Nghiên cứu văn hóa ẩm thực tây bắc phục vụ du lịch (Tóm tắt, trích đoạn) - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘIVÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN AN THUẬN

NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẨM THỰC
TÂY BẮC PHỤC VỤ DU LỊCH

LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH

Hà Nội – 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN AN THUẬN

NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẨM THỰC
TÂY BẮC PHỤC VỤ DU LỊCH

Chuyên ngành: Du lịch học
(Mã ngành: Chƣơng trình đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN THÖY ANH

Hà Nội – 2016



Official Development Assistance

ODA

Viện trợ phát triển chính thức
Ủy ban nhân dân

UBND

Tổ chức Phát triển Hà Lan

SNV
TCDL

Tổng cục Du lịch
Thị xã

TX

World Trade Organization

WTO

Tổ chức thương mại thế giới

3


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu

1.2.2. Kinh tế và xã hội ................................................................................. 29
1.2.3. Các tộc ngƣời Tây Bắc ........................................................................ 32
1.2.3.1.Tộc ngƣời Thái ......................................................................... 32
1.2.3.2. Tộc ngƣời H’Mông .................................................................. 33
1.2.3.3. Tộc ngƣời Mƣờng .................................................................... 34
1.2.3.4. Các tộc ngƣời khác .................................................................. 35
5


1.2.4. Các giá trị văn hóa – lịch sử vùng Tây Bắc ........................................ 37
1.3. Lý luận thực tiễn về nghiên cứu văn hóa ẩm thực .................................. 39
1.3.1. Vai trò của văn hóa ẩm thực Tây Bắc trong phát triển du lịch ........... 39
1.3.2. Sức hấp dẫn của văn hóa ẩm thực trong sự phát triển du lịch ............ 41
1.3.3. Những hạn chế trong việc phát triển du lịch ẩm thực Tây Bắc .......... 44
Tiểu kết chƣơng 1 .............................................................................................. 45
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG VÀ VAI TRÕ CỦA ẨM THỰC TÂY BẮC
TRONG SỰ PHÁT TRIỂN KINH DOANH DU LỊCH ................................ 46
2.1. Thực trạng các điểm tham quan du lịch .................................................. 46
2.2. Thị trƣờng khách du lịch........................................................................... 50
2.1.1. Thị trƣờng khách du lịch và doanh thu tại Việt Nam nói chung ........ 50
2.1.2. Thị trƣờng khách du lịch và doanh thu du lịch tại Tây Bắc ............... 53
2.3. Các loại hình du lịch đang đƣợc phát triển tại Tây Bắc ........................ 56
2.3.1. Thực trạng du lịch phát triển cộng đồng tại Hòa Bình ....................... 56
2.3.2. Thực trạng du lịch phát triển cộng đồng tại Sơn La ........................... 58
2.4. Những tour du lịch ẩm thực tiêu biểu ...................................................... 62
2.5. Nguồn nhân lực và giao thông liên lạc ..................................................... 63
2.5.1. Nguồn nhân lực về du lịch ẩm thực .................................................... 63
2.5.2. Giao thông và liên lạc ......................................................................... 65
2.6. Đánh giá thực trạng du lịch ẩm thực tại hai tỉnh Hòa Bình, Sơn La .... 67
2.6.1. Thực trạng du lịch ẩm thực tại Hòa Bình ........................................... 67

trong sự phát triển du lịch nói riêng, đất nƣớc nói chung. Bản sắc văn hoá của
mỗi tộc ngƣời, mỗi vùng miền thể hiện qua cƣ trú, trang phục, phong tục, lễ hội,
nghệ thuật và một yếu tố quan trọng không thể thiếu là ẩm thực. Ăn uống là nhu
cầu đầu tiên và thiết yếu nhằm duy trì sự tồn tại, sự sống cho cơ thể con ngƣời.
Ăn uống không đơn thuần là thoả mãn nhu cầu đói và khát của con ngƣời mà
cao hơn nữa nó còn đƣợc coi là văn hoá – văn hoá ẩm thực. Văn hóa chính là
động lực của sự phát triển, đan xen vào các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong
đó ẩm thực là loại hình văn hoá quan trọng tham gia cấu thành nền văn hoá dân
tộc, tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc độc đáo. Việc ăn uống hàng ngày tạo nên
nét riêng biệt giữa vùng miền này với vùng miền khác.
Việt Nam với truyền thống văn hoá lâu đời đã tạo dựng cho mình ẩm thực
đặc sắc, ngoài hằng số chung còn có những phong cách ẩm thực mang sắc thái
đặc trƣng của mỗi vùng miền. Đó là khí hậu,thổ nhƣỡng, sản vật từ các vùng
đất, là những phƣơng thức chế biến, cách thƣởng thức khácnhau mà chỉ cần
nhắc đến tên mónăn ngƣời ta biết món ăn đó xuất phát từ địa phƣơng nào.
GS.Trần Quốc Vƣợng đã viết: “truyền thống ẩm thực là một sự thực văn hoá
của các vùng miền Việt Nam” [46] hay theo GS.TS Trần Ngọc Thêm: “Ẩm thực
vừa là văn hoá vật chất vừa là văn hoá tinh thần. Khi ẩm thực đạt tới phạm vi
văn hoá, thì nó thể hiện thành một nét cốt cách, phẩm hạnh một con người, một
dân tộc” [21].
Những năm gần đây, vấn đề ẩm thực đã đƣợc xã hội quan tâm rộng rãi
hơn. Con ngƣời không chỉ cần “ăn no, mặc ấm” mà còn hƣớng tới “ăn ngon,
mặc đẹp”. Ăn uống là một phần không thể thiếu trong các chuyến đi du lịch, ấn
8


tƣợng về ăn uống trong chuyến đi góp phần lớn vào thành công của chuyến du
lịch đó. Cuộc sống của nền kinh tế thị trƣờng đã mở ra nhiều hƣớng tiếp cận với
văn hoá ăn uống, đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh du lịch. Trên khắp mọi
miền đất nƣớc, các nhà kinh doanh đã nắm bắt nhu cầu, thị hiếu của khách du

Chính vì những lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài “Nghiên cứu văn hóa ẩm
thực Tây Bắc phục vụ du lịch (nghiên cứu trường hợp 2 tỉnh Hòa Bình, Sơn
La)” nhằm đem đến một cái nhìn tổng quan về hiện trạng khai thác tiềm năng du
lịch tại Tây Bắc, cụ thể là hai tỉnh Hòa Bình, Sơn La và đề xuất giải pháp để
khai thác các giá trị của văn hóa ẩm thực nơi đây nhằm thu hút khách du lịch
trong nƣớc và du khách quốc tế.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Nhìn lại lịch sử vấn đề, có thể thấy số lƣợng tài liệu, sách báo, công trình
nghiên cứu khoa học đề cập đến ẩm thực Tây Bắc, du lịch hai tỉnh Hòa Bình,
Sơn La hay nghiên cứu ẩm thực phục vụ cho hoạt động du lịch khá nhiều. Có
thể kể đến một số công trình gần gũi với đề tài này nhƣ:
− Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp bộ “Một số vấn đề về văn hóa ăn, uống
trong xã hội cổ truyền người Việt” của Nguyễn Hải Kế, bảo vệ tại Hội đồng
trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn năm 2004.
− Luận văn thạc sĩ Du lịch “Một số giải pháp góp phần xây dựng và phát
triển du lịch bền vững ở Tây Bắc Việt Nam” của Trần Đăng Hiếu bảo vệ tại
Hội đồng Khoa học Khoa Du lịch trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
năm 2007.
− Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Huyền với đề tài “Phát triển du lịch
văn hóa tiểu vùng du lịch miền núi Tây Bắc”bảo vệ tại Hội đồng Khoa học
Khoa Du lịch trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn năm 2012.
− “Du lịch cộng đồng miền núi phía Bắc Việt Nam (nghiên cứu trường
hợp bản Sả Séng, Tả Phìn, Sa Pa, Lào Cai và Bản Lác, Chiềng Châu, Mai
Châu, Hòa Bình), Luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Hƣờngbảo vệ tại Hội đồng

10


Khoa học Khoa Du lịch trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn năm
2011.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu

− Ngiên cứu việc khai thác các món ăn, đồ uống mang đặc trƣng ẩm thực
miền núi để phục vụ phát triển du lịch các tỉnh Tây Bắc

− Nghiên cứu nhu cầu ẩm thực của khách du lịch đến vùng Tây Bắc
4.2. Phạm vi nghiên cứu

11


Luận văn nghiên cứu trong phạm vi các khu du lịch vùng Tây Bắc mà cụ
thể là hai tỉnh Hòa Bình và Sơn La để thấy đƣợc những nét đặc trƣng của văn
hóa ẩm thực và vai trò của nó trong sự phát triển của ngành du lịch địa phƣơng.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
− Phƣơng pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Mục đích của phƣơng
pháp này nhằm thu thập tài liệu liên quan đến lý luận về văn hóa và văn hóa ẩm
thực thu thập kết quả nghiên cứu đã công bố, tạo cơ sở về lý luận để áp dụng
giải quyết các nội dung của luận văn.
− Phƣơng pháp điều tra thực địa: điền dã tại khu du lịch, địa phƣơng
vùng Tây Bắc nhằm tìm hiểu nhu cầu thị hiếu của khách khi tham gia chƣơng
trình du lịch ẩm thực, nắm đƣợc thực trạng vấn đề và thu thập số liệu xác thực
minh chứng nội dung nghiên cứu mà tác giả đã đi tiến hành thực địa. Từ hoạt
động này, tác giả định hình đƣợc sơ bộ tình hình cụ thể thực trạng khai thác văn
hóa ẩm thực, sẽ là cơ sở đƣa ra giải pháp phát huy các giá trị văn hóa ẩm thực
phục vụ phát triển du lịch.
− Phƣơng pháp điều tra xã hội học: Sử dụng bảng hỏi để điều tra xã hội
học, điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc nắm bắt nhu cầu của khách du
lịch, khả năng phục vụ các sản phẩm ăn uống của của đơn vị kinh doanh cũng


Lý luận về du lịch văn hóa ẩm thực
1.1.1. Khái niệm văn hóa, ẩm thực, văn hóa ẩm thực
1.1.1.1.

Văn hóa

Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác
nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con ngƣời. Nghĩa
ban đầu của văn hóa trong tiếng Hán là những nét xăm mình qua đó ngƣời khác
nhìn vào để nhận biết và phân biệt mình với ngƣời khác, biểu thị sự quy nhập
vào thần linh và các lực lƣợng bí ẩn của thiên nhiên, chiếm lĩnh quyền lực siêu
nhiên. Theo ngôn ngữ của phƣơng Tây, từ tƣơng ứng với văn hóa của tiếng Việt
(culture trong tiếng Anh và tiếng Pháp, kultur trong tiếng Đức,...) có nguồn gốc
từ các dạng của động từ Latin colere là colo, colui, cultus với hai nghĩa: giữ gìn,
chăm sóc, tạo dựng trong trồng trọt và cầu cúng.
Trong cuộc sống hàng ngày, văn hóa thƣờng đƣợc hiểu là văn học, nghệ
thuật nhƣ thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh...Các “trung tâm văn hóa” có ở
khắp nơi chính là cách hiểu này. Một cách hiểu thông thƣờng khác: văn hóa là
cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cƣ xử và cả đức tin, tri thức
đƣợc tiếp nhận...Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa
phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Có thể hiểu “Văn hóa là
một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và
tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người
với môi trường tự nhiên và xã hội” [6, tr. 30].
Năm 2002, UNESCO đƣa ra định nghĩa về văn hóa nhƣ sau: “Văn hóa là
một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm

14


15


với một nền văn hóa cụ thể. Nó thƣờng đƣợc đặt tên theo vùng hoặc nền văn
hóa hiện hành. Một món ăn chủ yếu chịu ảnh hƣởng của các thành phần có sẵn
tại địa phƣơng hoặc thông qua thƣơng mại, buôn bán trao đổi. Những thực phẩm
mang màu sắc tôn giáo cũng có những ảnh hƣởng rất lớn tới ẩm thực. Mở rộng
ra ẩm thực có nghĩa là nền văn hóa ăn uống của một dân tộc, đã trở thành một
tập tục, thói quen. Ẩm thực không chỉ nói về “văn hóa vật chất” mà cả về “văn
hóa tinh thần”.
Ẩm thực là chiếc gƣơng soi chân thực cho nền văn hóa của mỗi quốc gia.
Ẩm thực cũng là cách để mỗi đất nƣớc quảng bá nền văn hóa của họ. Văn hóa
ẩm thực của quốc gia lớn lên và đi cùng với mỗi bƣớc phát triển của đất nƣớc
đó, là một khía cạnh để đánh giá quốc gia đó có đƣợc một nền văn hóa phát triển
rực rỡ, có sát cánh với nền ẩm thực đa dạng, phong phú, muôn hình, muôn vẻ
của thế giới đang phát triển từng ngày. Bên cạnh những món ăn hiện đại là cả
một kho tàng phong phú những món ăn cổ truyền hấp dẫn muôn vàn thế hệ.
Từ ngàn đời xƣa dân tộc ta đã đúc kết nhiều câu thành ngữ, tục ngữ chỉ sự
ăn uống và nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự ăn: “Dân dĩ thực vi thiên”
(dân lấy ăn làm trời), một số dị bản “dân dĩ thực vi tiên” (dân lấy cái ăn làm
đầu); việc ăn uống quan trọng tới mức trời cũng không dám xâm phạm “trời
đánh còn tránh miếng ăn”, “có thực mới vực được đạo”, “thực túc binh
cường”, “nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ”...Không có
ăn việc đạo việc đời, triết lý cao siêu đến đâu cũng là hƣ vô, không ý nghĩa. Phải
đảm bảo lƣơng thực đầy đủ mới có quân hùng tƣớng mạnh mà đánh thắng quân
thù. Kẻ sĩ ngày thƣờng là tầng lớp cao nhất trong xã hội, nhƣng không có ăn thì
kẻ sĩ không bằng ngƣời chân lấm, tay bùn, hai sƣơng một nắng vốn lao đao nhất,
lầm than vất vả nhất. Không phải ngẫu nhiên trong lời ăn tiếng nói của ngƣời
Việt thƣờng bắt gặp những chữ có từ ăn ở đầu: ăn uống, ăn ở, ăn mặc, ăn nói,
ăn chơi, ăn tiêu, ăn ngủ, ăn nằm, ăn cắp, ăn trộm...Hay một hệ thống những câu

thiên nhiên do cách thức ứng xử môi trƣờng tự nhiên để duy trì sự sống, sự tồn
tại thông qua việc tìm cái ăn, cái uống, từ cách săn bắn, hái lƣợm trong đó có tự
nhiên. Vì thế “ăn uống là văn hoá, chính xác hơn là văn hoá tận dụng môi
trường tự nhiên” [45, tr. 187]. Và khi việc ăn uống đƣợc nâng tầm, không chỉ
17


đơn thuần giúp con ngƣời tồn tại, mà còn thƣởng thức, đó là thƣởng thức văn
hóa ẩm thực.
1.1.1.4. Văn hóa ẩm thực Việt Nam
Nhà nghiên cứu Bùi Quốc Châu trong cuốn Ẩm thực dưỡng sinh cho rằng
ngƣời Việt Nam biết tạo những món ăn ngon có sự cân bằng âm dƣơng, biết lựa
chọn nguyên liệu tƣơi ngon, sạch sẽ để chế biến. Đây là vấn đề quan trọng đối
với sức khoẻ con ngƣời. Ngƣời xƣa ý thức đƣợc việc này nên đã có câu “bệnh
tòng nhập khẩu” (bệnh theo miệng mà vào). Con ngƣời không chỉ biết “ăn no”
mà còn biết “ăn ngon”. Tiếp đó việc ăn uống phải đƣợc trình bày đẹp mắt, thanh
nhã, ăn uống phải có lễ nghi, hiếu đễ, phải “ăn trông nồi, ngồi trông hƣớng”
nghĩa là phải biết chỗ ngồi của mình ở đâu, phải biết kính trên nhƣờng dƣới, đó
là lễ nghi. Món ngon vật lạ phải biết dâng cho ông bà, cha mẹ, hay nhƣờng cho
anh chị em con cháu trong nhà, đó là hiếu đễ. Cổ nhân đã từng dạy, đối với
ngƣời nghèo phải biết nhƣờng cơm sẻ áo cho họ, biết quý trọng hạt gạo mà
ngƣời nông dân một “nắng hai sƣơng” làm ra để cho ta có mà ăn, đó là lòng
nhân ái. Từ khi sinh ra và lớn lên, ngƣời Việt phải “học ăn, học nói, học gói, học
mở”. Vì thế, nhà nghiên cứu Bùi Quốc Châu đã cho rằng “văn hoá ẩm thực Việt
Nam là sự kế thừa của truyền thống cha ông và tổng hợp phát huy đƣợc nhiều
kiến thức hiện đại của loài ngƣời trong lĩnh vực ăn uống, phối hợp với triết lý cổ
nhân Đông Phƣơng, trong đó có Việt Nam”.
Việt Nam là nƣớc nông nghiệp thuộc về xứ nóng, nhiệt đới gió mùa. Ngoài
ra lãnh thổ Việt Nam đƣợc chia ra ba miền rõ rệt là Bắc, Trung, Nam. Chính các
đặc điểm về địa lý, văn hóa, dân tộc, khí hậu đã quy định những đặc điểm riêng

Việt Nam có 9 đặc trƣng:
− Tính hòa đồng hay đa dạng.
− Tính ít mỡ.
− Tính đậm đà hƣơng vị.
− Tính tổng hòa nhiều chất, nhiều vị.
− Tính ngon và lành.
− Tính dùng đũa.
− Tính cộng đồng hay tính tập thể.
19


− Tính hiếu khách.
− Tính dọn thành mâm.
Ẩm thực Việt Nam đặc trƣng với sự trung dung trong cách pha trộn nguyên
liệu không quá cay, quá ngọt hay quá béo. Các nguyên liệu phụ (gia vị) để chế
biến món ăn Việt Nam vô cùng phong phú, bao gồm:
− Nhiều loại rau thơm nhƣ húng thơm, tía tô, kinh giới, hành, thìa là, mùi
tàu…
− Gia vị thực vật nhƣ ớt, hạt tiêu, sả, hẹ, tỏi, gừng, chanh quả hoặc lá non...
− Gia vị lên men nhƣ mẻ, mắm tôm, bỗng rƣợu, dấm thanh hoặc kẹo
đắng, nƣớc cốt dừa...
Khi thƣởng thức các món ăn, tính chất phối trộn nguyên liệu một cách tổng
hợp nói trên càng trở nên rõ nét hơn: ngƣời Việt ít khi ăn món nào riêng biệt,
thƣởng thức từng món, mà một bữa ăn thƣờng là sự tổng hòa các món ăn từ đầu
đến cuối bữa. Một nét đặc biệt khác của ẩm thực Việt Nam mà các nƣớc khác,
nhất là nƣớc phƣơng Tây không có chính là gia vị nƣớc mắm. Nƣớc mắm đƣợc
sử dụng thƣờng xuyên trong hầu hết các món ăn của ngƣời Việt. Ngoài ra còn có
các loại nƣớc chấm nhƣ tƣơng bần, xì dầu (làm từ đậu nành). Bát nƣớc mắm
dùng chung trên mâm cơm, từ xƣa đến nay làm khẩu vị đậm đà hơn, món ăn có
hƣơng vị đặc trƣng hơn và biểu thị tính cộng đồng gắn bó của ngƣời Việt.

Thổ

Kim

Thủy

Đắng

Ngọt

Cay

Mặn

Ngũ tạng Mật

Lòng non

Dạ dày

Lòng già

Thận

Ngũ sắc

Đỏ

Vàng



Thính giác

Bảng 1.1: Nguyên tắc kết hợp ngũ hành tƣơng sinh.
(Nguồn: Wikipedia)
1.1.2.

Phân loại ẩm thực

Tuy có những nét chung nói trên, ẩm thực Việt Nam có đặc điểm khác
nhau theo từng vùng, mặc dù trong từng vùng này ẩm thực của các tiểu vùng
cũng thể hiện nét đặc trƣng:
Ẩm thực miền Bắc
Ẩm thực miền Bắc thƣờng không đậm các vị cay, béo, ngọt bằng các vùng
khác, chủ yếu sử dụng nƣớc mắm loãng, mắm tôm. Sử dụng nhiều món rau và
các loại thủy sản nƣớc ngọt dễ kiếm nhƣ tôm, cua, cá, trai, hến v.v…và nhìn
chung, do truyền thống xa xƣa có nền nông nghiệp nghèo nàn, ẩm thực miền
Bắc trƣớc kia ít thịnh hành các món ăn với nguyên liệu chính là thịt, cá. Nhiều
ngƣời đánh giá cao Ẩm thực Hà Nội một thời, cho rằng nó đại diện tiêu biểu
nhất của tinh hoa ẩm thực miền Bắc Việt Nam với những món phở, bún thang,
bún chả, các món quà nhƣ cốm Vòng, bánh cuốn Thanh Trì v.v…và gia vị đặc
sắc nhƣ tinh dầu cà cuống, rau húng Láng.
Ẩm thực miền Nam
Ẩm thực miền Nam chịu ảnh hƣởng nhiều của ẩm thực Trung Quốc,
Campuchia, Thái Lan, có đặc điểm là thƣờng gia thêm đƣờng và hay sử dụng
sữa dừa (nƣớc cốt và nƣớc dão của dừa). Nền ẩm thực này cũng sản sinh ra vô
số loại mắm khô (mắm cá sặc, mắm bò hóc, mắm ba khía). Ẩm thực miền Nam
cũng dùng nhiều đồ hải sản nƣớc mặn và nƣớc lợ hơn miền Bắc (các loại cá,

22

Mỗi dân tộc trên thế giới đều có sắc thái văn hóa độc đáo của mình thể hiện
qua phong tục tập quán, qua trang phục và đặc biệt là qua phong cách cũng nhƣ
quan niệm về ăn uống hay văn hóa ẩm thực.
23


Tây Bắc là cái nôi của các dân tộc thiểu số nhƣ Thái, Mƣờng, Dao, Mông,
Lô Lô, Hà Nhì, Xinh Mun,...Một trong những sắc thái văn hóa dân tộc đặc sắc
của họ là những món ăn truyền thống nổi tiếng riêng có ở vùng này và đƣợc
thƣởng thức trong không gian và không khí cộng đồng nhƣ tại các lễ hội, các
chợ phiên và đặc biệt là vào ngày Tết cổ truyền đầu năm mới. Ngƣời Mông có
món thắng cố, ngƣời Thái có các món nƣớng nổi tiếng nhƣ cá, gà, lợn nƣớng.
Ngƣời Mƣờng lại có những món bánh độc đáo, xôi đồ, thịt chua,…
Món ăn dân tộc truyền thống Tây Bắc vô cùng phong phú và độc đáo. Mỗi
dân tộc có cả kho tàng những kinh nghiệm ăn uống cũng nhƣ sở thích và thực
đơn riêng. Đây thực sự là một nguồn tài nguyên vô tận và không thể thiếu trong
khai thác du lịch văn hóa Tây Bắc.
Ẩm thực Thái
Có nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét nền văn hóa Thái là nền “văn hóa
thung lũng” – tiền thân của nền “văn hóa đồng bằng” [15, tr. 29]. Ngƣời Thái có
giống lúa nếp truyền thống thơm, dẻo, hạt to quý đến mức có loại đƣợc gọi là
“nếp quên chồng” (khạu lưm phua). Tập quán ăn cơm nếp với các đồ ăn khô nhƣ
thịt nƣớng, đồ vùi tro bếp đã trở thành đặc tính trong văn hóa ăn của ngƣời Thái.
Ngƣời Thái thích món nƣớng. Nƣớng trực tiếp trên than hồng gọi là chí,
gói thức ăn vào lá vùi tro nƣớng gọi là pho. Bỏ vào ống tre nƣớng gọi là lam.
Món ăn đặc trƣng là cơm lam. Ngƣời Thái có tới hàng chục loại cơm lam. Kỹ
thuật nấu cách thủy là đặc trƣng trong văn hóa ẩm thực Thái. Nếu lam là nƣớng
thì nửng tức là đồ, là nấu cách thủy.
Cá là thức ăn hàng ngày quen thuộc. Họ có nhiều cách chế biến món cá
nhƣ pa cói (gỏi cá), pa pho (ƣớp,vùi dƣới tro nóng). Đặc biệt, ngƣời Thái có

cho thêm các loại rau. Khi ăn, chảo vẫn để trên bếp đun, ăn đến đâu múc ra bát
đến đó. Mùi vị món ăn này rất đặc trƣng và không phải ai cũng cảm nhận đƣợc
ngay vị hấp dẫn của nó. Thắng cố thƣờng đƣợc ăn với mèn mén (một loại bánh
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status