Huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ cao trong bảo tồn khu di sản mỹ sơn (Tóm tắt, trích đoạn) - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------

TRỊNH THANH THỦY

HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CHO
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG
BẢO TỒN KHU DI SẢN MỸ SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC QUẢN LÝ

Hà Nội - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------

TRỊNH THANH THỦY

HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CHO
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG
BẢO TỒN KHU DI SẢN MỸ SƠN

Chuyên ngành: Quản lý Khoa học và Công nghệ
Mã số: 60.34.04.12

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Bùi Tiến Dũng

1.3.2. Yếu tố khách quan .........................................................................................28
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CHO
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG BẢO TỒN KHU DI SẢN MỸ
SƠN .........................................................................................................................32
2.1. Khu di sản Mỹ Sơn và công tác bảo tồn .......................................................32
2.1.2. Hiện trạng công tác bảo tồn ..........................................................................35


2.1.3. Yêu cầu ứng dụng công nghệ cao vào việc bảo tồn tại Mỹ Sơn ...................38
2.2. Các nguồn tài chính phục vụ công tác bảo tồn ............................................40
2.2.1. Nguồn ngân sách nhà nước ...........................................................................40
2.2.2. Nguồn từ các tổ chức, cá nhân ......................................................................43
2.2.3. Nguồn vốn tự có ............................................................................................44
2.3. Thực trạng công tác huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công
nghệ cao ..................................................................................................................46
2.3.1. Nhà nước .......................................................................................................46
2.3.2. Tổ chức và cá nhân........................................................................................48
2.3.3. Nguồn vốn tự có ............................................................................................51
2.4. Đánh giá thực trạng huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công
nghệ cao ..................................................................................................................53
2.4.1. Thuận lợi .......................................................................................................53
2.4.2. Khó khăn .......................................................................................................55
2.4.3. Những tồn tại, hạn chế ..................................................................................57
2.4.4. Nguyên nhân .................................................................................................59
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CHO
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TRONG BẢO TỒN ....................................65
KHU DI SẢN MỸ SƠN ........................................................................................65
3.1. Giải pháp đối với các cơ quan quản lý nhà nƣớc ........................................65
3.2. Giải pháp đối với cơ quan địa phƣơng .........................................................68
3.3. Giải pháp đối với tổ chức, cá nhân ...............................................................70


Ngân sách Nhà nước

R&D

Research & Development (Nghiên cứu và triển khai)

UBND

Ủy ban nhân dân

UNESCO

United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc


DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1. Bảng thống kê doanh thu của BQLMS từ hoạt động du lịch giai
đoạn 2010 - 2016 ............................................................................................. 45
Biểu đồ 2.1. Biểu đồ nguồn lực tài chính nhận được từ nhà nước và các tổ
chức đầu tư vào bảo tồn ở Mỹ Sơn ................................................................. 46
Biểu đồ 2.2. Biểu đồ so sánh nguồn vốn huy động cho bảo tồn ở Mỹ Sơn .... 48
Biểu đồ 2.3. Biểu đồ minh họa mức tăng nguồn thu qua các năm của BQLMS
(năm 2016 chỉ tính đến 31/6/2016) ................................................................. 51
Hình 2.1. Khu di sản đền tháp Mỹ Sơn ........................................................... 32
Hình 2.2. Các cụm đền, tháp thuộc Khu di sản Mỹ Sơn ................................. 34
Hình 2.3. Kiến trúc độc đáo của tháp Chăm Mỹ Sơn ..................................... 35
Hình 2.4. Nhóm tháp G được trùng tu ............................................................ 37

là điều thực sự cần thiết để tái hiện lại hình ảnh di sản và để di sản không tiếp tục bị
hư hỏng bởi sự tác động của con người, khí hậu và thời gian.
Ở Việt Nam, tuy việc bảo quản công trình, di tích bằng công nghệ cao chưa
thực sự phổ biến và cũng chưa thực hiện một cách hiệu quả. Nhưng tính đến thời
điểm này, khu di sản Mỹ Sơn, tỉnh Quảng Nam đang thu hút sự quan tâm đặc biệt
1

Phan Xuân Dũng (2016), Đẩy mạnh hoạt động khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, Trường Đại học Vinh.
2
Lê Xuân Trường (2014), Cơ chế quản lý tài chính đối với khoa học và công nghệ: Từ thông lệ quốc tế đến
thực tiễn Việt Nam, Tạp chí Tài chính, số 2.

2


của các cơ quan quản lý. Năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định
Phê duyệt Dự án Quy hoạch bảo tồn và phát huy giá trị Khu Di tích Mỹ Sơn tỉnh
Quảng Nam giai đoạn 2008 - 2020. Trong đó nội dung quy hoạch bảo tồn trùng tu
di tích có đề cập đến nghiên cứu ứng dụng các vật liệu và công nghệ phục chế, thay
thế; về giải pháp gia cố, gia cường; về bảo quản, bảo dưỡng di tích và các nghiên
cứu nhằm phát huy giá trị của di tích.
Cuối năm 2015, nhóm chuyên gia Liên bang Nga đã phối hợp với UBND
tỉnh tổ chức hội thảo khoa học về ứng dụng công nghệ cao bảo tồn tháp Chăm, thu
hút sự tham gia của nhiều chuyên gia khoa học đầu ngành, các nhà quản lý. Nhiều
tham luận, giải pháp kỹ thuật trong bảo tồn, trùng tu tháp Chăm được đưa ra như:
công nghệ chế tạo gạch và vữa trong xây dựng các ngôi đền cổ đại của Nga thế kỷ
X - XIII; công nghệ tôi bề mặt gạch và khả năng bảo vệ quần thể Mỹ Sơn; phân tích
khoáng chất, giải pháp gia cố, gia cường, bảo quản, bảo dưỡng di tích; vật liệu phục
chế, thay thế; phương pháp quang phổ IR-Fourier…

động KH&CN ở nước ta hiện nay và đề xuất, kiến nghị đổi mới cơ chế tài chính
thúc đẩy phát triển KH&CN như: nâng cao hiệu quả đầu tư từ ngân sách nhà nước,
đổi mới đồng bộ tổ cơ chế tài chính đối với lĩnh vực KH&CN.
Tác giả Nguyễn Đồng Minh với Tăng cường và đa dạng hóa nguồn lực tài
chính cho bảo vệ môi trường. Bài viết đưa ra những giải pháp nhằm tăng cường
nguồn lực tài chính cho bảo vệ môi trường như: hình thành cơ chế để huy động
nguồn vốn đầu tư, cân đối, bố trí các nguồn vốn ODA, vốn tín dụng trong kế hoạch
ngân sách, kết hợp tăng chi từ ngân sách với đa dạng hóa các nguồn vốn đầu tư,
khai thác các cơ hội của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.
Tác giả Nguyễn Hồng Sơn với Cơ chế tài chính cho hoạt động KH&CN ở
Việt Nam: Một số hạn chế và giải pháp hoàn thiện. Bài viết đề cập đến những hạn
chế của cơ chế tài chính hiện hành cho hoạt động KH&CN và một số giải pháp
hoàn thiện cơ chế như: tái cấu trúc lĩnh vực đầu tư công, khuyến khích nâng cao
quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, đầu tư mạo hiểm…
Đề tài Đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc của tác giả Vũ Mạnh Toàn. Đề tài đề cập đến các giải pháp thu
hút nguồn vốn cho KH&CN: cải thiện môi trường đầu tư, đổi mới cơ chế quản lý
KH&CN, mở rộng quy mô và hoàn thiện các quy định quản lý Quỹ Phát triển
KH&CN.
Tác giả Võ Văn Đức với Huy động và sử dụng các nguồn lực chủ yếu nhằm
đảm bảo tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, NXB CTQG, Hà Nội 2009. Cuốn sách đề

4


cập đến việc huy động và sử dụng nguồn lực nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã
hội trong thời gian qua. Trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp tháo gỡ vướng mắc
trong việc huy động và sử dụng các nguồn lực chủ yếu nhằm đảm bảo tăng trưởng
kinh tế như: nâng cao chất lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài, triển khai tìm kiếm
các biện pháp huy động nguồn lực từ vàng, hoàn thiện thể chế bảo vệ nhà đầu tư,

Nghiên cứu việc huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ cao
để bảo tồn các di sản tại Việt Nam nói chung và Khu di sản Mỹ Sơn nói riêng (tại
đề tài này)
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận của việc huy động nguồn lực tài chính cho ứng
dụng công nghệ cao trong bảo tồn khu di sản Mỹ Sơn.
- Nghiên cứu thực trạng việc huy động các nguồn lực tài chính cho ứng dụng
công nghệ cao trong bảo tồn khu di sản Mỹ Sơn.
- Đưa ra giải pháp nhằm huy động các nguồn lực tài chính cho ứng dụng
công nghệ cao trong bảo tồn khu di sản Mỹ Sơn.
4. Phạm vi nghiên cứu
4.1. Phạm vi về nội dung
Nghiên cứu về phương thức huy động nguồn lực tài chính từ các cơ quan
quản lý nhà nước trung ương, địa phương; các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
và Ban quản lý di tích và du lịch Mỹ Sơn.
4.2. Phạm vi về thời gian
Đề tài nghiên cứu giới hạn trong phạm vi thời gian từ năm 2010 đến nay.
4.3. Phạm vi về không gian
Khu di sản Mỹ Sơn (Di sản thế giới Khu đền tháp Chăm Mỹ Sơn), xã Duy
Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
5. Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ cao
trong bảo tồn khu di sản Mỹ Sơn từ năm 2010 đến nay như thế nào?
- Giải pháp nào huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng công nghệ cao
trong bảo tồn khu di sản Mỹ Sơn?
6. Giả thuyết nghiên cứu
- Công nghệ cao đòi hỏi nguồn tài chính rất lớn.
- Thực trạng huy động nguồn tài chính cho ứng dụng công nghệ cao trong
bảo tồn khu di sản Mỹ Sơn còn nhiều khó khăn.


Hiện nay, chưa có một định nghĩa cụ thể nào về nguồn lực. Trong văn kiện
Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ nguồn lực được đề cập tới xấp xỉ 70 lần
nhưng không có định nghĩa về nguồn lực. Theo Wikipedia, nguồn lực được hiểu là
bất cứ thứ gì thỏa mãn nhu cầu của con người. Theo từ điển InvestorWords thì
nguồn lực được hiểu là con người, là tài sản, vật chất và vốn được dùng để thực
hiện một mục đích nhất định) [20]. Trong tài liệu của mình, tác giả Lê Du Phong có
tạm định nghĩa rằng: “Nguồn lực là tổng hợp các yếu tố vật thể và phi vật thể tạo
nên nền kinh tế của một đất nước và thúc đẩy nó phát triển” [8,tr.12]. Như vậy theo
cách hiểu của định nghĩa của Wikipedia, nguồn lực được hiểu là tất cả các lợi thế
tiềm năng vật chất và phi vật chất để phục vụ cho những nhu cầu của con người.
Theo định nghĩa của từ điển InvestorWords và của tác giả Lê Du Phong, nguồn lực
được chia thành hai dạng là nguồn lực vật chất bao gồm vốn, tài sản, vật chất khác
và nguồn lực con người phục vụ cho phát triển một mục tiêu nhất định. Như vậy, từ
các định nghĩa trên, tác giả thấy rằng nguồn lực chính là toàn bộ yếu tố vật chất và
con người nhằm tạo nên nền kinh tế của quốc gia và thúc đẩy nền kinh tế ấy phát
triển đúng với khái niệm của tác giả Lê Du Phong Đưa ra. Do vậy, tác giả luận văn
lấy khái niệm của tác giả Lê Du Phong làm khái niệm công cụ cho nghiên cứu của
mình.
Các định nghĩa về nguồn lực cho thấy nguồn lực đều là những “yếu tố đầu
vào”. Các yếu tố đầu vào ấy dù ở dạng tiềm năng hay đang được sử dụng đều có sự
thay đổi theo thời gian. Ví dụ: khoáng sản chưa khai thác còn trong lòng đất được
xem là nguồn lực tiềm năng, khi được đưa vào sử dụng, nó trở thành nguồn lực hiện
hữu. Trí tuệ con người chưa được phát huy thì cũng chỉ xem là nguồn lực tiềm năng,
khi được phát huy tối đa, trí tuệ ấy trở thành chủ lực của nền kinh tế tri thức.

8


Nguồn lực có tính động. Nó có thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác như
nguồn lực tài chính hoặc nó có thể thay đổi giá trị theo thời gian ví dụ như lao động.


chính luôn được xem là nguồn lực chủ đạo trong mọi phạm vi của đời sống kinh tế,
xã hội.
Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội
dưới hình thức giá trị, phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các
quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở
mỗi điều kiện nhất định. Tài chính thể hiện sự vận động của vốn tiền tệ, diễn ra ở
mọi chủ thể trong xã hội. Nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh
trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ
tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội.
Nguồn lực tài chính là tổng thể các vấn đề của tài chính phục vụ cho nhu cầu
phát triển. Do đó nói tới nguồn lực tài chính là nói tới các nguồn tài chính khác
nhau và sự phân bổ các mối quan hệ kinh tế nảy sinh nói trên nhằm đáp ứng nhu
cầu của các chủ thể trong xã hội.
Nguồn lực tài chính được hiểu theo nhiều cách. Chúng ta có thể hiểu nguồn
lực tài chính là lượng vốn thực tế dưới dạng tiền tệ và quy đổi ra tiền tệ đã và đang
được huy động để phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Đồng
thời cũng có thể hiểu theo nghĩa rộng, nguồn lực tài chính là các nguồn tài chính
khác nhau, sự phân bổ các mối quan hệ kinh tế nảy sinh từ các nguồn tài chính ấy
hoặc theo nghĩa hẹp, nói tới nguồn lực tài chính là nói tới các nguồn vốn. Những
nguồn vốn ấy đến từ ngân sách nhà nước, tư nhân, đầu tư nước ngoài, quỹ đầu tư,
các quỹ tín thác...
Trong sự phát triển của mỗi quốc gia, nguồn lực tài chính hay nguồn lực vốn
tài chính đóng vai trò trung tâm, cơ bản. Sở dĩ như vậy vì những lý do: Thứ nhất,
khi có vốn, các quốc gia sẽ có điều kiện đầu tư mạnh mẽ cho việc đào tạo và bồi
dưỡng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có trình độ cao, đáp ứng được
những đòi hỏi khắt khe của nền kinh tế tri thức hiện nay. Thứ hai, các quốc gia có
thể hoặc đầu tư cho việc nghiên cứu, tạo ra các kĩ thuật mới, công nghệ mới, trang
bị máy móc hiện đại thông qua nhập khẩu hoặc tự chế tạo để từ đó tạo ra nhiều sản
phẩm mới có chất lượng tốt, có năng lực cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế, đem

nghệ gắn chặt với hoạt động nghiên cứu và cụ thể hóa các hoạt động nghiên cứu khoa
học.
Công nghệ nằm trong nguồn lực khoa học - công nghệ, một trong những cột
trụ phát triển của kinh tế tri thức. Trong nền kinh tế tri thức, vai trò của công nghệ
tăng cao, thúc đẩy sự gia tăng của cải vật chất, nâng cao chất lượng sản phẩm đáp

11


ứng nhu cầu tiêu dùng của con người. Công nghệ đã trực tiếp tác động làm tăng
năng suất lao động, giảm nhẹ cường độ lao động, giảm chi phí, giá thành sản xuất,
giảm tỷ lệ tiêu hao vật chất, tăng tỷ lệ chất xám trong cấu tạo sản phẩm… Chu kỳ
sản xuất cũng được rút ngắn đáng kể. Bên cạnh đó, công nghệ còn là chìa khóa cho
sự phát triển bền vững của nền kinh tế tri thức. Quốc gia nào có năng lực cạnh tranh
cao sẽ có nhiều cơ hội để vượt lên, phát triển nhanh và bền vững. Và suy cho cùng,
cạnh tranh giữa các quốc gia chính là cạnh tranh nguồn vốn tri thức, thể hiện qua
chất lượng nguồn nhân lực và trình độ khoa học và công nghệ. Chính vì thế, công
nghệ là một trong số những đòn bẩy trong quá trình tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi
mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh
tranh của nền kinh tế. Xã hội càng phát triển thì vai trò đòn bẩy của công nghệ lại
càng được thể hiện một cách sâu sắc bằng chính những tác động lớn đến nhịp độ
tăng trưởng của nhiều quốc gia trên thế giới. Với riêng Việt Nam, thành quả của
khoa học và công nghệ và đặc biệt là sự đổi mới công nghệ đã mang lại những tín
hiệu rất lạc quan trong việc thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội, tạo nên những
diện mạo mới trong bức tranh phát triển đa sắc màu.
Nhìn chung, công nghệ đã giúp tạo ra những nền kinh tế phát triển cao (bao
gồm nền kinh tế toàn cầu ngày nay). Nhiều quá trình công nghệ đem lại những hệ lụy
không mong muốn như sự ô nhiễm và cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, tàn phá môi
trường. Những ứng dụng công nghệ khác nhau tác động đến những giá trị của xã hội
và công nghệ mới thường kéo theo những vấn đề đạo đức mới.

chủ quan.
Ứng dụng công nghệ là hoạt động đưa công nghệ vào quá trình sản xuất, tạo
ra những sản phẩm mới chất lượng cao hơn. Ứng dụng công nghệ là một chuỗi các
hoạt động từ đưa vào thử nghiệm đến lan tỏa, phổ biến và thay thế. Các chuỗi này
tương ứng với năm giai đoạn:
Giai đoạn đầu: Công nghệ mới là sản phẩm của một phát minh khoa học có
tiềm năng lớn nhưng chưa chứng minh được giá trị của mình hoặc chưa được công
nhận rộng rãi. Việc thử nghiệm công nghệ ở giai đoạn này có thể mang lại lợi nhuận
lớn hoặc hao tổn chi phí cũng rất lớn.
Giai đoạn hai: Khi giá trị của công nghệ được chứng minh nhưng công nghệ
còn mới nên chưa được nhiều người biết đến để đưa vào sản xuất hoặc hỗ trợ phát triển.
Giai đoạn ba: Công nghệ đã được công nhận rộng rãi và trở nên phổ biến.
Giai đoạn bốn: Công nghệ cũ vẫn hữu dụng và được dùng đến nhưng công
nghệ thay thế mới đã xuất hiện

13


Giai đoạn năm: Công nghệ cũ đã trở nên lỗi thời, vẫn được duy trì nhưng
tính hữu dụng hạn chế. Công nghệ mới được dùng hoàn toàn.
Trong ứng dụng công nghệ, đổi mới công nghệ cũng là một nội dung. Đó
chính là việc ứng dụng công nghệ mới thay cho công nghệ cũ đã lạc hậu. Trong nền
kinh tế tri thức, các nghiên cứu mang tính ứng dụng liên tục được phát triển, do đó
các công nghệ mới liên tiếp ra đời. Công nghệ cũ bộc lộ những yếu điểm khó khắc
phục, trước sự ra đời của công nghệ mới sẽ bước vào giai đoạn thoái trào. Đó cũng là
giai đoạn công nghệ mới được đưa vào thử nghiệm để thay thế. Khi công nghệ mới
thỏa mãn được kỳ vọng của con người thì cũng là lúc công nghệ cũ bị thay thế. Quá
trình đổi mới công nghệ nhanh hay chậm phụ thuộc vào trình độ khoa học, kỹ năng
tay nghề của đội ngũ cán bộ kỹ thuật, hạ tầng kỹ thuật và nguồn lực tài chính.
Sự phát triển công nghệ và công nghệ cao đã dẫn đến ra đời các dịch vụ về

quốc tế Việt Nam 2015 (International Techmart Vietnam 2015). Tuy nhiên mức độ
giao dịch tại Hội chợ chưa cao và phần lớn các doanh nghiệp đến để tham quan.
Điều này cho thấy tuy Chính phủ đã có sự quan tâm hơn đến ứng dụng công nghệ
và công nghệ cao nhưng Việt Nam còn khoảng cách rất xa với thế giới về ứng dụng
công nghệ.
1.1.3. Huy động nguồn lực tài chính
Theo Đại từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý, “Huy động là điều
nhân lực, của cải cho một công việc lớn” [6, tr.854]. Như vậy huy động chính là
một hoạt động nhằm điều chuyển toàn bộ nguồn nhân lực, vật lực để phục vụ cho
một mục đích nào đó.
Hoạt động huy động tạo ra sự tập trung cao độ nhân lực, vật lực vào giải
quyết và đạt được kết quả tối ưu cho mục đích. Hoạt động này không chỉ tạo ra sự
tập trung cao độ mà còn giải phóng các nguồn lực thoát khỏi sự trì trệ đồng thời tạo
ra sự gắn kết giữa các nguồn lực được huy động và phát huy hết vai trò của nguồn
lực. Ví dụ như hoạt động huy động vốn của các ngân hàng, không chỉ giải phóng
nguồn tiền tồn đọng trong xã hội mà nó còn tạo ra sự lưu thông của đồng tiền trong
thị trường, đầu tư vào những lĩnh vực cần thiết giúp lĩnh vực ấy được phát triển,
phát huy tối đa vai trò nguồn lực tài chính của tiền tệ. Như vậy huy động có vai trò
quan trọng trong việc tập trung giải quyết những mục đích khó khăn. Nó cho phép
hội tụ đủ các sức mạnh cần thiết để giải quyết những khó khăn ấy. Do đó, huy động
tuy chỉ là hoạt động nhưng lại là một hoạt động có vai trò trung tâm, chủ lực trong
các quyết sách nhằm giải quyết những mục đích, mục tiêu mà chủ thể mong muốn.

15


Tùy theo từng lĩnh vực cụ thể mà hoạt động huy động sẽ có những đặc thù,
phạm vi và mức độ riêng. Trong nền kinh tế tri thức hiện nay, hoạt động huy động sẽ
là huy động trí tuệ của con người và tài chính để thúc đẩy phát triển khoa học và công
nghệ.

Phương hướng chung của huy động nguồn lực tài chính là phải huy động tối
đa mọi nguồn vốn để phục vụ phát triển. Do đó, các nước trên thế giới đã thực hiện
việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ trong nước, từ nước ngoài, tranh thủ
mọi nguồn vốn có thể để phục vụ cho phát triển. Các nước trên thế giới, đặc biệt là
những nước đang phát triển tạo ra những chính sách ưu tiên để các nguồn vốn tài
chính có thể phục vụ tốt cho các mục tiêu phát triển như cải cách các thủ tục đầu tư,
rút ngắn thời gian cấp phép đầu tư, cải cách thể chế và hệ thống tài chính quốc gia,
giữ vững tỉ giá hối đoái, giữ vững mức lãi suất tiền gửi, lãi suất liên ngân hàng, mua
bán trái phiếu chính phủ được niêm yết trên thị trường chứng khoán, xây dựng thị
trường tiền tệ minh bạch... Việt Nam cũng thực hiện những chính sách như trên và
sự ra đời của Luật Ngân hàng nhà nước góp phần ổn định giá cả và khu vực tài
chính.
Ở Việt Nam, nguồn vốn tài chính huy động từ bên ngoài cho phát triển đất
nước đến từ vốn ODA, Ngân hàng thế giới (World Bank), Chương trình tín dụng hỗ
trợ giảm nghèo (PRSC), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) và những đóng góp
đầu tư của kiều bào xa tổ quốc. Đó là những nguồn vốn vay trực tiếp để đầu tư hoặc
vốn vay gián tiếp đầu tư. Các khoản đầu tư gián tiếp từ các quỹ phát triển của thế
giới đang hoạt động tại Việt Nam như Dragon Capital, Quỹ đầu tư cân bằng
Prudential 1(PRUBF1), Quỹ đầu tư doanh nghiệp Việt Nam (VEIF), Quỹ Phát triển
Việt Nam (VGF), ODA... Hình thức gián tiếp đầu tư của các quỹ nói trên là mua
trái phiếu chính phủ, phân bổ vốn thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và mua các cổ
phiếu của doanh nghiệp. Nguồn vốn trực tiếp đến từ các tập đoàn đa quốc gia, các
doanh nghiệp của thế giới, cá nhân đầu tư vốn vào xây dựng các nhà máy như: dự
án về nước sạch do World Bank trực tiếp tiến hành tại Việt Nam... Nguồn vốn đầu
tư trực tiếp hoặc gián tiếp từ nước ngoài góp phần thúc đẩy phát triển đất nước,
chuyển giao công nghệ từ các nước tiên tiến đến Việt Nam, gia tăng việc làm và gia
tăng chất lượng tay nghề của những kỹ thuật viên tham gia vào hoạt động sản xuất
kinh doanh trong các dự án đầu tư. Năm 2014, Việt Nam thu hút được 24,1 tỷ USD
từ nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài; Các quỹ đầu tư gián tiếp như PRUBP1 đầu tư


nhuận cao, từ đó dẫn đến thặng dư thương mại cho nền kinh tế. Trong bối cảnh hiện
nay, việc phát triển bền vững đang đặt ra những yêu cầu gắt gao đối với từng quốc
gia. Những công nghệ mới luôn chú trọng tới yếu tố thân thiện môi trường, tiết

18


kiệm nhiên liệu, tạo ra nhiều tiện ích cho người sử dụng. Do vậy, các công nghệ
mới luôn được chính phủ, các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia, đa quốc gia hoặc các
doanh nghiệp săn đón và tìm kiếm. Việc nghiên cứu, mua hoặc chuyển giao công
nghệ đòi hỏi phải chi trả nguồn tài chính khá lớn từ việc nhập máy móc, thiết bị đến
đào tạo cán bộ kỹ thuật và thường kéo dài thời gian. Chính vì vậy, huy động tài
chính cho hoạt động ứng dụng công nghệ rất quan trọng nhằm duy trì nguồn lực tài
chính dồi dào để từ đó đảm bảo việc nghiên cứu, mua, thay thế hoặc chuyển giao
công nghệ mới đồng bộ, phát huy tối đa hiệu quả khi đưa vào ứng dụng.
Nguồn vốn quốc gia của các nước nói trên đều được lấy từ thuế, phần tích
lũy nhà nước và các khoản đầu tư trái phiếu của chính phủ. Bên cạnh nguồn vốn
quốc gia, nguồn vốn tài chính nhà nước, các tập đoàn lớn cũng tự bỏ vốn hoặc liên
kết đầu tư (một trong những hình thức huy động vốn) để nghiên cứu công nghệ mới
như công nghệ cảm ứng 3D Touch của Microsoft (Mỹ), công nghệ xử lý đất nền
yếu trong xây dựng ở Việt Nam của Phần Lan, công nghệ laser cho vật liệu chống
thấm của nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế tại đại học Roschester của Anh... Những
công nghệ này hiện đã và đang được đưa vào ứng dụng triển khai.
Ở Việt Nam, nguồn vốn đầu tư cho khoa học và công nghệ phần lớn từ ngân
sách nhà nước với mức chưa cao. Năm 2007, nguồn này chiếm 1,5% GDP của Việt
Nam. Tính trung bình giai đoạn 2001 - 2015, tổng chi ngân sách nhà nước cho khoa
học và công nghệ đạt mức 2% tổng chi NSNN (tương đương 0,5- 0,6% GDP)3.
1.2. Phƣơng thức và nội dung huy động nguồn lực tài chính cho ứng dụng
công nghệ
1.2.1 . Tầm quan trọng của việc huy động nguồn lực tài chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status