trong pháp luật về hôn
nhân và gia đình ở nƣớc ta và vấn đề này ngày càng nhận đƣợc sự chú ý của

1


cộng đồng. Việc cấp dƣỡng nhằm đảm bảo cho ngƣời đƣợc cấp dƣỡng đƣợc
hƣởng sự quan tâm, chăm sóc về vật chất và tinh thần, đảm bảo cho ngƣời
đƣợc cấp dƣỡng có đủ điều kiện tồn tại và phát triển. Nó còn thể hiện sự
thƣơng yêu, đoàn kết của mọi ngƣời quan tâm lẫn nhau và góp phần ổn định
xã hội. Để củng cố sự phát triển bền vững của mỗi cá nhân, gia đình và toàn
xã hội, chế định cấp dƣỡng trong Luật Hôn nhân và gia đình góp phần quan
trọng vào việc giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, có thể xuất phát từ sự thiếu
hiểu biết pháp luật, từ sự vô trách nhiệm của ngƣời có nghĩa vụ cấp dƣỡng
hoặc có thể do các quy định của pháp luật về chế định này chƣa đầy đủ cho
nên các vi phạm về nghĩa vụ cấp dƣỡng còn xẩy ra rất nhiều. Trong khi đó,
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 ra đời với nhiều điểm mới về nghĩa vụ cấp
dƣỡng mới chỉ có hiệu lực từ ngày 01/01/2015. Do đó, việc tìm hiểu, nghiên
cứu các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về vấn đề này và
thực tiễn thực thi là điều rất quan trọng và cần thiết. Với mục đích nghiên cứu
sâu cả lý luận và thực tiễn thực thi đồng thời có sự so sánh với pháp luật nƣớc
ngoài về vấn đề này để có thể đƣa ra những giải pháp thích hợp cho những
quy định về nghĩa vụ cấp dƣỡng, học viên chọn đề tài “Nghĩa vụ cấp dưỡng
theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014” làm đề tài luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứuđề tài
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 mới chỉ đi vào thực tiễn đời sống
một thời gian ngắn. Mặc dù, các quy định về nghĩa vụ cấp dƣỡng đƣợc kế
thừa từ những văn bản trƣớc đây nhƣng những quy định mới thậm chí là cả

dụng pháp luật về nghĩa vụ cấp dƣỡng, từ đó trình bày hƣớng hoàn thiện
thông qua việc đƣa ra các khuyến nghị cụ thể.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Nghĩa vụ cấp dƣỡng.

3


Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chủ yếu xoay quanh vấn đề về nghĩa vụ cấp
dƣỡng đƣợc quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đồng thời
tìm hiểu sơ lƣợc những quy định trƣớc đây cũng nhƣ các quy định trong pháp
luật của một số nƣớc về vấn đề này. Từ đó, tìm ra đƣợc sự kế thừa và phát
triển các quy định về vấn đề nghĩa vụ cấp dƣỡng của pháp luật hiện hành.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luận của Chủ nghĩa MácLênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về
Nhà nƣớc và Pháp luật, về hôn nhân và gia đình.
Các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể đƣợc sử dụng là phân tích, tổng
hợp, lịch sử, so sánh, thống kê.
5. Tổng quan tài liệu
Từ lâu các vấn đề xung quanh nghĩa vụ cấp dƣỡng đã đƣợc các nhà
khoa học, giảng viên, học viên luật quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu. Rất nhiều
bài viết, các công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này nhƣ: “Chế định
cấp dƣỡng trong luật hôn nhân và gia đình - vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận
án tiến sĩ Luật học của Ngô Thị Hƣờng năm 2006”; “Cấp dƣỡng theo pháp
luật Việt Nam, Tác giả Thu Anh, Nhà xuất bản Tƣ pháp năm 2006”; “Cấp
dƣỡng sau ly hôn theo pháp luật Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ của Lê
Tuyết Nhung năm 2014;….. Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã
có hiệu lực, thay thế Luật Hôn nhân và gia đình 2000. Do đó, các quy định về
nghĩa vụ nghĩa vụ cấp dƣỡng cũng có những thay đổi đáng kể, xuất hiện nhiều
điểm mới cần phải tìm hiểu, nghiên cứu. Chính vì vậy, để có thể tìm hiểu,

trong áp dụng pháp luật hiện hành về nghĩa vụ cấp dƣỡng cùng những khuyến
nghị cụ thể

5


CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHĨA VỤ CẤP
DƢỠNGTHEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
1.1. Lịch sử phát triển của nghĩa vụ cấp dƣỡng
1.1.1. Nghĩa vụcấp dưỡng trong pháp luật Việt Nam trước năm 1959
Nhà nƣớc quản lý xã hội bằng luật pháp, sức mạnh của nhà nƣớc thể
hiện thông qua sức mạnh của pháp luật. Không có nhà nƣớc nào không ban
hành pháp luật. Ngƣợc lại, luật pháp do nhà nƣớc đặt ra, luật pháp không
đứng tách rời với nhà nƣớc. Khi nói về luật pháp là nói về luật pháp của thể
chế nhà nƣớc nhất định nào đó. Do đó, trong mỗi thời kỳ khác nhau của lịch
sử, pháp luật đều luôn có sự thay đổi phù hợp với sự biến đổi của xã hội.
Từ thời nhà Lý và nhà Trần, nền luật pháp đã phát triển hơn nhiều so
với các triều đại trƣớc đó, phải kể đến các bộ luật nhƣ: Hình - Thƣ (năm
Nhâm Ngọ - 1042), Quốc triều thông chế (năm Canh Dần - 1230) và Hình
Luật thƣ (năm Tân Tỵ - 1341). Tuy nhiên, các đạo luật này đã bị thất lạc trong
các cuộc chiến chống xâm lƣợc phƣơng Bắc. Tiêu biểu cho pháp luật thời
phong kiến còn lại cho đến ngày nay là các đạo luật đƣợc ban hành dƣới triều
Lê và triều Nguyễn. Trong đó, dƣới triều Lê, một số văn bản pháp luật còn
đƣợc giữ lại là Quốc triều hình luật (ban hành vào khoảng cuối thế kỉ thứ 15
dƣới đời vua Lê Thánh Tông), Hồng Đức thiện chính thƣ (ghi chép lại nhiều
điềulệ đƣợc ban hành dƣới triều vua Lê Thánh Tông cùng nhiều bản án thời kì
đó), Thiên nam dƣ hạ tập (năm 1483).... và dƣới triều Nguyễn có Hoàng Việt
luật lệ ban hành dƣới đời vua Gia Long (năm 1815). Trong các đạo luật kể
trên, vấn đề cấp dƣỡng đã đƣợc tiếp cận nhƣng mới chỉ ở bƣớc sơ khai.
Dƣới triều Lê, nho học đang ở giai đoạn thịnh vƣợng nhất, Nho giáo

nghĩa vụ đó không đƣợc thực hiện một cách tự giác thì pháp luật quy định
biện pháp trừng phạt thích đáng.
Dƣới triều Nguyễn, nhà Nguyễn rất coi trọng pháp luật. Tuy nhiên, có
thể nói rằng đây là thời kì suy thoái của nền pháp lí nƣớc ta. Các nhà soạn

7


thảo pháp luật đã quá tôn sùng nhà Thanh mà sao chép lại hầu nhƣ toàn bộ
luật nhà Thanh. Bộ Hoàng Việt luật lệ đƣợc soạn thảo với tinh thần đề cao
quyền uy của vua và triều đình cho nên nội dung chủ yếu là hình luật và hình
phạt đƣợc quy định hết sức hà khắc. Ngay trong quan hệ giữa các thành viên
trong gia đình cũng đƣợc luật quy định dƣới các điều khoản về hình luật.
Chẳng hạn nhƣ tại quyển 16 về hình luật, trong mục 15 có quy định: “con
cháu vi phạm lời dạy bảo của ông bà, cha mẹ hoặc phụng dƣỡng mà cố ý làm
thiếu xót thì phạt 100 trƣợng”. Trong quyển 2 phần về Danh lệ, tại mục 17
quy định về trƣờng hợp ngƣời phạm tử tội nhƣng còn phải nuôi dƣỡng cha mẹ.
Theo quy định này thì nếu một ngƣời phạm tử tội không đƣợc ân xá mà ông
bà nội, cha mẹ già (trên 70 tuổi hay bị tàn tật) cần đƣợc săn sóc nhƣng trong
gia đình không còn ai từ 16 tuổi trở lên thì pháp quan phải tâu lên vua. Nếu
phạm tội đồ lƣu thì xử phạt 100 trƣợng, tội còn thừa thì nhận giá chuộc và cho
ở nhà nuôi dƣỡng ông bà, cha mẹ [18, tr.133]. Nhƣ vậy, dù không có điều
khoản riêng quy định về nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dƣỡng hoặc phụng dƣỡng
giữa các thành viên trong gia đình nhƣng trong Hoàng Việt luật lệ đã gián tiếp
khẳng định nghĩa vụ đó.
Trong quan hệ vợ chồng, pháp luật nhà Lê và nhà Nguyễn đều quy định
những quyền và nghĩa vụ cơ bản của vợ chồng nhƣ nghĩa vụ đồng cƣ, nghĩa
vụ phù trợ, nghĩa vụ trung thành và nghĩa vụ tòng phu. Trong đó, nghĩa vụ
phù trợ thực chất chính là nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc về mặt vật chất giữa
vợ và chồng. Mặc dù vợ chồng có nghĩa vụ phù trợ lẫn nhau nhƣng pháp luật

Miền Trung và miền Nam. Ở miền Bắc có Bộ dân luật Bắc Kỳ 1931, ở miền
Trung có Bộ dân luật Trung Kỳ 1936, ở miền Nam có Bộ dân luật giản yếu
Nam kỳ năm 1883. Riêng Bộ Dân luật giản yếu chịu nhiều ảnh hƣởng của Bộ
dân luật Pháp nên nhìn chung nội dung của nó khác hẳn với tinh thần luật
pháp truyền thống của nƣớc ta. Vấn đề gia đình không đƣợc coi trọng, vấn đề
cấp dƣỡng giữa các thành viên trong gia đình hầu nhƣ không đƣợc ghi nhận

9


trong bộ luật này cho nên quan hệ về gia đình nói chung và quan hệ về cấp
dƣỡng nói riêng chủ yếu dựa vào các quy định của hai Bộ dân luật miền Bắc
và miền Trung.
Pháp luật thời kì này quy định về nghĩa vụ cấp dƣỡng giữa cha mẹ và
con, giữa vợ và chồng và giữa các thành viên trong gia đình một cách rõ nét
hơn so với pháp luật thời kì phong kiến.
Trong quan hệ giữa cha mẹ và con, pháp luật quy định cha mẹ có nghĩa
vụ nuôi nấng, cƣu mang con. Điều đó thể hiện trong quy định về nghĩa vụ vợ
chồng tại Điều 91 Bộ dân luật Bắc Kỳ và Bộ dân luật Trung Kỳ: “Vợ chồng
phải cùng nhau làm cho gia đình hưng thịnh và lo toan việc nuôi nấng, dạy
dỗ con cái”. Bên cạnh đó, pháp luật thời kỳ này cũng đề cập đến việc cấp
dƣỡng giữa con cháu với ông bà, cha mẹ tại Điều 207 Bộ dân luật Bắc kỳ và
Bộ dân luật Trung kỳ nhƣ sau: “Làm người con phải suốt đời hiếu thuận,
cung kính với ông bà cha mẹ, phải cấp dưỡng cho cha mẹ ông bà”. Quy định
này có lẽ đƣợc xuất phát từ thực tế nƣớc ta lúc bấy giờ. Đó là gia đình thƣờng
đƣợc tồn tại với mô hình đại gia đình - gia đình, tức là gia đình gồm có nhiều
thế hệ sống chung với nhau dƣới một mái nhà. Nghĩa vụ cấp dƣỡng của con
cháu đối với ông bà, cha mẹ trong trƣờng hợp này có thể hiểu là bao gồm cả
nghĩa vụ phụng dƣỡng và nghĩa vụ nuôi dƣỡng.
Dựa trên nghĩa vụ nuôi nấng, dạy dỗ của cha mẹ đối với con mà pháp

ly hôn. Điều 139 Bộ dân luật Bắc Kỳ và Điều 137 Bộ dân luật Trung Kỳ quy
định: “Sau khi quan chánh ánđã thụlýđơn xin ly hônthì có thể truyền cho thi
hành các phương pháp tạm thời như: định chỗ ở cho vợ chồng, việc trông
nom con cái, việc quản trị tài sản và nếu cần thì định cả quyền cấp dưỡng”.
Khi vợ chồng li hôn, ngƣời chồng có nghĩa vụ cấp dƣỡng cho ngƣời vợ theo
quy định tại Điều 144 Bộ dân luật Bắc kỳvà Điều 142 Bộ dân luật Trung kỳ.
Tuy nhiên, trong trƣờng hợp ngƣời vợ tái giá, vô hạnh hoặc ăn ở tƣ tình với
ngƣời khác thì không đƣợc lĩnh tiền cấp dƣỡng [8, Điều 143] [21, Điều 154].

11


Pháp luật thời kì này không quy định nghĩa vụ cấp dƣỡng của vợ đối với
chồng.
Nhƣ vậy, đến thời kỳ này pháp luật đã đề cập tới thuật ngữ cấp dƣỡng
khi quy định các nghĩa vụ giữa cha mẹ và con, giữa vợ và chồng. Tuy nhiên,
có thể nhận xét rằng pháp luật thời kì này sử dụng các thuật ngữ cấp dƣỡng và
nuôi dƣỡng đồng nhất với nhau, chƣa có sự phân biệt rõ ràng giữa nghĩa vụ
cấp dƣỡng và nghĩa vụ nuôi dƣỡng.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nƣớc Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa ra đời (2/9/1945), tình hình kinh tế, xã hội, chính trị, quân sự có sự
thay đổi lớn. Đặc biệt là sự ra đời của Hiến pháp nƣớc Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa năm 1946. Trên cơ sở đó là sự ra đời của những văn bản pháp lý
đầu tiên về dân luật, hôn nhân và gia đình nhƣ Sắc lệnh số 159/SL ngày 17
tháng 11 năm 1950 và Sắc lệnh số 97/SL ngày 22 tháng 05 năm 1950. Đây là
cơ sở pháp lý để đấu tranh xóa bỏ chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến,
tạo cơ sở cho việc xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình mới dân chủ và tiến
bộ hơn trƣớc. Trong đó vấn đề về cấp dƣỡng đƣợc đề cập đến trong Sắc lệnh
số 159/SL nhƣ sau: “Toà án sẽ căn cứ vào quyền lợi của các con vị thành
niên để ấn định việc trông nom, nuôi nấng và dạy dỗ chúng. Hai vợ chồng đã

nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá,
xã hội và gia đình. Đây chính là cơ sở pháp lý cho chế độ hôn nhân và gia
đình và là tiền đề cho sự ra đời của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959.
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 (đƣợc thông qua ngày
29/12/1959) là công cụ pháp lý quan trọng, có tác dụng một mặt góp phần
thực hiện chế độ hôn nhân và gia đình mới – xã hội chủ nghĩa, mặt khác góp
phần xoá bỏ những tàn tích của chế độ hôn nhân và gia đình phong kiến lạc
hậu. Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 gồm6 Chƣơng chia thành 35 Điều,
trong đó vấn đề cấp dƣỡng đã đƣợc đề cập tại các Điều 30, 31, 32, 33. Theo
đó, nghĩa vụ cấp dƣỡng chỉ đƣợc đề cập giữa cha mẹ và con; giữa vợ và

13


chồng khi ly hôn. Chúng ta không tìm thấy quy định nào liên quan đến nghĩa
vụ cấp dƣỡng giữa các thành viên khác trong gia đình. Tuy nhiên, Luật Hôn
nhân và gia đình năm 1959 chƣa quy định một cách cụ thể mà nó đƣợc đồng
nhất với nghĩa vụ nuôi dƣỡng của cha mẹ đối với con và nghĩa vụ phụng
dƣỡng của con đối với cha mẹ giống nhƣ hiểu theo pháp luật thời phong kiến
về cấp dƣỡng. Điều 17 quy định: “Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi nấng,
giáo dục con cái. Con cái có nghĩa vụ kính yêu, săn sóc, nuôi dưỡng cha mẹ”
[23, Điều 17]. Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 còn nhắc đến vấn đề đóng
góp phí tổn nuôi con khi vợ chồng ly hôn tại Điều 32 nhƣ sau:
Khi ly hôn, việc giao cho ai trông nom, nuôi nấng và giáo dục con cái chưa
thành niên, phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con cái. Về nguyên tắc,
con còn bú phải do mẹ phụ trách. Người không giữ con vẫn có quyền thăm
nom, săn sóc con.
Vợ chồng đã ly hôn phải cùng chịu phí tổn về việc nuôi nấng và giáo dục
con, mỗi người tuỳ theo khả năng của mình.
Vì lợi ích của con cái, khi cần thiết, có thể thay đổi việc nuôi giữ hoặc việc

dưỡng cho người kia tùy theo tư lực của mình. Tiền cấp dưỡng này có thể bất
cứ lúc nào tăng giảm tùy theo nhu cầu và khả năng của hai bên.
Tòa án cũng có thể ấn định một số bồi khoản mà người phối ngẫu có lỗi
phải gánh chịu đối với người phối ngẫu kia để đền bù những sự thiệt hại vật
chất và tinh thần do sự ly hôn gây nên.
Hai người phối ngẫu có nghĩa vụ cấp dưỡng con chung tùy theo tư lực của
họ [20, Điều 197].
Thậm chí, nếu hai ngƣời chung sống với nhau nhƣ vợ chồng mà không có hôn
ƣớc thì vấn đề cấp dƣỡng cũng đƣợc đặt ra trong giai đoạn đang tiến hành thủ
tục ly hôn theo quy định tại Điều thứ 201. Bộ Dân luật Việt nam cộng hoà năm
1972 cũng thừa nhận vấn đề con ngoài giá thú cũng đƣợc cấp dƣỡng nhƣ sau:

15


Nếu trong thời kỳ hôn thú, một người phối ngẫu thừa nhận một đứa con đã
có với một người khác trước khi kết hôn, sự thừa nhận sẽ không làm thiệt hại
quyền lợi của người phối ngẫu kia và của con chính thức.
Đứa trẻ được thừa nhận như vậy chỉ được cấp dưỡng. Tuy nhiên, sau khi
hôn thú đoạn tiêu, nếu không có con chính thức, đứa trẻ được thừa nhận sẽ
được hưởng mọi quyền lợi về di sản[20, Điều 224].
Có thể nói rằng, so với các quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm
1959 thì các quy định tại Bộ Dân luật Việt Nam Cộng hoà năm 1972 về nghĩa
vụ cấp dƣỡng khá chi tiết và cụ thể hơn rất nhiều.
Sau năm 1975 đất nƣớc ta đã hoàn toàn thống nhất, cả nƣớc đi lên chủ
nghĩa xã hội. Tiếp đến là sự ra đời của Hiến pháp năm 1980 với các quy định
mới về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội; quyền nghĩa vụ cơ bản của công
dân sao cho phù hợp với giai đoạn mới của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đặc
biệt, Hiến pháp còn quy định các nguyên tắc của chế độ hôn nhân và gia đình
xã hội chủ nghĩa nhƣ sau:

và gia đình năm 1986: cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dƣỡng con (bao gồm nghĩa vụ
nuôi dƣỡng con đã thành niên mà không có khả năng lao động để tự nuôi
mình), các con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dƣỡng cha mẹ. Nghĩa
vụ nuôi dƣỡng giữa cha mẹ -con là nghĩa vụ pháp lý đồng thời nó còn mang
tính chất tình cảm tự nhiên. Trƣớc hết nghĩa vụ này đƣợc thực hiện một cách
tự giác đối với cả cha mẹ cũng nhƣ đối với các con. Ngoài ra, Luật Hôn nhân
và gia đình năm 1986 cũng đã đề cập tới vấn đề nuôi con nuôi. Theo đó, giữa
ngƣời nuôi và con nuôi có những nghĩa vụ và quyền của cha mẹ và con quy
định ở các Điều từ 19 đến 25 của Luật.
Đối với mối quan hệ giữa các thành viên khác trong gia đình, Luật Hôn
nhân và gia đình 1986 cũng đã quy định nhƣ sau:“Ông, bà có nghĩa vụ nuôi
dưỡng, giáo dục cháu chưa thành niên trong trường hợp cháu không còn cha
mẹ. Cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng ông bà trong trường hợp ông

17


bà không còn con. Anh chị em có nghĩa vụ đùm bọc lẫn nhau trong trường
hợp không còn cha mẹ”[25, Điều 27].
Trong trƣờng hợp vợ chồng ly hôn, nếu bên túng thiếu yêu cầu cấp
dưỡng thì bên kia phải cấp dưỡng theo khả năng của mình. Khoản cấp dưỡng
và thời gian cấp dưỡng do hai bên thoả thuận. Nếu hai bên không thoả thuận
được với nhau thì Toà án nhân dân quyết định. Khi hoàn cảnh thay đổi, người
được cấp dưỡng hoặc người phải cấp dưỡng có thể yêu cầu sửa đổi mức hoặc
thời gian cấp dưỡng. Nếu người cấp dưỡng kết hôn với người khác thì không
được cấp dưỡng nữa[25, Điều 42]. Quy định này là sự kế thừa quy định của
Luật Hôn nhân và gia đình 1959 về cấp dƣỡng khi vợ chồng ly hôn nhƣng có
sự tiến bộ hơn khi quy định ngƣời đƣợc cấp dƣỡng hoặc ngƣời phải cấp
dƣỡng có thể yêu cầu sửa đổi mức hoặc thời gian cấp dƣỡng. Điều này là phù
hợp với tình hình thực tế, bởi lẽ căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của

Vì vậy, xuất phát từ lý do trên, việc xây dựng và ban hành Luật hôn nhân và
gia đình mới là điều hoàn toàn cần thiết và phù hợp với đòi hỏi của xã hội và
phát triển của đất nƣớc.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đƣợc quốc hội khóa X thông qua
ngày 09 tháng 06 năm 2000 đã dành chƣơng thứ VI để quy định về việc cấp
dƣỡng một cách có hệ thống, đầy đủ và cụ thể. Đây là chƣơng mới đƣợc phát
triển từ Điều 43, Điều 45 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986. Lần đầu tiên
khái niệm cấp dƣỡng đƣợc quy định một cách rõ ràng và cụ thể trong Luật
Hôn nhân và gia đình: Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp
tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống
chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong
trường hợp người đó là người chưa thành niên, là người đã thành niên mà
không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, là người
gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này[28,Điều 8].Luật Hôn

19


nhân và Gia đình năm 2000 đã cụ thể hoá, chi tiết hoá các quy định có tính
khái quát, chung chung của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986, đặc biệt là
các nghĩa vụ và quyền về nhân thân và tài sản của các thành viên trong gia
đình. Luật cũng đã mở rộng phạm vi quan hệ cấp dƣỡng, không chỉ có nghĩa
vụ cấp dƣỡng giữa vợ chồng khi ly hôn mà còn quy định nghĩa vụ cấp dƣỡng
giữa các thành viên trong gia đình bao gồm cha, mẹ và con, giữa anh chị em
với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa vợ và chồng. Nghĩa vụ
cấp dƣỡng của cha mẹ đối với con khi ly hôn cũng đƣợc quy định một cách
chặt chẽ, luật cũng quy định rõ những ngƣời có quyền yêu cầu thực hiện
nghĩa vụ cấp dƣỡng, phƣơng thức thực hiện cấp dƣỡng và các trƣờng hợp
chấm dứt cấp dƣỡng.
Với những điểm mới quan trọng trên, Luật Hôn nhân và Gia đình năm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status