MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC......................................................................................................................... 1
A. PHẦN MỞ ĐẦU...........................................................................................................1
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.................................................................................................................................1
B. PHẦN NỘI DUNG.......................................................................................................3
CHƯƠNG I:......................................................................................................................3
KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN..........................................3
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG ĐẶC ĐIỂM ĐÓ ĐẾN VIỆC QUY ĐỊNH..............3
CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH..................................................3
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN......................................................................3
CHƯƠNG II:................................................................................................................... 11
CHƯƠNG III:.................................................................................................................20
C. KẾT LUẬN................................................................................................................. 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................................................32
ĐỀ TÀI:
BIỆN PHÁP XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm qua, tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật ngày
càng gia tăng đòi hỏi cần có một cơ sở pháp lý rõ ràng, chặt chẽ, để vừa bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, vừa nhằm mục đích phòng ngừa, ngăn chặn
và đấu tranh có hiệu quả chống lại những hành vi vi phạm pháp luật do người chưa thành
niên thực hiện.
Xử lý hành chính với người chưa thành niên là hoạt động cưỡng chế, áp dụng các
biện pháp hạn chế những quyền và lợi ích nhất định với người chưa thành niên có hành vi
trái pháp luật. Đây cũng là giai đoạn mà sự can thiệp của Nhà nước còn nhằm mục đích
Chương I: Khái niệm người chưa thành niên, đặc điểm người chưa thành niên
và ảnh hưởng của những đặc điểm đó đến việc quy định các biện pháp xử lý vi phạm
hành chính đối với người chưa thành niên.
Chương II: Thực trạng pháp luật về biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối
với người chưa thành niên.
Chương III: Thực tiễn áp dụng, phương hướng, giải pháp hoàn thiện các quy
định pháp luật về biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên.
2
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I:
KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG ĐẶC ĐIỂM ĐÓ ĐẾN VIỆC QUY ĐỊNH
CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN.
I. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
1. Khái niệm
"Người chưa thành niên" không phải là một khái niệm mới, nó được sử dụng phổ
biến, đặc biệt là trong các văn bản pháp luật. Bên cạnh khái niệm này chúng ta còn bắt
gặp các khái niệm "vị thành niên", "trẻ em".Vậy các khái niệm này có gì giống và khác
nhau? Những người ở độ tuổi nào thì được coi là người chưa thành niên?
Theo Từ điển Tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học, năm 2004) thì "thành niên" là đến
tuổi được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ; "vị thành
niên" là chưa đến tuổi được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ các quyền và
nghĩa vụ.
Từ điển Luật học (NXB Bách khoa, Hà Nội 1999) không đưa ra khái niệm "thành
niên" trước mà chỉ đưa ra khái niệm "vị thành niên" (với chú giải là: chưa thành niên) là
người chưa đến tuổi được pháp luật coi là có đủ khả năng để sử dụng quyền, làm nghĩa vụ
định: "người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi", theo đó Bộ luật
cũng quy định các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động chưa thành niên.
Như vậy định nghĩa này là chưa chính xác.
Bên cạnh đó, còn có khái niệm "trẻ em". Theo Công ước về quyền trẻ em 1989:
"Trẻ em là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó có
quy định tuổi thành niên sớm hơn". Tại Điều 11 Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp
quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do năm 1990 đã quy định:
"Những người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi". Có thể thấy qua hai văn bản pháp
lý quốc tế trên, khái niệm "trẻ em" và khái niệm "người chưa thành niên" đều để chỉ
người dưới 18 tuổi.
Lại có ý kiến cho rằng, theo pháp luật Việt Nam thì khái niệm "trẻ em" và khái niệm
"người chưa thành niên" có sự khác nhau với dẫn chứng Bộ luật Dân sự Việt Nam năm
2005 quy định: "Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên", còn Luật Bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: "Trẻ em được quy định trong Luật này là công dân
Việt Nam dưới 16 tuổi" (Điều 1). Theo đó, khoảng cách giữa "trẻ em" và "người chưa
thành niên" là khoảng cách 2 năm.
Về độ tuổi của người chưa thành niên, có rất nhiều ý kiến khác nhau như: người
chưa thành niên là người ở độ tuổi 14 đến 17 tuổi (Spranger); từ 11 đến 15 tuổi (Bromlei);
từ 12 đến 15 tuổi (J. Piagie) hay có sự phân biệt giữa nam và nữ như: nam là từ 14 đến 16
4
tuổi, nữ là 11 đến 13 (Buhler); nam 12 đến 17 tuổi, nữ là 12 đến 15 tuổi (Grimn)…[6,
tr.60].
Có thể thấy rằng, việc xác định độ tuổi người chưa thành niên là rất khó, không thể
đồng nhất hai khái niệm "người chưa thành niên" và "trẻ em", cũng không nên xem khái
niệm nào có nội hàm rộng hay hẹp hơn. Nhìn chung các ý kiến đều thống nhất cho rằng
giới hạn độ tuổi cao nhất của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi. Chúng tôi cho rằng
không nhất thiết phải có một khái niệm cụ thể về người chưa thành niên, chỉ cần xác định
hội, tích luỹ tri thức, phương thức hoạt động…). Tuổi không quy định trực tiếp sự phát
triển nhân cách. Tuổi có thể phù hợp với trình độ phát triển tâm lí của con người, tuổi
cũng có thể đi chậm hơn hoặc đi nhanh hơn là còn phụ thuộc vào điều kiện hoàn cảnh
xung quanh. Tuy nhiên người chưa thành niên sống trong hoàn cảnh nào cũng có những
đặc điểm chung, đặc trưng cho lứa tuổi. Đó là đặc điểm của một giai đoạn mà cách gọi
thôi cũng cho thấy tính phức tạp và tầm quan trọng của nó: "thời kì quá độ" (chưa phải là
người lớn cũng không còn là trẻ con), "tuổi khủng hoảng" (cả về sinh lí lẫn tâm lí), "tuổi
khó bảo" (các em ở độ tuổi này trở nên bướng bỉnh và khó bảo), "tuổi bất trị"…
2.1. Đặc điểm sinh lí
Thời kì này, cơ thể phát triển mạnh mẽ nhưng không đồng đều, biểu hiện bên ngoài
là các em lớn lên trông thấy. Tuỳ thuộc vào độ tuổi, ngay trong cùng giai đoạn mà sự phát
triển giữa nam và nữ là khác nhau, như cùng trong giai đoạn chưa thành niên nhưng ở độ
tuổi 12-13, các em nữ phát triển hơn các em nam về hình dáng thì ở độ tuổi 14-15, cơ thể
các em nam lại phát triển hơn. Tuy nhiên ở cả nam và nữ đều có những đặc điểm chung
của lứa tuổi.
Sự phát triển của hệ xương mà chủ yếu là sự phát triển của xương tay, xương chân
rất nhanh nhưng xương ngón tay, ngón chân lại phát triển chậm. Do đó, cơ thể phát triển
không cân đối khiến các em trở nên lóng ngóng, vụng về và hay làm đổ vỡ…
Sự phát triển của hệ thống tim mạch không cân đối khiến các em dễ rơi vào tình
trạng rối loạn tạm thời với những biểu hiện như: mệt mỏi, chóng mặt, nhức đầu. Những
biểu hiện này diễn ra không lâu nhưng lại thường xuyên, làm ảnh hưởng không nhỏ đến
đời sống sinh hoạt hàng ngày cũng như tâm lý của người chưa thành niên.
Tuyến nội tiết bắt đầu hoạt động mạnh thường dẫn đến sự rối loạn của hoạt động
thần kinh làm cho các em dễ xúc động, hay bực tức hay nổi nóng, do đó các em hay có
những phản ứng mạnh mẽ và gay gắt về những người xung quanh, về những việc mà các
em cảm thấy không hài lòng.
Hệ thần kinh chưa có khả năng chịu được những kích thích mạnh và kéo dài, dẫn
đến cảm giác ức chế, uể oải, thờ ơ, lãnh đạm, tản mạn khiến các em đôi khi cư xử không
đúng với bản chất của mình, nghiêm trọng hơn là có những hành vi vi phạm đạo đức xã
triển khá hoàn thiện về mặt sinh lí, còn quá trình nhận thức vẫn chưa đầy đủ. Nhận thức
về xã hội, đạo đức, pháp luật… còn hạn chế, đặc biệt là nhận thức về pháp luật. Đôi khi
những nhận thức quan điểm về pháp luật không được hình thành hoặc có nhưng bị lệch
lạc theo cách hiểu chủ quan của các em.
Mặc dù sống độc lập hơn và muốn tỏ ra mình là người lớn nhưng các em ở độ tuổi
này vẫn cần có sự quan tâm, chăm sóc của cha mẹ, bởi những khó khăn, rắc rối về mặt
tâm lí, sinh lí là không tránh khỏi. Cha mẹ phải là người hiểu rõ điều đó để quan tâm cho
đúng mức, sao cho các em vẫn có thể phát huy được tính độc lập của mình nhưng không
thể tách rời sự quản lý chặt chẽ cần thiết của cha mẹ.
Khi trở thành đối tượng áp dụng các biện pháp xử lý hành chính thì những đặc điểm
tâm sinh lí trên phải được xem xét để pháp luật có những quy định phù hợp, đảm bảo việc
bảo vệ hiệu quả nhất những quyền lợi của đối tượng "đặc biệt" này.
II. ẢNH HƯỞNG CỦA NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH
7
NIÊN ĐỐI VỚI VIỆC QUY ĐỊNH CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH
CHÍNH
Pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói riêng có
những quy định rất đặc thù với đối tượng là người chưa thành niên vi phạm pháp luật.
Tiêu biểu phải kể đến Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, là một đạo luật chỉ
quy định những vấn đề liên quan đến trẻ em, trong đó có cả người chưa thành niên, gồm
những quy định chung, những quy định về quyền và nghĩa vụ của trẻ em cũng như của
những đối tượng liên quan đảm bảo mang lại cho trẻ em những điều tốt đẹp nhất: "Các
quyền của trẻ em phải được tôn trọng và thực hiện" (khoản 1 Điều 6); "Gia đình, Nhà
nước và xã hội có trách nhiệm bảo vê tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ
em; thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn cho trẻ em" (khoản 1 Điều 26)…
Trong Bộ luật hình sự 1999, chương X là chương quy định riêng với người chưa
thành niên, gồm các quy định về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm
sản riêng, quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính phải phù hợp với những đặc
điểm đó để đảm bảo tính khả thi khi áp dụng. Khoản 1 Điều 7 Pháp lệnh xử lý vi phạm
hành chính 2002 quy định người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì bị
phạt cảnh cáo, khác với trước đây quy định là phạt tiền dến 50.000 đồng, người từ đủ 16
tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính mà bị áp dụng hình thức phạt tiền thì mức tiền
phạt đối với họ không được quá một phần hai mức phạt đối với người thành niên. Biện
pháp xử phạt với người chưa thành niên chỉ mang tính chất răn đe, giáo dục là chính, ở độ
tuổi đủ 14 đến dưới 16, việc quy định hình thức phạt tiền là không cần thiết, bởi những
người chưa thành niên không có khả năng để chấp hành biện pháp xử phạt này, thường thì
cha mẹ họ là những người có trách nhiệm nộp thay. Điều đó sẽ không có tác dụng nhiều
đến nhận thức của họ, bởi vốn có nhận thức chưa đầy đủ và sâu sắc, họ được cha mẹ thực
hiện thay sẽ không thể hiểu được mục đích chính của việc áp dụng xử phạt vi phạm hành
chính đối với họ là răn đe, giáo dục. Còn ở độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18, các em đã có thể
có nhận thức đầy đủ hơn, việc phạt cảnh cáo với các em đôi khi lại chưa đủ, cần phải áp
dụng hình thức xử phạt cao hơn là phạt tiền.
- Chỉ riêng những đặc điểm tâm sinh lí chưa đủ để dẫn đến những hành vi vi phạm
pháp luật, chính những yếu tố bên ngoài từ phía gia đình, bạn bè và xã hội khi có tác động
tiêu cực đến khả năng nhận thức của các em khiến các em thực hiện những hành vi vi
phạm pháp luật. Pháp luật cũng tính đến cả những yếu tố này khi quy định biện pháp
cưỡng chế đối với người chưa thành niên.
Trong mối quan hệ với gia đình mà cụ thể là mối quan hệ với cha mẹ, sự hiểu biết
của cha mẹ về những thay đổi tâm sinh lí của con chưa thành niên có ý nghĩa rất quan
trọng. Tuy nhiên, sự hiểu biết này mới chỉ dừng lại ở những thay đổi bên ngoài, được thể
hiện rõ nét trong một thời gian dài; còn những thay đổi tâm sinh lí có tính chất bên trong
thì cha mẹ ít quan tâm hơn. Do đó khi ý thức của người chưa thành niên bị lệch lạc dẫn
đến vi phạm pháp luật, cha mẹ họ thường cho rằng nguyên nhân là do chính bản thân
chúng gây ra, họ không hề phải chịu trách nhiệm về điều đó, rất nhiều trong số đó bỏ mặc
và không quan tâm đến đời sống của con ở lứa tuổi này. Khi thiếu vắng tình cảm của cha
mẹ, người chưa thành niên chỉ còn tìm thấy sự cân bằng, an ủi của những người thân khác
quê ở Bình Định, khi chỉ mới vừa 14 tuổi, đã phải vào trường giáo dưỡng cải tạo 24 tháng
về tội hiếp dâm và giết người. Chỉ vì muốn "thử" một hành động như người lớn, Tứ đã
hiếp dâm một bé gái nhà hàng xóm mới chỉ lên 2. Với những trường hợp đó, việc quy
định và áp dụng các biện pháp cưỡng chế không thể như với người thành niên, do vậy có
thể hành vi của họ đã có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm
trọng thì căn cứ vào độ tuổi, vào các yếu tố nhân thân, người chưa thành niên cũng không
phải chịu trách nhiệm hình sự mà chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính, cụ thể Pháp lệnh
10
xử lý vi phạm hành chính 2002 quy định: "Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện
hành vi có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng quy
định tại Bộ luật hình sự" là một trong những đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lí hành
chính khác là đưa vào trường giáo dưỡng (điểm a khoản 2 Điều 24) hoặc chỉ áp dụng biện
pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với "Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực
hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình
sự" (điểm a khoản 2 Điều 23) mà không truy cứu trách nhiệm hình sự với đối tượng này.
- Người chưa thành niên luôn cần được giúp đỡ về mọi mặt, ngay cả khi họ vi phạm
pháp luật. Đôi khi họ cũng là người bị tổn thương do thực hiện chính những hành vi vi
phạm của mình, "người bán dâm có tính chất thường xuyên" là một ví dụ. Với lí do đó,
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 quy định biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh áp
dụng với người nghiện ma tuý từ đủ 18 tuổi trở lên và người bán dâm có tính chất thường
xuyên từ đủ 16 tuổi. Đặc biệt Pháp lệnh còn quy định cơ sở chữa bệnh phải tổ chức khu
vực dành riêng cho người dưới 18 tuổi, quy định đó là căn cứ vào đặc điểm riêng của
người chưa thành niên là những người cần chăm sóc đặc biệt hơn. Tại đây họ được lao
động, được học văn hoá, học nghề và chữa bệnh.
- Cũng do những đặc điểm riêng về tâm sinh lí, những hạn chế về nhận thức, Pháp
lệnh xử lí vi phạm hành chính quy định không áp dụng một số biện pháp cưỡng chế đối
với người chưa thành niên; khoản 2 Điều 25: "…Không đưa vào cơ sở giáo dục người
cho cha mẹ hay người có trách nhiệm nuôi dạy biết, yêu cầu họ phải thi hành trách nhiệm
quản lý giáo dục con em họ. Đối với người từ đủ 14 đến 16 tuổi thì nặng nhất là phạt tiền,
đối với người từ đủ 16 đến 17 tuổi không có tài sản riêng, cha mẹ hay người có trách
nhiệm nuôi dưỡng phải nộp thay".
Như vậy đối tượng bị phạt vi cảnh là người từ đủ 14 tuổi trở lên, cụ thể là: từ đủ 14
đến 16 tuổi thì có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền; từ đủ 16 đến 17 tuổi có thể bị phạt
cảnh cáo, phạt tiền hoặc phạt lao động công ích, phạt giam như với người lớn. Cần phải
chú ý rằng, Điều lệ xử phạt vi cảnh chỉ quy định về vi phạm hành chính và xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Với một phạm vi điều
chỉnh không rộng như vậy thì những quy định đối với người chưa thành niên chưa nhiều
và chưa cụ thể.
Sau một thời gian khá dài, ngày 30/11/1989, Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp
lệnh xử phạt vi phạm hành chính. Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực từ
ngày 1/1/1990 đánh dấu bước phát triển quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn
thiện chế định pháp luật về trách nhiệm hành chính. Lần đầu tiên trong lịch sử pháp luật
Việt Nam, việc quy định những vấn đề cơ bản mang tính nguyên tắc về xử phạt vi phạm
hành chính được thể hiện tập trung trong một văn bản, làm cơ sở để xây dựng những văn
bản quy định cụ thể hành vi vi phạm hành chính, hình thức và mức xử phạt trong các lĩnh
vực quản lý nhà nước. Đặc biệt những quy định đối với người chưa thành niên cũng được
12
kế thừa và phát huy. Điều 29 của Pháp lệnh quy định về xử phạt đối với người chưa thành
niên như sau:
Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hành chính về mọi vi
phạm hành chính do mình gây ra. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ bị phạt đối với
những vi phạm hành chính thực hiện do cố ý; hình thức và mức phạt đối với họ là cảnh
cáo hoặc phạt tiền đến 10.000 đồng. Đối với người dưới 14 tuổi thì không xử phạt mà áp
dụng biện pháp giáo dục. Trong trường hợp người chưa thành niên không có tiền nộp phạt
định chung chung như Điều 21 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 là: "Người
nhiều lần có hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức đưa vào trường giáo dưỡng,
cơ sở chữa bệnh; người nghiện ma tuý, người mại dâm nhưng chưa đến mức đưa vào cơ
sở chữa bệnh thì áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn…". Ngoài ra còn có
những quy định mới khác như hạ độ tuổi đưa vào cơ sở chữa bệnh với người bán dâm có
14
tính chất thường xuyên từ đủ 18 tuổi xuống còn từ đủ 16 tuổi, bổ sung các biện pháp ngăn
chặn vi phạm hành chính và đảm bảo việc xử lý vi phạm hành chính trong đó có quy định
áp dụng đối với người chưa thành niên.
II. CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI
CHƯA THÀNH NIÊN THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
Biện pháp xử lý vi phạm hành chính với người chưa thành niên theo pháp luật hiện
hành được quy định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và các văn bản
hướng dẫn có liên quan.
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 là kết quả của một quá trình lâu dài
không ngừng hoàn thiện các quy định của pháp luật, với mục đích "để đấu tranh phòng
ngừa và chống vi phạm hành chính, góp phần giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội, bảo
vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, tăng cường pháp
chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước". Pháp lệnh gồm có 10
chương với 124 điều, trong đó ngoài những quy định chung áp dụng cho cả người chưa
thành niên, còn có các quy định riêng áp dụng với đối tượng này như Điều 7- Xử lý người
chưa thành niên vi phạm hành chính, Điều 24 - Đưa vào trường giáo dưỡng. Từ khi Pháp
lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 ra đời đã có rất nhiều các nghị định hướng dẫn
chi tiết việc thực hiện những quy định của Pháp lệnh, trong đó có các nghị định như Nghị
định số 134/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính ban hành ngày 14/11/2003; Nghị định số 142/2003/NĐ-CP quy định
việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng ban hành ngày
16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị phạt cảnh cáo nếu "vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu, có tình
tiết giảm nhẹ" (Điều 13), tuy nhiên việc xác định như thế nào là "vi phạm hành chính
nhỏ" thì lại không có căn cứ, tiêu chí rõ ràng, còn các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại
Điều 8 của Pháp lệnh. Theo đó người chưa thành niên dưới 14 tuổi không bị áp dụng hình
thức phạt cảnh cáo trong mọi trường hợp.
Thẩm quyền xử phạt cảnh cáo được quy định tại chương IV của pháp lệnh tuỳ thuộc
vào mức độ vi phạm và lĩnh vực quản lý của các chủ thể có thẩm quyền.
Thủ tục áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo là thủ tục đơn giản (chỉ ra quyết định xử
phạt, không lập biên bản).
2. Phạt tiền
Hình thức phạt tiền được quy định tại Điều 14 Pháp lệnh, với mức phạt tiền là từ
5.000 đồng đến 500.000.000 đồng, dựa vào tính chất, mức độ vi phạm, mức phạt tiền tối
đa trong các lĩnh vực quản lý nhà nước.
Đối tượng người chưa thành niên bị áp dụng hình thức xử phạt này là người từ đủ 16
tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính mà không thuộc những trường hợp bị xử phạt
cảnh cáo. Mức tiền phạt cao nhất áp dụng với đối tượng này là 250.000.000 đồng do "Khi
phạt tiền đối với họ thì mức tiền phạt không được quá một phần hai mức phạt đối với
người thành niên". Pháp lệnh quy định không áp dụng hình thức phạt tiền đối với người
chưa thành niên dưới 16 tuổi. Đây là điểm mới của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
năm 2002 so với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995. Người chưa thành niên
16
từ đủ 16 tuổi được coi là đã có khả năng nhận thức đầy đủ hơn về hành vi của mình, khi
vi phạm hành chính do họ gây ra không phải là những "vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu,
có tình tiết giảm nhẹ", có nghĩa là họ đã nhiều lần vi phạm, hoặc những vi phạm này gây
ra hậu quả lớn mà không có tình tiết giảm nhẹ, thì việc phạt cảnh cáo chỉ mang tính chất
răn đe không thể phát huy được hiệu quả trong việc ngăn chặn, phòng ngừa vi phạm hành
chính, do đó họ phải bị áp dụng hình thức xử phạt cao hơn là phạt tiền. "Nếu người chưa
nghề trong một lĩnh vực nhất định hoặc sử dụng một loại công cụ, phương tiện nhất định".
Vậy người chưa thành niên có giấy phép, chứng chỉ hành nghề nếu "vi phạm nghiêm
trọng quy định sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề" có thể bị tước giấy phép, chứng
chỉ hành nghề. Trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề,
người chưa thành niên không được tiến hành các hoạt động ghi trong giấy phép, chứng
chỉ hành nghề. Tuy nhiên trong thực tế, biện pháp này rất ít bị áp dụng với đối tượng
người chưa thành niên.
Khi tiến hành tước quyền sử dụng giấy giấy phép, chứng chỉ hành nghề của người
chưa thành niên, các chủ thể có thẩm quyền phải tuân theo trình tự thủ tục quy định tại
Điều 59 của Pháp lệnh.
- Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính quy định tại
Điều 17 Pháp lệnh: "Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính
là việc sung vào quỹ nhà nước vật, tiền, hàng hoá, phương tiện có liên quan trực tiếp đến
vi phạm hành chính".
Khi áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi
phạm hành chính đối với người chưa thành niên cần phân biệt: những tang vật, phương
tiện thuộc sở hữu của người chưa thành niên hoặc không thuộc sở hữu của người chưa
thành niên nhưng việc họ có được phương tiện, tang vật đó là do lỗi của chủ sở hữu thì bị
tịch thu, sung vào công quỹ nhà nước; những tang vật, phương tiện không thuộc sở hữu
của người chưa thành niên, có được do chiếm đoạt, sử dụng trái phép thì phải trả lại cho
chủ sở hữu hoặc người quản lý, người sử dụng hợp pháp; "…trường hợp tang vật là văn
hoá phẩm độc hại, hàng giả không có giá trị sử dụng, vật phẩm gây hại cho sức khoẻ con
người, vật nuôi cây trồng thì bị xử lý theo quy định của khoản 2 Điều 61 của Pháp lệnh "
(khoản 2 Điều 12 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP).
4. Các biện pháp khắc phục hậu quả, ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo
đảm việc xử lý vi phạm hành chính
4.1. Các biện pháp khắc phục hậu quả
Người chưa thành niên khi vi phạm hành chính cũng có thể bị áp dụng một hoặc
- Tạm giữ người (Điều 44);
- Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (Điều 46);
- Khám người (Điều 47);
- Khám phương tiện vận tải, đồ vật (Điều 48);
- Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (Điều 49);
- Bảo lãnh hành chính (Điều 50);
- Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục
trục xuất (Điều 51);
- Truy tìm đối tượng phải chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sử
giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong trường hợp bỏ trốn (Điều 52).
Ngoài những quy định chung của Pháp lệnh về việc áp dụng từng biện pháp trên thì
đối với người chưa thành niên Pháp lệnh cũng có những quy định riêng, cụ thể.
Tạm giữ người theo thủ tục hành chính: trường hợp tạm giữ người chưa thành niên
vi phạm hành chính vào ban đêm hoặc giữ trên 6 giờ, thì người ra quyết định tạm giữ phải
19
thông báo ngay cho cha mẹ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên đó biết. Người
chưa thành niên là những người chịu sự quản lý chặt chẽ của cha mẹ, cha mẹ họ trong
nhiều trường hợp phải chịu trách nhiệm gián tiếp về những vi phạm hành chính do người
chưa thành niên gây ra nên việc thông báo cho cha mẹ hoặc người giám hộ của người
chưa thành niên biết là quy định phù hợp.
Bảo lãnh hành chính: là một biện pháp mới được quy định so với Pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính năm 1995, theo đó nếu đối tượng là người chưa thành niên thì trách
nhiệm bảo lãnh hành chính được giao cho cha mẹ hoặc người giám hộ. Cha mẹ hoặc
người giám hộ của người chưa thành niên sẽ nhận quản lý, giám sát người chưa thành
niên vi vi phạm pháp luật thuộc đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo
dưỡng, cơ sở chữa bệnh trong thời gian cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục xem xét,
quyết định việc áp dụng các biện pháp này nếu người chưa thành niên có nơi cư trú nhất
niên chỉ được quy định rải rác, không có hệ thống, trong khi thực tiễn tình hình người
chưa thành niên vi phạm pháp luật ngày càng gia tăng. Do đó, việc áp dụng các quy định
pháp luật đối với đối tượng này, bên cạnh những thành tựu đạt được cũng gặp không ít
khó khăn, vướng mắc.
Do nhận thức chưa đúng đắn về những hành động của mình, do ý thức pháp luật
chưa cao mà người chưa thành niên vi phạm pháp luật ngày càng gia tăng. Trong những
năm gần đây, quy định pháp luật về các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với
người chưa thành niên tương đối phù hợp và đã góp phần tích cực vào việc ngăn chặn tình
hình trên. Thực tế cho thấy, chỉ có các hình thức xử phạt chính được áp dụng nhiều đối
với người chưa thành niên, còn các hình thức xử phạt bổ sung ít được áp dụng đối với đối
tượng này, nhất là khi các biện pháp xử phạt bổ sung lại nặng hơn so với biện pháp xử
phạt chính.
Việc quy định chỉ phạt cảnh cáo đối với mọi vi phạm hành chính do cố ý của người
chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phù hợp với quy định của Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, trong trường hợp họ vi phạm nhiều lần nhưng không rơi vào các trường hợp
bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác thì vẫn chỉ bị phạt cảnh cáo, nếu không
xử lý nghiêm minh sẽ dẫn đến thái độ coi thường pháp luật, không những không ngăn
chặn được họ vi phạm pháp luật mà còn làm gia tăng vi phạm pháp luật ở những đối
tượng này.
Ở một số lĩnh vực quản lý nhà nước, thực trạng xử phạt vi phạm hành chính đối với
người chưa thành niên gặp không ít khó khăn, vướng mắc. Cụ thể trong lĩnh vực giao
thông đường bộ, người chưa thành niên vi phạm quy định luật giao thông đường bộ ngày
càng tăng về số lượng và mức độ. Những vi phạm thường gặp ở người chưa thành niên
như đi không đúng phần đường quy định, đi xe dàn hàng ngang, tụ tập dưới lòng đường,
chở người vượt quá quy định…đặc biệt là nạn đua xe trái phép. Trong thời gian qua
những hành vi này không những gây mất trật tự công cộng, ảnh hưởng đến những người
tham gia giao thông khác mà còn gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng. Với những vi
phạm đó, việc chỉ áp dụng hình thức phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đối với người chưa
21
nhưng không hề bị phát hiện, hoặc phát hiện được nhưng không tiến hành áp dụng các
biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với những đối tượng này với nhiều lý do khác
nhau. Do đó, 9h sáng cùng ngày nhiều đối tượng bị tạm giữ đã được thả và không hề tỏ ra
sợ hãi, thậm chí coi việc bị tạm giữ chỉ là chuyện không may, liệu những đối tượng này
có chấm dứt việc thực hiện những hành vi vi phạm tương tự hay không? Thực tế trên đòi
hỏi việc xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên nói chung, xử phạt vi
22
phạm hành chính đối với người chưa thành niên nói riêng cần được thực hiện nghiêm
minh theo quy định của pháp luật.
II. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
CÁC QUY ĐỊNH ĐÓ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
1. Phương hướng
Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đặt ra mục tiêu
"xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi công khai, minh
bạch". Một trong những định hướng quan trọng là "xây dựng và hoàn thiện pháp luật về
giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hoá - thông tin, thể thao, dân tộc, tôn
giáo, dân số, gia đình, trẻ em, và chính sách xã hội".
Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói chung, xử lý vi
phạm hành chính đối với người chưa thành niên nói riêng cũng không nằm ngoài mục tiêu
đó.
Trong bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay, cùng với sự phát triển về mọi mặt, hệ
thống pháp luật Việt Nam cần phải ngày càng hoàn thiện, đặc biệt là pháp luật về xử lý vi
phạm hành chính vì nó liên quan đến mọi lĩnh vực quản lý của Nhà nước. Đây là một yêu
cầu khách quan đòi hỏi chúng ta cần có những phương hướng, giải pháp cụ thể để pháp
luật Việt Nam thực sự phục vụ cho quá trình hội nhập quốc tế.
pháp xử lý hành chính, nhất là các biện pháp xử lý hành chính khác như giáo dục tại xã,
phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng, cần phải có sự quan tâm nhất định để các
em có thể sống hoà nhập với cộng đồng. Nếu công tác này được làm tốt sẽ góp phần nâng
cao hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác đối với người chưa
thành niên.
2. Giải pháp
2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với
người chưa thành niên
- Trong thời gian qua, việc thực hiện các quy định pháp luật về biện pháp xử lý vi
phạm hành chính đối với người chưa thành niên đã góp phần rất quan trọng trong việc
giáo dục, phòng ngừa và ngăn chặn vi phạm pháp luật ở đối tượng này. Tuy nhiên cần có
một số sửa đổi bổ sung cho phù hợp, nhằm giải quyết những khó khăn vướng mắc trong
thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với người
chưa thành niên.
+ Về xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên, cụ thể là hình thức
phạt tiền. Trong nhiều trường hợp người chưa thành niên không có đủ điều kiện chấp
hành biện pháp xử phạt này, ví dụ người chưa thành niên sống lang thang, không gia đình,
không có người giám hộ. Do đó, bên cạnh việc quy định người chưa thành niên từ đủ 16
tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị áp dụng hình thức phạt tiền, cần quy định những trường
hợp được miễn, giảm khi họ không có điều kiện nộp phạt. Việc quy định như vậy sẽ phù
hợp với thực tế và tránh tình trạng quy định của pháp luật không có tính khả thi.
24