Chế định cấp dưỡng trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 - Pdf 25



4
MỘT SỐ TỪ NGỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

BLDS
BỘ LUẬT DÂN SỰ
BLHĐ
Bộ luật Hồng Đức
BLGL
BỘ LUẬT GIA LONG
CNH – HĐH
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNTTLH
Công nhận thuận tình ly hôn
HN&GĐ
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
TANDTC
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI
CAO
Tp. HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
TR
TRANG
Luật HN&GĐ năm 2000, yêu cầu sự điều chỉnh của
chế định cấp dưỡng
15
Chƣơng 2: Nội dung của chế định cấp dƣỡng theo Luật Hôn
nhân và Gia đình năm 2000
32

2.1. Các qui định chung về cấp dưỡng
34

2.2. Các trường hợp cấp dưỡng cụ thể
58

2.3. Chế tài của Chế định cấp dưỡng
75
Chƣơng 3: Thực trạng thi hành và áp dụng pháp luật về cấp
dƣỡng và một số giải pháp hoàn thiện chế định cấp
dƣỡng trong giai đoạn hiện nay
79

3.1. Thực trạng thi hành pháp luật về cấp dưỡng và những
nguyên nhân của nó
79

3.2. Một số giải pháp hoàn thiện chế định cấp dưỡng
92
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
106

không may mắn vẫn chưa nhận được sự giúp đỡ khi những thành viên trong gia
đình là người bạc bẽo hoặc không có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
cho người khác, và những gánh nặng đó lại đè nặng lên vai xã hội. Chúng tôi
thiết nghĩ đã đến lúc chúng ta cần phải tạo ra một hành lang pháp lý hoàn thiện 7
và đảm bảo cho nó được thực thi trong cuộc sống, nhằm điều chỉnh các quan hệ
giữa các thành viên trong gia đình đặc biệt là quan hệ cấp dưỡng phát triển theo
chính sách của Đảng và Nhà nước đã đặt ra, không ngừng thực hiện việc quản lý
xã hội bằng pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là cấn
thiết và cấp bách đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay. Chúng ta ngày càng
phải hoàn thiện mình hơn để có thể sánh vai cùng các nước trong khu vực và thế
giới, xây dựng xã hội văn minh ở đó không có tình trạng người già và trẻ em
lang thang cơ nhỡ, mọi số phận hẩm hiu trong xã hội sẽ được gia đình và xã hội
cưu mang. Xuất pháp từ những lý do nêu trên mà chúng tôi chọn đề tài: “Chế
định cấp dưỡng trong pháp luật hôn nhân và gia đình năm 2000”. Nhằm nghiên
cứu về lý luận và thực tiễn, chỉ rõ những bất cập và vướng mắc trong quá trình
thực hiện chế độ cấp dưỡng và nêu ra những phương hướng góp phần vào công
cuộc hoàn thiện pháp luật về cấp dưỡng nói riêng và pháp luật hôn nhân gia đình
nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Luật hôn nhân và gia đình là một mảng đề tài hấp dẫn đối với các nhà
nghiên cứu luật học. Đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về hôn nhân và gia đình,
nhưng đối với đề tài cấp dưỡng thì vẫn ít người quan tâm nghiên cứu nó một cách
sâu rộng và hoàn thiện. Đã có một số đề tài có đề cập đến vấn đề cấp dưỡng
nhưng trong phạm vi hẹp như trong luận văn tốt nghiệp cử nhân luật của sinh viên
Nguyễn Thị Hồng Oanh “ Hậu quả pháp lý của ly hôn” Khoa luật Đại học quốc
gia Hà Nội, luận văn “ Chế độ tài sản của vợ chồng” của cử nhân Phí Thùy Linh,
Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội năm 1998. Đặc biệt trong thời gian này có

3.2. Nhiệm vụ:
- Cơ sở lý luận về chế định cấp dưỡng, nghiên cứu một cách toàn diện
lịch sử về vấn đề cấp dưỡng trong hệ thống pháp luật Việt Nam. 9
- Đánh giá đúng đắn và toàn diện thực trạng của việc thực thi pháp luật
về cấp dưỡng.
- Phân tích nguyên nhân.
- Xác định yêu cầu mới đặt ra với việc xây dựng pháp luật về cấp
dưỡng trong giai đoạn hiện nay.
- Đưa ra phương hướng, giải pháp và kiến nghị để hoàn thiện pháp luật
về cấp dưỡng nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn đặt ra.
4. Phạm vi nghiên cứu của luận án
Đề tài “Chế định cấp dưỡng trong luật hôn nhân và gia đình năm 2000”
vì vậy trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ luật học tác giả chỉ tập trung nghiên
cứu các qui định pháp luật về cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình.
Cơ sỡ lý luận, thực tiễn đánh giá thực trạng để từ đó nhận thức rõ yêu cầu cơ
bản và đưa ra phương hướng giải quyết, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
của việc cấp dưỡng đồng thời hoàn thiện hơn pháp luật về cấp dưỡng trong
giai đoạn hiện nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận án
- Phương pháp chính được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu luận
án là chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy biện chứng, phép biện chứng của
chủ nghĩa Mác- Lê, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật.
- Ngoài ra luận án còn sử dụng các biện pháp cụ thể: phân tích, so sánh,
thống kê, tổng hợp.
6. Ý nghĩa và điểm mới của luân án
- Luận án đã nghiên cứu và phân tích một cách toàn diện về ý nghĩa, mục
đính, các điều kiện của quan hệ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình.

11

CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ ĐỊNH CẤP DƢỠNG
TRONG LUẬT HÔN NHÂN GIA ĐÌNH NĂM 2000

1.1 Khái niệm chung về chế định cấp dƣỡng
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm quan hệ cấp dưỡng
Quan hệ cấp dưỡng là quan hệ gia đình trước hết dựa trên cơ sở huyết
thống, quan hệ huyết hệ tự nhiên và thông thường được thực hiện một cách tự
nguyện giữa những người có nghĩa vụ phải nuôi dưỡng nhau mà không tự
giác thực hiện hoặc vì nguyên nhân nào đó không trực tiếp nuôi dưỡng nhau
thì phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng.
Quan hệ cấp dưỡng là một quan hệ đặc trưng về hôn nhân và gia đình.
Những quan hệ này được các qui phạm pháp luật HN&GĐ điều chỉnh thì trở
thành quan hệ pháp luật.
Quan hệ cấp dưỡng là một quan hệ xã hội phát sinh giữa các cá nhân
với nhau trên cơ sở hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng được các qui phạm
pháp luật cấp dưỡng điều chỉnh. Quan hệ pháp luật cấp dưỡng bao gồm: Chủ
thể quan hệ pháp luật cấp dưỡng, quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng, khách thể của
quan hệ cấp dưỡng

thiếu trong quan hệ cấp dưỡng. Không thể có quyền được cấp dưỡng nếu
không có nghĩa vụ cấp dưỡng để đảm bảo cho quyền cấp dưỡng được thực
hiện. Ngược lại sẽ không có nghĩa vụ cấp dưỡng nếu không có quyền được 13
cấp dưỡng cần được đáp ứng. Quyền được cấp dưỡng và nghĩa vụ cấp dưỡng
là hai mặt của một vấn đề.
Khách thể của quan hệ cấp dưỡng là những lợi ích mà các chủ thể tham
gia vào quan hệ cấp dưỡng hướng tới. Xuất phát từ đặc điểm riêng biệt của
quan hệ pháp luật HN&GĐ nhằm thoả mãn những lợi ích vật chất và tinh
thần. Cấp dưỡng là nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của người được cấp
dưỡng nên trong quan hệ cấp dưỡng lợi ích chính mà các chủ thể hướng tới là
vật chất. Với hoàn cảnh phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng thì vật chất là những gì
thuộc về nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, nói chung là nhu cầu thể xác
của con người nên có thể là tiền hoặc lương thực bởi tiền và lương thực là yếu
tố bảo đảm đáp ứng nhu cầu của cuộc sống cho chủ thể có quyền cấp dưỡng
một cách hợp lý nhất và có hiệu quả nhất. Tuy nhiên trong quan hệ cấp dưỡng
các chủ thể còn hướng tới lợi ích tinh thần vì khi hưởng các lợi ích vật chất
chủ thể của quyền được cấp dưỡng còn cảm nhận được tình yêu thương, sự
quan tâm, chăm sóc của chủ thể có nghĩa vụ cấp dưỡng dành cho mình.
Để hiểu rõ hơn về chế định cấp dưỡng với tư cách là một loại quan hệ
pháp luật dân sự, sau đây chúng ta đi tìm hiểu các đặc điểm của quan hệ pháp
luật cấp dưỡng.
- Quan hệ cấp dưỡng là một loại quan hệ tài sản đặc biệt phát sinh giữa
giữa các cá nhân với nhau khi có những điều kiện nhất định do đó không thể
thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác vì nó
gắn liền với nhân thân chủ thể (người cấp dưỡng và người được cấp dưỡng)
mà người có nghĩa vụ cấp dưỡng phải tự mình thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Do tính chất của nghĩa vụ cấp dưỡng là đảm bảo cho người chưa thành niên,

là đối tượng của một hợp đồng chuyển nhượng.
Cần khẳng định rằng nguyên tắc không thể chuyển giao trong việc thực
hiện quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng khác với việc thực hiện quyền và nghĩa vụ 15
cấp dưỡng thông qua người thứ ba. Các chủ thể tham gia quan hệ cấp dưỡng
không thể chuyển giao quyền và nghĩa vụ của mình cho người khác nhưng lại
có thể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình thông qua người thứ ba. Trong
thực tế có những trường hợp vì điều kiện và hoàn cảnh nào đó mà người có
nghĩa vụ cấp dưỡng không thể trực tiếp thực hiện nghĩa vụ của mình thì họ có
thể thông qua người khác để thực hiện nghĩa vụ của mình. Ví dụ: Người cha
đang cư trú ở nước ngoài phải cấp dưỡng cho con sau ly hôn theo phương
thức định kỳ hàng tháng thì người cha có thể gửi tiền về cho người thân của
mình để hàng tháng người này chuyển tiền cấp dưỡng cho con.
- Quan hệ cấp dưỡng chỉ phát sinh giữa các thành viên trong gia đình
trên cơ sở hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng được
thực hiện giữa cha me và con, anh chị em với nhau, giữa ông bà nội ngoại và
các cháu, giữa vợ và chồng.
- Quan hệ cấp dưỡng là quan hệ mang tính bền vững và lâu dài hơn các
quan hệ HN&GĐ và các quan hệ dân sự. Nó chỉ chấm dứt khi có những sự
kiện pháp lý nhất định: người được cấp dưỡng đã thành niên và có khả năng
lao động, người được cấp dưỡng và người cấp dưỡng chết, người được cấp
dưỡng được nhận làm con nuôi…Khoảng thời gian từ khi quan hệ cấp dưỡng
phát sinh tồn tại đến khi chấm dứt là một khoảng thời gian có thể là năm,
mười năm và có thể lâu hơn nữa chứ không như quan hệ dân sự ( quan hệ
mua bán).
- Quan hệ cấp dưỡng mang tính bình đẳng và thoả thuận nhưng bao giờ
cũng dựa trên cơ sở qui phạm pháp luật HN&GĐ chứ không giống thoả thuận
trong quan hệ dân sự mang tính tự do ý chí của các bên. Bên cạnh đó sự bình

họ đã từng phải cấp dưỡng. Và cũng có thể theo thời gian, người mà trước
đây được hưởng quyền cấp dưỡng nay lại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho chính 17
người trước đây đã cấp dưỡng cho mình thì số tiền hoặc hiện vật mà họ có
nghĩa vụ chu cấp cho người được cấp dưỡng không nhất thiết là phải ngang
bằng với phần trước đây họ đã nhận, mà số tiền hoặc hiện vật đó có thể lớn
hơn rất nhiều cũng có thể ít đi rất nhiều. Vì vậy quan hệ cấp dưỡng không
mang tính đền bù tương đương, không có tính chất tuyệt đối và không diễn ra
đồng thời.
- Nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ bổ sung, nó chỉ phát sinh khi nghĩa
vụ chính không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, nó chỉ phát sinh
trong những điều kiện nhất định, khi người được cấp dưỡng không có tài sản
để tự nuôi mình.
1.1.2. Khái niệm chế định cấp dưỡng
Trong khoa học pháp lý, các thuật ngữ: hệ thông pháp luật, ngành luật,
chế định pháp luật, quy phạm pháp luật được sử dụng một cách phổ biến. Nhà
nước điều chỉnh các quan hệ xã hội trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội thông
qua các quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật của Nhà nước. Khác với
các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ, các nước theo hệ thống pháp luật
Châu Âu lục địa trong đó có Việt Nam phân chia hệ thống pháp luật quốc gia
thành các ngành luật, trong mỗi ngành luật có các chế định pháp luật, trong
mỗi chế định pháp luật có các quy phạm pháp luật dựa trên các quan hệ xã hội
mà nó điều chỉnh. Mỗi ngành luật đều có đối tượng điều chỉnh và phương
pháp điều chỉnh riêng. Chế định pháp luật là các hệ thống quy phạm pháp luật
điều chỉnh các quan hệ xã hội cùng loại có quan hệ mật thiết với nhau. Dựa
vào các nhóm quan hệ mà một ngành luật điều chỉnh, căn cứ vào những đặc
thù của khách thể quan hệ pháp luật mà mỗi ngành luật được chia thành các
chế định pháp luật lớn tương ứng. Giả sử như trong ngành Luật Dân sự, dựa


19
điều chỉnh của ngành luật Dân sự - ngành luật gốc của Luật HN&GĐ. Bởi vì
thực chất của quan hệ hôn nhân cũng chỉ là một loại khế ước do các bên thoả
thuận trên nguyên tắc bình đẳng và tự nguyện giống như một quan hệ dân sự.
Tuy nhiên quan hệ pháp luật HN&GĐ vẫn có những nét riêng biệt so với các
quan hệ pháp luật dân sự bởi yếu tố tình cảm thân thiết gắn bó giữa các chủ
thể dựa trên cơ sở pháp lý quan trọng: Hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi
dưỡng. Trong quan hệ hôn nhân và gia đình không thể áp đặt phương pháp
điều chỉnh sòng phẳng như trong các quan hệ pháp luật dân sự (không mang
tính đền bù ngang giá). Chính vì vậy hiện nay trong Bộ luật Dân sự của nước
ta chỉ quy định một số điều cơ sở cho luật HN&GĐ. Ví dụ như quy định về
quyền tự do kết hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền được hưởng sự
chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình, quyền ly hôn, quyền nhận,
không nhận cha mẹ, con, quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm
con nuôi. Mặt khác trong thực tiễn xét xử và giải quyết các vụ án về hôn nhân
và gia đình chúng ta vẫn phải áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân
sự và Pháp lệnh thi hành án dân sự. Chẳng hạn Khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh thi
hành án dân sự sửa đổi bổ sung ngày 14 tháng 1 năm 2004 có ghi: “Bản án
quyết định dân sự nói tại Pháp lệnh này bao gồm: Bản án quyết định về dân
sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động” hoặc trong Khoản 2 Điều 2 Pháp
lệnh này cũng quy định “bản án quyết định sơ thẩm, phúc thẩm về cấp dưỡng
sẽ được thi hành ngay sau khi tuyên án”. Hay trong Điều 5 - Luật HN&GĐ
năm 2000 quy định; “Trong trường hợp pháp luật HN&GĐ không có quy
định thì áp dụng các quy định của Luật Dân sự”. Từ sự phân tích trên cho
thấy mặc dù về mặt lý thuyết thì hôn nhân gia đình là một ngành luật độc lập
so với ngành luật Dân sự và các ngành luật khác trong hệ thống pháp luật Việt
Nam. Song trong thực tiễn đời sống pháp lý kể cả trong xét xử, thi hành án
chúng ta lại luôn coi Luật HN&GĐ là một bộ phận của Luật Dân sự vì chúng


21
trách nhiệm giữa các chủ thể đó đóng góp phí tổn (tiền, tài sản…) cấp dưỡng
cho nhau trong những điều kiện nhất định, bảo đảm ổn định trật tự các quan
hệ cấp dưỡng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ
pháp luật hôn nhân và gia đình.
1.2. Chế định cấp dƣỡng trong pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn
phát triển và sự cần thiết phải ban hành Luật HN&GĐ năm 2000, yêu
cầu sự điều chỉnh của chế định Cấp dƣỡng
1.2.1.Khái quát một số nét về vấn đề cấp dưỡng trước năm 1945
1.2.1.1. Khái quát một số nét về vấn đề cấp dưỡng ở Nhà nước Phong
kiến
Pháp Luật thời Phong kiến Việt Nam là bức tranh thời đại, không những
phản ánh trung thực tổ chức của xã hội và gia đình trong mỗi giai đoạn lịch sử
mà còn biểu lộ cả trạng thái và phản ứng phức tạp của tâm hồn người dân Việt
Nam trước những biến cố lịch sử. Do đó trong mỗi thời kỳ khác nhau của lịch sử
pháp luật đều có sự thay đổi phù hợp với bối cảnh xã hội thời bấy giờ. Tuy nhiên
việc nghiên cứu pháp luật thời phong kiến sẽ gặp rất nhiều khó khăn do chính
sách đồng hóa, ngu dân mà Trung Quốc đã áp dụng triệt để ở Việt Nam hơn 10
thế kỷ nên các tài liệu, sử sách sao chép luật lệ đều bị thất lạc và mai một. Tiêu
biểu cho pháp luật thời kỳ phong kiến còn sót lại đến ngày nay là: Bộ Luật Hồng
Đức và Bộ Luật Gia Long.
Sự kết hợp giữa Nho giáo và khung cảnh xã hội Việt Nam thời bấy giờ
để tạo ra một nét văn hoá độc đáo. Từ ngàn xưa gia đình được coi là nền tảng
của xã hội, gia đình có vững mạnh thì xã hội mới ổn định. Vì vậy mà đạo lý gia
đình được đặc biệt quan tâm trong pháp luật. Điều 375 BLHĐ qui định: "Vợ
chồng không có con hoặc ai chết trước không có chúc thư, mà điền sản chia về 22
vợ hay chồng, cùng là để việc tế tự không đúng phép, thì xử phạt 50 roi, biếm

sống được thì quan sở tại phải thu nuôi họ, mà bỏ rơi thì bị xử đánh 50 roi,
biếm một tự. Nếu họ được cấp cơm áo mà quan lại ăn bớt thì phải khép vào tội
như người giữ kho ăn bớt của công” [3,Tr.123]. Ở đây có sự đan xen giữa đạo
đức và pháp luật. Cha mẹ chăm sóc và nuôi dưỡng con, con phụng dưỡng cha
mẹ là nghĩa vụ đạo đức. Nhưng khi nghĩa vụ đạo đức không được thực hiện
một cách tự nguyện thì pháp luật qui định những biện pháp trừng trị thích đáng.
Bên cạnh đó Điều 284-BLHĐ cũng qui định rất rõ trách nhiệm của các
quan ti trong việc để cho người dân phải nghèo khổ đến mức phải phiêu bạt đi
nơi khác. Điều này nên chăng chính quyền địa phương ngày nay nên kế thừa và
phát triển. Hơn thế trong Điều 294-BLHĐ ghi: “Trong kinh thành hay phường,
ngõ, làng xóm có kẻ ốm đau mà không ai nuôi nấng nằm ở đường xá, cầu,
điếm, chùa thì xã quán đó phải dựng lều lên mà giữ gìn chăm sóc cho họ cơm
cháo, thuốc men, sốt cao thì phải cứu cho họ sống, không được bỏ mặc họ rên
rỉ khốn khổ. Nếu không may họ chết thì phải trình lên quan tùy theo điều kiện
mà chôn cất, không được để lộ thi hài, nếu trái lệnh thì quan phường xã đó phải
tội biếm, hay bãi chức” [3,Tr. 122]. Như vậy ở thời Lê người ta gần như đồng
nhất cấp dưỡng với trợ cấp xã hội. Nhưng dẫu sao Pháp luật nhà Lê cũng đã rất
quan tâm đến cấp dưỡng cho những người gặp hoàn cảnh khó khăn, cũng như
qui kết trách nhiệm cho quan sở tại và những người có nghĩa vụ cấp dưỡng.
Dưới triều Nguyễn do ảnh hưởng của giặc ngoại xâm Trung quốc và sau
đó là Thực Dân Pháp đã đánh dấu một sự suy vi về phương diện pháp lý. BLGL
nó gần như sao chép lại Luật Nhà Thanh nên nội dung chủ yếu là hình luật và
hình phạt được qui định hết sức hà khắc. Ngay cả quan hệ giữa các thành viên
trong gia đình cũng được qui định dưới các điều khoản về hình luật. Tại mục 15
quyển 16 về hình luật qui định về tội con cháu vi phạm lời dạy bảo của ông bà
cha mẹ: “Con cháu vi phạm lời dạy bảo của ông bà, cha mẹ hoặc phụng dưỡng 24
mà cố ý làm thiếu sót thì phạt 100 trượng” [24, tr.847]. Như vậy dù không có

sản được cho trong thời kỳ hôn nhân) được gộp vào tài sản người cha tạo
thành một khối do người cha nắm giữ và dùng để nuôi con. Và nếu họ chia
nhau con thì họ cũng chia nhau tài sản. Do đó không đặt ra vấn đề cấp dưỡng.
Trong trường hợp người cha có con ngoài giá thú, nếu quan hệ giữa mẹ đứa
trẻ và người đàn ông bị bắt quả tang thì người đàn ông phải nuôi dưỡng đứa
trẻ. Nếu quan hệ giữa mẹ đứa trẻ và người đàn ông không bị bắt quả tang thì
người mẹ phải nuôi dưỡng đứa trẻ. Hơn nữa pháp luật thời phong kiến không
cho phép con ngoài giá thú được quyền kiện tìm cha để hưởng quyền cấp
dưỡng [24, tr.115-116]. Do đó vấn đề cấp dưỡng của cha đối với con ngoài
giá thú không được pháp luật qui định. Trong quan hệ vợ chồng, pháp luật qui
định nghĩa vụ phù trợ. Thực chất đây là nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc về mặt
vật chất giữa vợ và chồng chứ không phải là nghĩa vụ cấp dưỡng, bởi lẽ sau
khi kết hôn vợ chồng có nghĩa vụ sống chung và phù trợ lẫn nhau và khi ly
hôn thì người vợ chuyển về nương tựa gia đình cha mẹ đẻ của mình. Trong
trường hợp vợ chồng ly hôn mà người vợ không còn bà con họ hàng để trở về
nương tựa thì thuộc trường hợp tam bất khứ nên người chồng không được bỏ
vợ. Đồng thời nếu người vợ không có lỗi mà bị chồng bỏ (như không có con)
thì được mang điền sản của mình về. Do đó cuộc sống của người vợ sau khi
ly hôn đã được pháp luật dự liệu và có biện pháp đảm bảo nên vấn đề cấp
dưỡng của chồng đối với vợ không được đặt ra. Tuy nhiên theo ủy ban cố vấn
án lệ thì trong trường hợp ly hôn (không phải là trường hợp rẫy vợ) quyền lợi
của người vợ được bảo đảm hơn. Họ có thể được người chồng cấp dưỡng nếu
thắng kiện. 26
1.2.1.2.Khái quát một số nét về vấn đề cấp dưỡng thời kỳ Pháp thuộc.
Dưới thời pháp thuộc, với chính sách chia để trị, Thực Dân Pháp đã
chia nước ta ra ba miền: Bắc, Trung, Nam tương ứng với ba miền là ba Bộ
luật. ở miền Bắc có Bộ dân luật bắc kỳ (DLBK) năm 1931, ở miền Trung có

Toà án tuyên bố một người đàn ông là cha của con ngoài giá thú thì đồng thời
Toà án cũng phải tuyên bố người đó phải cấp dưỡng cho đứa con đến khi nó
18 tuổi. Nếu cha mang con về nuôi dưỡng, chăm sóc như con chính thức thì
không phải cấp dưỡng nữa. Trong quan hệ vợ chồng pháp luật qui định về
nghĩa vụ cấp dưỡng trong trường hợp hôn nhân còn tồn tại và cả trong trường
hợp vợ chồng ly hôn.
+ Đối với trường hợp hôn nhân còn tồn tại, người chồng phải cấp
dưỡng cho vợ lẽ, bởi người vợ lẽ không được sống chung với chồng nhưng có
quyền được chồng cưu mang và phù trợ. Còn người vợ cả vấn đề cấp dưỡng
không được đặt ra, nhưng án lệ lại cho phép người vợ cả có quyền được yêu
cầu người chồng cấp dưỡng nếu dẫn chứng được rằng người chồng đã không
cho chung sống hoặc đã làm tổn hại nhân cách của mình tại nơi ở chung làm
cho người vợ cả không thể sống chung với người chồng được (người chồng
đã nuôi dưỡng tại nhà một người tình nhân không có hôn thú). Đồng thời
pháp luật cũng qui định người chồng phải cấp dưỡng cho vợ trong thời gian
giải quyết việc ly hôn. Điều 139 Bộ DLBK và Điều 137 Bộ DLTK qui định:
Sau khi quan chánh án đã thụ lý đơn xin ly hôn thì có thể truyền cho thi hành
các phương án tạm thời: Định chỗ ở cho vợ chồng, việc trông nom con cái,
nếu cần định cả tiền cấp dưỡng.
+ Khi vợ chồng ly hôn thì pháp luật qui định người chồng có nghĩa vụ
cấp dưỡng cho vợ (3, Điều 144), (4, Điều 142). Tuy nhiên trong trường hợp
người vợ tái giá, vô hạnh, hoặc ăn ở tư tình với người khác thì không được 28
nhận tiền cấp dưỡng. Pháp luật thời kỳ này không qui định nghĩa vụ cấp
dưỡng của vợ đối với chồng. Bởi nó ảnh hưởng thuyết vô năng lực của người
đàn bà và thuyết tam tòng lúc bây giờ.
Tiền cấp dưỡng chỉ có ý nghĩa đảm bảo ổn định cuộc sống của người
vợ sau khi ly hôn mà hoàn toàn không mang tính chất của khoản tiền bồi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status