tóm tắt Nghiên cứu áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ ở các cơ quan nhà nước cấp tỉnh - Pdf 42

Header Page 1 of 126.
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THÙY DUNG

NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ PHẠT
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG CÔNG TÁC LƢU TRỮ
Ở CÁC CƠ QUAN NHÀ NƢỚC CẤP TỈNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lƣu trữ

Hà Nội, 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
1
Footer Page 1 of 126.


Header Page 2 of 126.
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ THÙY DUNG

NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ PHẠT
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG CÔNG TÁC LƢU TRỮ
Ở CÁC CƠ QUAN NHÀ NƢỚC CẤP TỈNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Lƣu trữ
Mã số: 60 32 03 01

TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Thùy Dung

LỜI CAM ĐOAN
3
Footer Page 3 of 126.


Header Page 4 of 126.

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Trong luận văn có sử dụng một số thông tin trong các văn bản của Nhà nước,
của giáo trình, từ điển; tham khảo các Báo cáo của Cục Văn thư và Lưu trữ
nhà nước, Báo cáo công tác của các tỉnh nhưng đã được chú thích. Công trình
này chưa được tác giả nào công bố./.
TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Thùy Dung

4
Footer Page 4 of 126.


Header Page 5 of 126.

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU................................................................................................................... 7
1. Tính cấp thiết của đề tài ..................................................................................................... 7
2. Tình hình nghiên cứu ......................................................................................................... 9

2.2.3. Hàn Quốc ........................................................... Error! Bookmark not defined.
2.2.4. Nga ..................................................................... Error! Bookmark not defined.
2.2.5. Slovenia ............................................................. Error! Bookmark not defined.
2.3. Một số vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ từ thực tế hoạt động của các cơ quan
nhà nước cấp tỉnh ................................................................. Error! Bookmark not defined.
2.3.1.Vi phạm hành chính do các cán bộ, công chức, viên chức thực hiện ..........Error!
Bookmark not defined.
2.3.2.Vi phạm hành chính do các cá nhân, tổ chức khác thực hiện .. Error! Bookmark
not defined.
2.4. Xác định các hành vi vi phạm hành chính trong công tác lưu trữError! Bookmark not
defined.
2.4.1. Vi phạm trong công tác thu thập tài liệu lưu trữ Error! Bookmark not defined.
2.4.2. Vi phạm trong công tác xác định giá trị tài liệu lưu trữ .... Error! Bookmark not
defined.
2.4.3. Vi phạm trong công tác bảo quản tài liệu lưu trữ ............. Error! Bookmark not
defined.
5
Footer Page 5 of 126.


Header Page 6 of 126.
2.4.4. Vi phạm trong công tác tiêu hủy tài liệu lưu trữ Error! Bookmark not defined.
2.4.5. Vi phạm trong công tác khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ..... Error! Bookmark
not defined.
2.4.6. Vi phạm trong hoạt động dịch vụ lưu trữ .......... Error! Bookmark not defined.
Chƣơng 3 ................................................................................ Error! Bookmark not defined.
NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ PHẠT . Error! Bookmark not defined.
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG CÔNG TÁC LƢU TRỮError! Bookmark not
defined.
3.1. Sự cần thiết nghiên cứu áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong công

1. Tính cấp thiết của đề tài
Vi phạm hành chính là loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến trong
đời sống xã hội. Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội của nó thấp hơn so với tội
phạm nhưng vi phạm hành chính là hành vi gây thiệt hại tới lợi ích của nhà
nước, của cộng đồng. Chính vì lẽ đó mà công tác đấu tranh phòng và chống vi
phạm hành chính luôn là vấn đề được quan tâm. Từ trước đến nay, nhà nước
đã ban hành khá nhiều các văn bản pháp luật quy định về vi phạm hành chính
và biện pháp xử lý đối với vi phạm này. Trong đó có thể kể đến các văn bản
như: Sắc lệnh số 131/SL ngày 20 tháng 7 năm 1946 do Chủ tịch Hồ Chí Minh
ký quy định việc truy tầm các sự phạm pháp; Sắc lệnh số 175/SL ngày 18
tháng 8 năm 1953 quy định các biện pháp quản chế hành chính; Nghị quyết số
49/NQ-TVQH năm 1961 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về tập trung giáo
dục cải tạo những phần tử có hành vi nguy hại xã hội; ... Ngày 28 tháng 11
năm 1989, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính do Ủy ban thường vụ Quốc
hội ban hành đã đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật Việt Nam về
xử lý vi phạm hành chính. Đến nay, sau nhiều lần sửa đổi, thay thế, năm
2012, Luật xử lý vi phạm hành chính được ban hành, góp phần nâng cao hiệu
quả của pháp luật xử phạt vi phạm hành chính. Sau khi Luật xử lý vi phạm
7
Footer Page 7 of 126.


Header Page 8 of 126.

hành chính có hiệu lực, các ngành, lĩnh vực đều đã chủ động ban hành Nghị
định xử phạt vi phạm hành chính trong phạm vi ngành, lĩnh vực của mình
theo thẩm quyền được giao.
Đối với ngành lưu trữ, trước khi Luật Lưu trữ có hiệu lực, việc xử phạt
những vi phạm trong công tác lưu trữ cũng đã được đề cập tại Điều 29 Pháp
lệnh Lưu trữ quốc gia năm 2001 và tại Điều 26 và Điều 27 Nghị định số

Theo quy định tại Điều 1 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng
7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành
Luật Xử lý vi phạm hành chính thì trong trường hợp cán bộ, công chức, viên
chức thực hiện hành vi vi phạm khi đang thi hành công vụ, nhiệm vụ và hành
vi vi phạm đó thuộc công vụ, nhiệm vụ được giao, thì không bị xử phạt theo
quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, mà bị xử lý theo quy
định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức. Cơ quan nhà nước thực
hiện hành vi vi phạm thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao, thì không
bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, mà bị xử
lý theo quy định của pháp luật có liên quan. Tuy nhiên cho đến nay, trong các
tiêu chí đánh giá công chức, viên chức hàng năm chưa coi các hành vi vi
phạm trong công tác lưu trữ là một trong các tiêu chí đánh giá về mức độ
hoàn thành công việc và chưa có quy định nào của nhà nước để cụ thể hóa
quy định nói trên như: đối với cán bộ, công chức, viên chức trong trường hợp
có các hành vi vi phạm trong công tác lưu trữ sẽ bị khiển trách, cảnh cáo, …
Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nhiều cơ
quan, tổ chức nhà nước cấp tỉnh chưa có Lưu trữ cơ quan hoặc có Lưu trữ cơ
quan nhưng chưa thực hiện đúng các quy định của nhà nước về công tác này.
Còn đối với các cá nhân, tổ chức khác thuộc đối tượng điều chỉnh của
Luật xử lý vi phạm hành chính thì hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp
luật nào điều chỉnh vấn đề này. Điều này dẫn đến việc các quy định của nhà
nước về công tác lưu trữ chưa được thực hiện nghiêm túc.
Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu áp dụng
các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lƣu trữ ở các
cơ quan nhà nƣớc cấp tỉnh” làm đề tài luận văn cao học của mình. Trên cơ
sở pháp lý hiện có và từ thực tế công tác lưu trữ từ các cơ quan, tổ chức cấp
tỉnh, chúng tôi xác định các hành vi vi phạm và đề xuất việc áp dụng các biện
pháp xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ nói chung.

9

- Bài viết tạp chí: trên Tạp chí Văn thư Lưu trữ Việt Nam, qua nghiên
cứu, thống kê cho thấy số lượng bài viết, nghiên cứu về vấn đề này không
nhiều. Liên quan đến nội dung này có bài viết Bộ luật hình sự của nước
CHXHCN Việt Nam (trích một số điều liên quan đến công tác văn thư, lưu trữ,
bảo mật), Tạp chí Lưu trữ Việt nam, 2000, số 2, trang 1.
10
Footer Page 10 of 126.


Header Page 11 of 126.

Trong bài tạp chí trên, tác giả có trích trong Bộ luật hình sự năm 1999
những vi phạm trong công tác văn thư, lưu trữ, bảo mật và biện pháp xử phạt
đối với các hành vi vi phạm. Tác giả bài tạp chí đã phân loại những quy định
về từng nhóm công tác văn thư, công tác lưu trữ và công tác bảo mật. Ví dụ
Điều 264 quy định: “Người nào vô ý làm lộ bí mật nhà nước hoặc làm mất tài
liệu bí mật nhà nước, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc
phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị
phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.
Khoản 1 Điều 268 quy định: “Người nào chiếm đoạt, mua bán, tiêu huỷ
trái phép con dấu, tài liệu của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội không thuộc
tài liệu bí mật nhà nước hoặc bí mật công tác, thì bị phạt tiền từ một triệu
đồng đến mười triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù
từ ba tháng đến hai năm”.
Như vậy, có thể khẳng định đề tài mà tác giả lựa chọn ở đây không
trùng lặp với đề tài nào được nghiên cứu trước đó. Các đề tài trên chủ yếu
nghiên cứu các chế tài trong công tác công văn, giấy tờ mà chưa đề cập đến
công tác lưu trữ. Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu đã giúp tác giả thấy được
hiện nay chúng ta cần phải xây dựng và ban hành được một văn bản pháp lý
quy định cụ thể về chế tài xử phạt những vi phạm trong công tác văn thư, lưu

cán bộ, công chức, viên chức nói chung và cán bộ, công chức, viên chức làm
việc trong các cơ quan nhà nước cấp tỉnh nói riêng.
Đối với các cơ quan nhà nước cấp tỉnh, theo quy định tại Điều 1 của
Nghị định số 81/2013/NĐ-CP: “Cơ quan nhà nước thực hiện hành vi vi phạm
thuộc nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao, thì không bị xử phạt theo quy
định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, mà bị xử lý theo quy định
của pháp luật có liên quan”. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu đề tài này,
chúng tôi không đề xuất xử lý vi phạm hành chính đối với đối tượng này.
- Thứ hai là các hành vi vi phạm hành chính của các cá nhân, tổ chức
khác, bao gồm: các cá nhân, tổ chức đủ điều kiện được hoạt động dịch vụ lưu
trữ theo quy định của Luật Lưu trữ và Luật Doanh nghiệp. Lí do chúng tôi
đưa đối tượng này vào trong đề tài bởi đây là đối tượng bị điều chỉnh chính
trong Luật xử lý vi phạm hành chính và các cá nhân, tổ chức đang thực hiện
việc cung cấp các dịch vụ lưu trữ cho các cơ quan nhà nước ở cấp tỉnh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu và đề xuất các hình thức xử lý các hành vi vi phạm
về công tác lưu trữ từ thực tế công tác lưu trữ tại các cơ quan nhà nước cấp
12
Footer Page 12 of 126.


Header Page 13 of 126.

tỉnh từ năm 2011 đến nay. Năm 2011 là một mốc quan trọng đánh dấu bước
phát triển mới của công tác lưu trữ khi Luật Lưu trữ được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày
11 tháng 11 năm 2011.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Cùng với việc vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin,
các phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch

chức và các cá nhân, tổ chức có liên quan đối với công tác lưu trữ và sự cần
thiết phải có một văn bản quy định về chế tài xử phạt những hành vi vi phạm
trong công tác lưu trữ.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm 3 phần:
Chƣơng 1: Khái quát các quy định của nhà nƣớc Việt Nam về xử
phạt vi phạm hành chính
Nội dung Chương 1 tác giả làm rõ một số vấn đề về vi phạm hành
chính, đối tượng vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính. Đồng
thời tác giả cũng làm rõ quy định chung hiện nay về xử phạt vi phạm hành
chính trong Luật Xử lý vi phạm hành chính. Đây là nội dung tiền đề làm cơ sở
cho việc xác định những vi phạm hành chính, việc xử phạt vi phạm hành
chính trong công tác lưu trữ ở Chương tiếp theo.
Chƣơng 2: Xác định các hành vi vi phạm hành chính trong công
tác lƣu trữ ở cơ quan nhà nƣớc cấp tỉnh
Nội dung Chương 2 tác giả tìm hiểu quy định của nhà nước hiện nay về
xử phạt vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ; đồng thời tham khảo quy
định của một số quốc gia trên thế giới về vi phạm hành chính trong công tác
lưu trữ. Trên cơ sở đó tác giả xác định được các hành vi vi phạm hành chính
trong công tác lưu trữ. Các hành vi vi phạm được xác định ở chương này, sẽ
là cơ sở để xác định hình thức xử phạt, mức độ xử phạt đối với từng hành vi
vi phạm cụ thể tại Chương 3.
Chƣơng 3. Nghiên cứu áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm
hành chính trong công tác lƣu trữ
Trên cơ sở các quy định chung tại Chương 1, các hành vi vi phạm hành
chính trong công tác lưu trữ tại Chương 2 và nghiên cứu các hình thức, biện
pháp xử phạt vi phạm hành chính đối với những hành vi thuộc ngành, lĩnh
vực khác nhưng có liên quan, có những điểm giống với các hành vi vi phạm
quy định trong công tác lưu trữ, tác giả đề xuất các hình thức, biện pháp, thẩm
14

phố trực thuộc trung ương.
- Là cơ sở cho các nhà nghiên cứu, cơ quan quản lý ngành lưu trữ tham
mưu và giúp cơ quan có thẩm quyền xây dựng và ban hành văn bản quy phạm

15
Footer Page 15 of 126.


Header Page 16 of 126.

về xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức,
viên chức có hành vi vi phạm trong công tác lưu trữ.
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả cũng nhận được sự đồng
tình ủng hộ và giúp đỡ của các lãnh đạo, công chức của Cục Văn thư và Lưu
trữ Nhà nước nơi tác giả công tác; các lãnh đạo, công chức, viên chức lưu trữ
tại các sở, ban, ngành nơi tác giả đến khảo sát và các thầy, cô Khoa Lưu trữ
học và Quản trị văn phòng. Đặc biệt là sự giúp đỡ, hướng dẫn, chỉ bảo tận
tình của NGƯT.PGS.TS Vũ Thị Phụng. Qua đây cho phép tác giả gửi lời cảm
ơn chân thành sâu sắc đến sự giúp đỡ quý báu đó.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã hết sức cố gắng
nhưng do khả năng có hạn nên luận văn không tránh khỏi những sơ suất, thiếu
sót. Tác giả mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy, cô và
các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 24 tháng 02 năm 2016
Học viên

Nguyễn Thị Thùy Dung

16
Footer Page 16 of 126.

mục tiêu chung.
Như vậy, với nghĩa rộng nhất, có thể định nghĩa hành chính như là loại
hoạt động quản lý chung nhất của các nhóm người hợp tác với nhau để hoàn
thành các mục đích chung.
Theo nghĩa hẹp, Hành chính được nhiều học giả xem là hoạt động quản
lý các công việc của Nhà nước, xuất hiện cùng với Nhà nước. Ở Trung Quốc,
thuật ngữ hành chính có một lịch sử lâu dài. Trong bộ “Tả truyện” viết cách
đây hơn 2000 năm đã có ghi “hành kỳ chính sự”, “hành kỳ chính mệnh” để
chỉ những hoạt động có liên quan đến nhà nước và quyền lực nhà nước. Theo
nghĩa này hành chính thường đi kèm với khái niệm hành chính công [15; tr 6].
Trong từ điển Pháp - Việt, Pháp luật và hành chính có định nghĩa hành
chính công như sau: “...là tổng thể các tổ chức và quy chế hoạt động của bộ
máy hành pháp có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của nhà nước do
các cơ quan có tư cách pháp nhân công quyền tiến hành bằng những văn bản
dưới luật để giữ gìn trật tự công, bảo vệ quyền lợi công và phục vụ nhu cầu
hàng ngày của công dân” [41; tr26]
- Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ "Hành chính" được hiểu như sau:
+ Thuộc phạm vi chỉ đạo quản lý việc chấp hành luật pháp, chính sách
của Nhà nước, cơ quan hành chính các cấp.
+ Thuộc về những công việc sự vụ như: văn hoá, tổ chức, kế toán...
trong cơ quan Nhà nước; Công tác hành chính, cán bộ hành chính; Có tính
chất giấy tờ, mệnh lệnh khác với giáo dục, thuyết phục; Biện pháp hành
chính.
- Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam “Hành chính là lĩnh vực hoạt
động của chính phủ thực thi quyền hành pháp, thi hành những chính sách và
pháp luật của nhà nước” [16, tr215]
Tóm lại, hiện nay có 03 cách hiểu về hành chính:
1- Hành chính là hoạt động tổ chức, quản lý và điều hành;

18

quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô
ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là
tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính”.
Trong Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định: “Vi phạm
hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định
19
Footer Page 19 of 126.


Header Page 20 of 126.

của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy
định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”.
Tuy có sự khác nhau về cách diễn đạt nhưng quan điểm về vi phạm
hành chính trong các văn bản pháp luật nêu trên đều thống nhất về dấu hiệu
bản chất của loại vi phạm pháp luật này. Trên cơ sở những nội dung đã được
nêu ra trong các văn bản quy phạm pháp luật trên, có thể khái quát vi phạm
hành chính như sau: Vi phạm hành chính là hành vi vi phạm các quy định của
pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm, do cá nhân, tổ chức
thực hiện, với lỗi cố ý hoặc vô ý và theo quy định của pháp luật phải bị xử
phạt hành chính.
Như vậy, vi phạm hành chính có 4 dấu hiệu sau:
Thứ nhất, vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, vi phạm các
quy định của pháp luật về quản lý nhà nước; tác hại hay tính nguy hiểm do
hành vi gây ra ở mức độ thấp, chưa hoặc không cấu thành tội phạm hình sự và
hành vi đó được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm
hành chính.
Thứ hai, hành vi đó do một cá nhân hoặc pháp nhân (tổ chức) thực
hiện.
Thứ ba, hành vi đó phải là một hành vi khách quan đã được thực hiện,

nhân hoặc pháp nhân (tổ chức) thực hiện.
Thứ ba, hành vi vi phạm hành chính trong công tác lưu trữ đã được
thực hiện. Hiện nay, việc vi phạm các quy định về nhà nước trong công tác
lưu trữ diễn ra khá phổ biến và đã gây ra những hậu quả nhất định như việc
không bảo quản tài liệu theo đúng quy định dẫn đến việc cháy kho tài liệu
hoặc mất tài liệu.
Thứ tư, hành vi đó là một hành vi có lỗi, tức là người vi phạm nhận
thức được vi phạm của mình. Hiện nay, hầu hết các cá nhân, cơ quan, tổ chức
đều nhận thức được việc thực hiện không đúng các quy định của nhà nước về
công tác lưu trữ là không đúng. Tuy nhiên, vì các lí do khác nhau nên các cá
nhân, cơ quan, tổ chức không có biện pháp hoặc không tìm biện pháp để khắc
phục, xử lý các vi phạm đang diễn ra.
1.1.2.3. Đối tượng vi phạm hành chính
Căn cứ vào các dấu hiệu vi phạm hành chính trên, có thể xác định đối
tượng vi phạm hành chính là các tổ chức, cá nhân có năng lực chịu trách
nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật hành chính.

21
Footer Page 21 of 126.


Header Page 22 of 126.

Theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, cá nhân,
tổ chức vi phạm hành chính được quy như sau:
- Đối với cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính phải là người
không mắc các bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng điều
khiển hành vi và đủ độ tuổi do pháp luật quy định, cụ thể là:
+ Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là chủ thể của vi phạm hành
chính trong trường hợp thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Như vậy, khi xác định

phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Nói cách khác, vi phạm hành
chính là cơ sở để tiến hành hoạt động xử phạt vi phạm hành chính. Luật xử lý
vi phạm hành chính năm 2012 và các Nghị định hướng dẫn thi hành của
Chính phủ quy định hành vi vi phạm hành chính, hình thức, biện pháp xử phạt
hành chính áp dụng đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong
lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước cụ thể là những cơ sở pháp lý quan
trọng để tiến hành hoạt động xử phạt vi phạm hành chính.
- Xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm
quyền theo quy định của pháp luật. Luật xử lý vi phạm pháp luật và các văn
bản pháp luật khác có quy định về xử phạt vi phạm hành chính quy định cụ
thể các chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, hình thức, mức độ
xử phạt hành chính mà họ được phép áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi
phạm hành chính.
- Xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành theo những nguyên tắc,
trình tự, thủ tục được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi
phạm hành chính do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
- Kết quả của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính thể hiện ở quyết
định xử phạt vi phạm hành chính ghi nhận các hình thức, biện pháp xử phạt
áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính. Việc quyết định áp
dụng biện pháp xử phạt vi phạm đó thể hiện sự trừng phạt nghiêm khắc của
Nhà nước đối với các cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính. Việc xử phạt vi
phạm hành chính còn hướng tới mục đích giáo dục cho mọi người ý thức tuân
thủ pháp luật hành chính nói riêng và pháp luật nói chung, ý thức tôn trọng
các quy tắc của đời sống cộng đồng, phòng ngừa các vi phạm pháp luật có thể
xảy ra.
1.1.3.2. Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính
Như đã đề cập ở trên, đối tượng vi phạm hành chính là các cá nhân, tổ
chức có hành vi vi phạm hành chính. Tuy nhiên, không phải cá nhân, tổ chức
nào vi phạm hành chính đều bị xử phạt theo quy định xử phạt vi phạm hành
23

18/8/1953 của Chủ tịch Hồ Chí Minh quy định các biện pháp quản chế hành
chính; Nghị quyết số 49/NQ-TVQH năm 1961 của Ủy ban thường vụ Quốc
hội về tập trung giáo dục cải tạo những phần tử có hành vi nguy hại xã hội;
Quyết định số 123/CP năm 1961 của Hội đồng Chính phủ về cấm cư trú ở
những khu vực quan trọng xung yếu về chính trị, kinh tế, quốc phòng; Pháp
24
Footer Page 24 of 126.


Header Page 25 of 126.

lệnh xử phạt vi phạm hành chính do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành
ngày 28 tháng 11 năm 1987 và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1990. Đây là văn
bản đánh dấu một bước phát triển mới của pháp luật Việt Nam về xử lý vi
phạm hành chính. Pháp luật xử lý vi phạm hành chính được nâng lên một tầm
mới với nhận thức về một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Các văn bản thay thế, sửa đổi Pháp lệnh ngày 28/11/1987 bao gồm:
Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày 07/12/1989 thay thế Pháp lệnh
1987; Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày 06/7/1995 thay thế cho
Pháp lệnh 1989; Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày 02/7/2002 thay
thế cho Pháp lệnh năm 1995; Năm 2007, Pháp lệnh này được sửa đổi bằng
Pháp lệnh số 31/2007/PL-UBTVQH sửa đổi một số điều Pháp lệnh xử phạt vi
phạm hành chính năm 2002 và Pháp lệnh số 44/2008/PL-UBTVQH12 ngày
02/4/2008 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành
chính năm 2002.
Đến ngày 20 tháng 6 năm 2012, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội nước Cô ̣ng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Luật Xử lý vi phạm
hành chính. Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2013.
Sau khi Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có hiệu lực, ngày 19
tháng 7 năm 2013 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status