BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
…………………………………….
VÕ TẤN LIÊM
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CƠ CẤU TỔ CHỨC
VÀ SỰ PHỤ THUỘC GIỮA CÁC PHÒNG BAN KHI THIẾT
KẾ HỆ THỐNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI MỘT SỐ DOANH
NGHIỆP SẢN XUẤT NGÀNH DỆT MAY TƯ NHÂN TRÊN
ĐỊA BÀN TP.HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
…………………………………….
VÕ TẤN LIÊM
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CƠ CẤU TỔ CHỨC
VÀ SỰ PHỤ THUỘC GIỮA CÁC PHÒNG BAN KHI THIẾT
KẾ HỆ THỐNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI MỘT SỐ DOANH
NGHIỆP SẢN XUẤT NGÀNH DỆT MAY TƯ NHÂN TRÊN
ĐỊA BÀN TP.HCM
Chuyên ngành: Kế Toán
Mã số: 60340301
5.Mô hình nghiên cứu. .................................................................................................... 4
6.Phương pháp nghiên cứu. ............................................................................................ 4
7.Ý nghĩa đạt được của đề tài về mặt lý thuyết và thực tiễn. .......................................... 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .......................................... 6
1.1
1.2
1.3
Đề tài nghiên cứu nước ngoài. ............................................................................... 6
Đề tài nghiên cứu trong nước. ............................................................................. 11
Nhận xét về các công trình nghiên cứu. ............................................................... 13
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1............................................................................................... 16
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ HỆ THỐNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ ............ 17
2.1 Hiện trạng phát triển ngành dệt may TP.HCM. .................................................... 17
2.1.1 Số lượng cơ sở sản xuất ngành Dệt may TP.HCM. ..................................... 17
2.1.2 Quy mô và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.................................... 17
2.1.3 Lao động công nghiệp ngành Dệt may. ........................................................ 17
2.1.4 Kim ngạch xuất khẩu. ................................................................................... 18
2.2 Khái quát về hệ thống kế toán quản trị. ................................................................. 18
2.2.1 Kế toán quản trị. ........................................................................................... 18
2.2.2 Mục tiêu và nhiệm vụ của kế toán quản trị. ................................................. 19
2.2.2.1 Vai trò của kế toán quản trị. ............................................................... 20
2.2.2.2 So sánh KTQT ở Mỹ, Anh, Pháp ....................................................... 21
2.2.3 Hệ thống kế toán quản trị (MAS). ................................................................ 22
2.2.3.1 Khái niệm về hệ thống. ....................................................................... 22
2.2.3.2 Khái niệm hệ thống kế toán quản trị. ................................................. 23
2.3 Các vấn đề cần quan tâm đối với một hệ thống kế toán quản trị. ......................... 23
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2............................................................................................... 43
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ CHỌN MẪU ............................ 44
3.1 Giả thuyết nghiên cứu. ........................................................................................... 44
3.2 Phương pháp nghiên cứu ....................................................................................... 44
3.3 Thước đo các biến. ................................................................................................. 46
3.3.1 CCTC và Sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các phòng ban. ................................. 46
3.3.2 Hệ thống kế toán quản trị. ............................................................................ 47
3.4 Phương pháp chọn mẫu. ........................................................................................ 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3............................................................................................... 50
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..................................................................... 51
4.1 Phân tích cụm K-Means (K-Means Cluster Analysis). .......................................... 51
4.1.1 Cơ cấu tổ chức. ............................................................................................. 51
4.1.2 Hệ thống kế toán quản trị. ............................................................................ 53
4.2 Kiểm định chi bình phương .................................................................................... 55
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4............................................................................................... 60
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................. 61
5.1 Kết luận. ................................................................................................................. 61
5.2 Kiến nghị. ............................................................................................................... 65
5.3 Hạn chế của đề tài.................................................................................................. 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Tiếng Việt
CCTC
: Cơ cấu tổ chức
HTKTQT
Bảng 4.2: Khoảng cách giữa trung tâm các nhóm Cơ cấu tổ chức
Bảng 4.3: Số lượng doanh nghiệp trong mỗi nhóm Cơ cấu tổ chức.
Bảng 4.4: Các điểm trung tâm từng yếu tố của các nhóm Hệ thống kế toán quản trị
Bảng 4.5: Khoảng cách giữa trung tâm các nhóm Hệ thống kế tóan quản trị
Bảng 4.6: Số lượng doanh nghiệp trong mỗi nhóm Hệ thống kế toán quản trị
Bảng 4.7: Tỉ lệ HTKTQT trong mỗi sự kết hợp khác nhau giữa Cơ cấu tổ chức và sự
phụ thuộc
Bảng 4.8: Chi-square Tests.
DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Hình 1.1 :
Mô hình nghiên cứu
Hình 3.1 : Mô tả các bước thực hiện thuật toán K-Means
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do nghiên cứu.
Ngành công nghiệp dệt may là một ngành có truyến thống từ lâu đời ở Việt Nam.
Đây là ngành quan trọng trong nền kinh tế của nước ta vì nó phục vụ nhu cầu thiết yếu
của con người, là ngành giải quyết được nhiều việc làm cho xã hội và đặc biệt nó là
ngành có thế mạnh trong xuất khẩu, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, góp phần cân
bằng cán cân xuất nhập khẩu của đất nước, đồng thời ngành dệt may là một trong
những ngành quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đây là ngành xuất
khẩu chủ lực, chiếm tỷ trong cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, chỉ
đứng sau ngành dầu khí. Ngành dệt may đã trải qua giai đoạn khó khăn khi Nhà nước
thực hiện cơ chế tập trung bao cấp từ 1976 – 1985 và khi chuyển từ cơ chế bao cấp
2000
2005
2010
79.031
236.939
51.013
138.640
11.753
32.024
70.285
43,7
40,52
29,66
62,78
50,70
được khảo sát tại TP.HCM.
Mục tiêu cụ thể:
-
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về HTKTQT. Từ nghiên cứu trong nước và ngoài nước
nhận diện các nhân tố quan trọng bên trong CCTC, HTKTQT.
-
Đề tài sẽ nghiên cứu 3 biến và sẽ xác định các yếu tố quan trọng trong mỗi biến.
-
Đề tài sẽ tìm hiểu và đưa ra các loại hình khác nhau trong CCTC, sự phụ thuộc lẫn
nhau giữa các phòng ban, HTKTQT mà các loại hình của những yếu tố này đã phổ
biến và được chấp nhận rộng rãi dựa vào các nghiên cứu trước.
-
Cuối cùng sẽ kiểm định chi bình phương để xác định có mối quan hệ hay không
giữa các loại hình CCTC khác nhau và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các phòng ban
khi thiết kế các loại hình HTKTQT khác nhau tại các doanh nghiệp sản xuất ngành
dệt may được khảo sát tại TP.HCM.
3. Câu hỏi nghiên cứu.
Nghiên cứu sẽ trả lời các câu hỏi sau:
Trong mỗi biến nghiên cứu có những yếu tố quan trọng nào?
Có các loại hình khác nhau nào của mỗi biến?
CCTC loại hình các đơn vị chức năng có mối quan hệ với sự phụ thuộc lẫn nhau
giữa các phòng ban hay không khi thiết kế HTKTQT tại các doanh nghiệp sản xuất
Cơ cấu tổ chức
Nguồn: Jonas Gerdin (2005)
6. Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn vận dụng 2 phương pháp nghiên cứu: phương pháp định tính kết hợp
phương pháp định lượng.
+ Phương pháp định tính: mã hóa các biến định danh, thứ bậc đối với các biến
nghiên cứu. Tìm hiểu lý thuyết về các đặc điểm, tính chất, các yếu tố ảnh hưởng đến
CCTC, HTKTQT và sự phụ thuộc giữa các phòng ban.
5
+ Phương pháp định lượng: Sử dụng các bảng khảo sát thu thập được khi gửi đến
các doanh nghiệp để chạy phần mềm SPSS 16.0 nhằm đưa ra kết luận về mối quan hệ
giữa CCTC và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các phòng ban khi thiết kế HTKTQT.
7. Ý nghĩa đạt được của đề tài về mặt lý thuyết và thực tiễn.
Luận văn giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về thực trạng cấu trúc tổ chức và
HTKTQT ngành dệt may tại TP.HCM đang áp dụng.
Ngoài ra, dựa vào cơ sở lí thuyết về các hình thức kết hợp khác nhau giữa các loại
hình mà nghiên cứu đã xây dựng giúp cho các nhà quản lí quan tâm đến vấn đề này có
thể điều chỉnh CCTC và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các phòng ban cũng như HTKTQT
để 3 nhân tố này thích hợp khi kết hợp với nhau trong tổ chức để nhà quản trị hướng
doanh nghiệp đến những mục tiêu quản trị đang hướng tới và phù hợp với tình hình
thực tế diễn ra ở doanh nghiệp. Nhận biết được doanh nghiệp mình đang trong thực
trạng cấu trúc như thế nào mà thay đổi HTKTQT cho phù hợp hay thay đổi mối quan
hệ giữa CCTC và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các phòng ban mà doanh nghiệp đang
thực hiện cho phù hợp với loại hình HTKTQT đã xác định.
nghi với những thay đổi của môi trường nhằm nâng cao và đạt hiệu suất công việc cao
nhất. Nghiên cứu đã chỉ ra 9 yếu tố có mối quan hệ với MAS, trong đó có cơ cấu tổ
chức.
Danny Miller & Cornelia Droge (1986): “Psychological and traditional
determinants of structure”: Yếu tố quyết định truyền thống và tâm lí về cơ cấu.
Nghiên cứu kiểm tra mối quan hệ giữa nhu cầu về thành quả đạt được của người điều
hành và CCTC của đơn vị. CCTC của đơn vị được xem xét theo cách tiếp cận truyền
thống bao gồm các khía cạnh khác nhau: quy mô tổ chức, công nghệ và sự biến đổi của
môi trường hoạt động. Mối quan hệ này sẽ được kiểm định thông qua khảo sát và kiểm
định đối với 3 nhân tố: tập trung quyền ra quyết định, chuẩn hóa hoạt động và sự tạo
thành hệ thống. Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát 93 công ty tại Quebec ở Canada,
bằng phương pháp phân tích hồi qui, phân tích LISREL và kiểm định chi bình phương
7
nghiên cứu đã chỉ ra rằng: Nhu cầu về thành quả đạt được của người điều hành và quy
mô tổ chức có mối quan hệ mạnh nhất trong việc xây dựng CCTC.
William J. Bruns & John H. Waterhouse (1975): “Budgetary control and
organizational structure”: Kiểm soát dự toán và cơ cấu tổ chức. Nghiên cứu này tìm
hiểu sự tương tác và mối quan hệ giữa CCTC và dự toán. Dữ liệu được thu thập từ 25
tổ chức ở trung tâm phía Bắc và phía Đông Hoa Kì và ở vùng Ontario ở Canada để
nghiên cứu sự tương tác này. Nghiên cứu này đã chỉ ra 4 yếu tố của CCTC có khả năng
ảnh hưởng tới thiết kế HTKTQT đó là: Chuẩn hóa hoạt động, quy mô đơn vị, mức
theo yêu cầu khách hàng đến thiết kế kế toán quản trị. Nghiên cứu nhằm kiểm tra mối
quan hệ giữa chiến lược kinh doanh với HTKTQT, ngoài ra còn xem xét mối quan hệ
giữa sản xuất theo yêu cầu của khách hàng và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các phòng
ban khi thiết kế HTKTQT, đưa ra một mô hình lí thuyết mới để giải thích lí do tại sao
mối quan hệ này tồn tại và tồn tại như thế nào. Nghiên cứu này được thực hiện dựa vào
kết quả khảo sát tại hơn 170 nhà quản lí bán hàng và sản xuất của các công ty thuộc các
ngành công nghiệp khác nhau tại Bắc Mỹ. Kết quả chỉ ra rằng chiến lược thay đổi cho
phù hợp với nhu cầu của khách hàng không có tác động trực tiếp tới HTKTQT mà
thông qua sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các phòng ban khi tổ chức thực hiện chiến lược
kinh doanh mới. Điều đó cho thấy sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các phòng ban có
mối quan hệ với HTKTQT, điều đó là hợp lí vì khi theo đuổi chiến lược này thì sự
phức tạp của thông tin giữa các phòng ban tăng lên và nhà quản lí phải đáp ứng được
nhu cầu thông tin giữa các phòng ban, lúc này công việc phải được phối hợp giữa các
phòng ban trong tổ chức để thực hiện mục tiêu, vai trò của sự phụ thuộc giữa các
phòng ban đối với HTKTQT là khá quan trọng.
N. B. Macintosh & R. L. Daft (1987): “Management control systems and
departmental interdependencies: an empirical study”. Hệ thống kiểm soát quản trị
và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các phòng ban: một nghiên cứu thực nghiệm. Nghiên
cứu đã chỉ ra rằng khi nghiên cứu hành vi kế toán quản trị cho thấy 2 kết quả quan
trọng sau: (1) việc thiết kế và sử dụng một HTKTQT thì có mối liên hệ với tất cả các
đặc tính của một tổ chức và (2) một HTKTQT là một thành phần trong hệ thống kiểm
9
soát. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm tra mối liên hệ giữa sự phụ thuộc lẫn
nhau giữa các phòng ban khi thiết kế và sử dụng 3 thành phần của hệ thống kiểm soát:
10
cung cấp bởi HTKTQT nhằm nâng cao hiệu quả quyết định của nhà quản trị. Nghiên
cứu được thực hiện dựa trên khảo sát của 29 nhà quản lí marketing và 46 nhà quản lí
sản xuất. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng sự kết hợp của thông tin HTKTQT ở
phạm vi rộng và hiệu suất quản lí thì tốt cho nhà quản lí marketing hơn là nhà quản lí
sản xuất. Đồng thời nghiên cứu cũng đã chỉ ra HTKTQT ở phạm vi rộng quan tâm đến
thông tin bên ngoài, phi tài chính và định hướng cho tương lai và thường thích hợp với
các công ty có cơ cấu phức tạp về nhu cầu thông tin và môi trường hoạt động thường
xuyên biến đổi. Còn HTKTQT truyền thống thì thường quan tâm đến thông tin có phạm
vi hẹp vì hệ thống kế toán quản trị loại này thường chú trọng vào thông tin nội bộ,
thông tin tài chính và mang tính quá khứ và thích hợp với các công ty có cơ cấu đơn
giản.
Robert H. Chenhall & Deigan Morris (1986): “The impact of structure,
environment, and interdependence on the perceived usefulness of management
accounting systems”: Tác động của cơ cấu tổ chức, môi trường và sự phụ thuộc lẫn
nhau tới nhận thức về sự hữu ích của HTKTQT. Nghiên cứu này kiểm tra tác động của
cơ cấu phân quyền, nhận thức sự thay đổi của môi trường hoạt động và sự phụ thuộc
lẫn nhau trong tổ chức khi thiết kế HTKTQT (MAS). HTKTQT trong nghiên cứu này
được xem xét trên các đặc điểm thông tin mà nó cung cấp bao gồm: phạm vi của thông
tin (scope), tính kịp thời của thông tin (timelines), mức độ tập hợp (level of
aggregation) và thông tin hỗ trợ sự tích hợp trong tổ chức (information which assists
integration). Dữ liệu được thu thập từ 68 nhà quản lí từ 36 tổ chức sản xuất khác nhau
ở Sydney. Kết quả của nghiên cứu đã cho ra nhận định: do sự thay đổi của môi trường
hoạt động nên sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các phòng ban trong tổ chức thông qua mối
quan hệ kết hợp với sự phân quyền trong CCTC, tác động gián tiếp tới HTKTQT. Từ
quả nghiên cứu chỉ ra rằng doanh nghiệp phải điều chỉnh thiết kế HTKTQT để đáp ứng
với yêu cầu tình hình thực tế của tổ chức, doanh nghiệp mình đang thực hiện. Hay nói
cách khác trong nghiên cứu này thì ông đã chứng minh được HTKTQT bị ảnh hưởng
bởi hai nhân tố bên trong quan trọng này; hai nhân tố bên trong này có mối quan hệ với
nhau và có mối liên hệ với HTKTQT khi thiết kế HTKTQT.
1.2
Đề tài nghiên cứu trong nước.
Trần Thị Thu Hường & Nguyễn Ngọc Quang (2012): “Phân tích các nhân tố
ảnh hưởng đến thiết kế mô hình kế toán quản trị tại các doanh nghiệp”. Nghiên cứu
này được thực hiện nhằm xác định các nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến
thiết kế mô hình kế toán quản trị của các công ty sản xuất từ đó đưa ra định hướng thiết
kế mô hình KTQT cho các doanh nghiệp sản xuất xi măng tại Việt Nam. Kết quả đã
chỉ ra rằng: “Khi thiết kế HTKTQT cần sử dụng công cụ phù hợp là tiêu chuẩn hóa và
định lượng mức độ hoàn thành công việc giữa các phòng ban thông qua hệ thống kế
hoạch kết hợp với các nguyên tắc. HTKTQT được thể hiện qua hai thước đo tương
quan nhau là: mức độ chi tiết và tần số báo cáo. Hai thước đo này được thể hiện thông
qua ba yếu tố quan trọng của hệ thống kế toán quản trị là: Ngân sách hoạt động, hệ
thống chi phí tiêu chuẩn, sự tin cậy về thông tin hoạt động. Đây là công cụ đơn giản, ít
tốn kém để giám sát, xác định và thống nhất với các nhà hoạch định chính sách về các
12
nguyên nhân của sự chậm trễ, sai sót và ảnh hưởng tới thiết kế HTKTQT bị ảnh hưởng
bởi hai nhân tố bên trong trọng yếu đó là CCTC và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các
phòng ban. Cơ cấu tổ chức hay bộ máy quản lí của các doanh nghiệp thể hiện ở các yếu
tố: Mức độ chính thức hóa hành vi (Các chức năng được quy định bằng văn bản cụ
của báo cáo KTQT tại các doanh nghiệp này, cuối cùng tác giả đã định hướng xây
dựng các báo cáo cụ thể cho các doanh nghiệp thuộc ngành in này tại TP.HCM nhằm
phát triển tốt hơn hệ thống báo cáo KTQT trong tương lai.
Nguyễn Thị Huyền Trâm (2007): “Tổ chức công tác kế toán trong các doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam”. Trong phần cơ sở lí thuyết của nghiên cứu này tác giả
đã nêu ra các nội dung cơ bản của tổ chức công tác kế toán bao gồm tổ chức: chứng từ
kế toán, tài khỏan kế toán, sổ kế toán, hệ thống báo cáo kế toán, bộ máy kế toán, kiểm
tra kế toán, phân tích hoạt động kinh tế, trang bị cơ sở vật chất phục vụ thu thập, xử lí
và cung cấp thông tin. Trong đó, tổ chức hệ thống báo cáo kế tóan, tác giả đã khẳng
định “báo cáo quản trị được lập để phục vụ cho yêu cầu quản trị trong doanh nghiệp, vì
thế tùy vào đối tượng nhận thông tin mà doanh nghiệp cần xác định thông tin nào và
mức độ chi tiết của thông tin đó ra sao để cung cấp cho phù hợp”. Ngoài ra, trong
phần thực trạng, sau khi khảo sát các doanh nghiệp tác giả đã chỉ ra rằng “tùy vào đặc
điểm hoạt động của từng lọai hình doanh nghiệp mà “kỳ” lập báo cáo quản trị khác
nhau nhưng qua khảo sát thì thường là hàng tháng và hàng quí”. Từ những nhận định
trên chúng ta nhận thấy tổ chức HTKTQT trong doanh nghiệp là rất quan trọng và tùy
theo nhu cầu thông tin quản trị mà thông tin có mức độ chi tiết và tần số báo cáo,
biểu mẫu khác nhau. Nghiên cứu này cũng đã đưa ra các giải pháp để hoàn thiện tổ
chức công tác kế toán trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam như: các giải
pháp từ doanh nghiệp, các giải pháp từ nhà nước.
1.3
Nhận xét về các công trình nghiên cứu.
Như vây, thông qua việc tìm hiểu các nghiên cứu về lý thuyết cũng như thực nghiệm
trước đây về HTKTQT, có thể thấy tồn tại mối tương quan giữa 2 nhân tố bên trong
Merchant (1984), Miller và Droge (1986), Phan Văn Út (2004) cũng chỉ ra cơ cấu tổ
chức có mối quan hệ đáng kể đến HTKTQT trong các công ty sản xuất.
15
Ngoài các nghiên cứu kể trên thì nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Điệp (2004) và
Đặng Thị Huyền Trâm (2007) nhấn mạnh đến tầm quan trọng của báo cáo KTQT trong
HTKTQT, trong đó nghiên cứu của Đặng Thị Huyền Trâm (2007) có nhắc đến 2 yếu tố
quan trọng là: mức độ chi tiết và tần số báo cáo khi xây dựng hệ thống báo cáo KTQT
trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.
Hiện tại, ở Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng, chưa có nghiên cứu nào xem xét
mối quan hệ của 2 nhân tố bên trong quan trọng là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các
phòng ban và CCTC khi thiết kế HTKTQT. Do thời gian hạn chế nên nghiên cứu này
sẽ chỉ tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa hai nhân tố bên trong quan trọng là:
CCTC và sự phụ thuộc lẫn nhau này khi thiết kế HTKTQT tại các doanh nghiệp
ngành dệt may tại TP.HCM dựa trên sự kế thừa mô hình nghiên cứu có trước của Jonas
Gerdin (2005).
16
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Như đã nói ở trên, các nghiên cứu khác nhau xem xét HTKTQT ở những khía
cạnh khác nhau. Nghiên cứu này áp dụng các yếu tố của Gerdin (2005) trong HTKTQT
để xem xét. Như đã phân tích, mối quan hệ giữa hai nhân tố bên trong quan trọng trong
tổ chức là sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các phòng ban và CCTC khi thiết kế HTKTQT,
trong đó sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các phòng ban có 3 hình thức phụ thuộc nhưng
trong nghiên cứu này chỉ xem xét đến 2 hình thức chính và phổ biến (phụ thuộc liên
Quy mô và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Quy mô nguồn vốn: Theo số liệu điều doanh nghiệp dệt may TP.HCM của
Tổng cục thống kê, đến năm 2010 tổng nguồn vốn của khu vực ngoài nhà nước đạt
trên 37.360 tỷ đồng, chiếm tới 66,3 tổng nguồn vốn của các doanh nghiệp toàn ngành.
Tuy nhiên nguồn vốn bình quân của doanh nghiệp có giá trị không cao, chỉ đạt
khoảng 13,6 tỷ đồng/ doanh nghiệp.
- Hiệu quả sản xuất: Tổng doanh thu năm 2010 của toàn ngành đạt gần 52.390 tỷ
đồng trong đó khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm 56,8%.
2.1.3
Lao động công nghiệp ngành Dệt may.
Tổng số lao động công nghiệp ngành dệt may thành phố năm 2011 là 423.912
người, tăng 17,6% so với năm 2010. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2006 – 2010 và năm
2011, tỷ trọng lao động ngành dệt may luôn duy trì khoảng 29 – 30% tổng lao động
toàn ngành công nghiệp thành phố. Tuy nhiên chất lượng lao động ngành dệt may
thành phố còn ở mức thấp, với tỷ trọng lao động trình độ sơ cấp chiếm tới 85,5%,