Khai thác văn hóa dân tộc Cơtu để phục vụ du lịch ở huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng - Pdf 34

Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thanh Sinh

LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của trường Đại học Duy Tân và khoa khoa học xã hội và
nhân văn, trong thời gian hơn hai tháng tôi đã nổ lực để hoàn thành đề tài khóa
luận: “Khai thác văn hóa dân tộc Cơtu để phát triển du lịch ở huyện Hòa Vang –
thành phố Đà Nẵng”.
Để đạt được kết quả này, trước hết tôi xin gởi lời cảm ơn đến Ba Mẹ là người
đã sinh ra, nuôi dưỡng và luôn tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi học tập. Tiếp theo
tôi xin gởi lời cảm ơn sâu sắc đến nhà trường nơi tôi được học tập, được rèn luyện.
Và một lời cảm ơn chân thành đến khoa khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt tôi
muốn gởi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn đến Thầy Nguyễn Thanh Sinh,
người đã tận tình, tận tâm trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này. Nhân
đây tôi cũng xin cảm ơn Sở Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch Đà Nẵng đã tạo điều
kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình thực tập và cung cấp tài liệu cho khóa luận tốt
nghiệp.
Dù đã có rất nhiều cố gắng, song luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi
những thiếu sót và hạn chế. Kính mong nhận được sự chia sẻ và những ý kiến đóng
góp quý báu của Hội đồng và các thầy cô giáo.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn.
Đà Nẵng, tháng 4 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Hoài My

SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH

Trang 1



Đà Nẵng là một vùng đất không chỉ có bề dày lịch sử, văn hóa mà còn có
nhiều tài nguyên về tự nhiên và tài nguyên nhân văn để phát triển du lịch. Nói đến
Đà Nẵng người ta sẽ nghĩ đến một thành phố trẻ, sôi động với nền kinh tế đang trên
đà phát triển và những bãi biển xinh đẹp. Và sẽ ít ai biết đến một dân tộc thiểu số
Cơtu đang sinh sống tại đây. Tuy chỉ tập trung trên mấy làng nhỏ ở huyện Hòa
Vang – thành phố Đà Nẵng nhưng sự có mặt của tộc người Cơtu trên địa bàn huyện
đã góp phần tô điểm cho bức tranh văn hóa của thành phố Đà Nẵng.
Hiện nay, ở huyện Hòa Vang - Đà Nẵng đang phát triển một cách tự phát
loại hình du lịch cuối tuần của người dân trung tâm thành phố và cũng có nhiều dự
án đầu tư, quy hoạch thành một điểm du lịch của Đà Nẵng. Do đó, những giá trị văn
hóa của dân tộc Cơtu tại đây sẽ góp một phần không nhỏ trong việc phát triển loại
hình du lịch sinh thái – văn hóa độc đáo, hấp dẫn thu hút được nhiều khác du lịch
không chỉ trong thành phố và các vùng lân cận mà còn cả khách du lịch trong cả
nước, thậm chí du khách quốc tế khi đến Đà Nẵng nếu được khai thác tốt. Nhưng
trong xu thế hội nhập ngày nay thì dường như những nét văn hóa truyền thống của
dân tộc Cơtu đang dần bị mai một. Chính vì vậy, việc nghiên cứu văn hóa dân tộc
Cơtu trên địa bàn huyện một cách toàn diện và sâu sắc nhằm định hướng cho việc
bảo tồn, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa về lâu dài và để khai thác các giá trị
đó để phục vụ du lịch – ngành kinh tế đang ngày càng đem lại nguồn thu to lớn cho
địa phương là một việc làm hết sức bức thiết. Vì vậy, tôi chọn đề tài: “Khai thác
văn hóa dân tộc Cơtu để phục vụ du lịch ở huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng ”
làm đề tài nghiên cứu với hi vọng sẽ góp một phần nhỏ vào việc khai thác, nghiên
SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH

Trang 3


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thanh Sinh

tộc Việt Nam” của Trần Ngọc Bình – NXB Thanh Niên 2008; giới thiệu một cách
tổng quát về đời sống vật chất cũng như tinh thần của người Cơtu cũng như một số

SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH

Trang 4


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thanh Sinh

dân tộc khác. “Truyện kể về phong tục, truyền thống văn hóa của các dân tộc Việt
Nam”. Tập 1 - Nguyễn Trọng Báu – NXBGD. Sách miêu tả và kể lại phong tục, tập
quán của 54 dân tộc anh em, trong đó có giới thiệu về nguồn gốc cũng như một số
tục của dân tộc Cơtu như: tục săn máu, tục cướp vợ,…“Luật tục của người Tà Ôi,
Cơtu, Bru-Vân Kiều ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế’ - Nguyễn Văn Mạnh – NXB
Thuận Hoá. Trình bày về các luật tục trong ăn uống, làm nhà, hôn nhân, trang phục,
…của người Tà Ôi, Cơtu, Bru-Vân Kiều.
Nhìn chung, các dân tộc được giới thiệu trong các cuốn sách này đã trình bày
khá chi tiết, cụ thể về các mặt của đời sống xã hội.Tuy nhiên, với việc nghiên cứu
các giá trị văn hóa của các dân tộc này để phục vụ cho việc phát triển du lịch thì
dường như là chưa có một công trình nào.
Đối với huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng, dân tộc Cơtu có lịch sử văn
hoá lâu đời. Trong quá trình hình thành và phát triển, tộc người Cơtu ở đay đã tạo
cho mình vốn văn hoá truyền thống đặc sắc vừa có nét tương đồng, vừ có những
điểm riêng biệt được thể hiện trong đời sống vật chất và tinh thần hết sức dộc
đáo.Do dân số ở đây ít. địa bàn cư trú lại ở phía Tây Đà Nẵng – vùng núi cao hiểm
trỏ, trước đây giao thong đi lại khó khăn.Vì vậy, cũng chưa có một công trình nào
nghiên cứu một cách thật sâu sắc, kỹ lưỡng về loại hình văn hoá truyền thống của



Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thanh Sinh

B – PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ HUYỆN HÒA VANG VÀ DÂN TỘC CƠTU
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
1.1. Tổng quan về huyện Hòa Vang:
Hòa vang là huyện ngoại thành duy nhất của Thành phố Đà Nẵng, với cơ cấu
kinh tế chủ yếu là nông nghiệp. Sau khi thực hiện nghị định 102/2005/NĐ-CP ngày
05 tháng 8 năm 2005 của Chính phủ về việc chia tách địa giới hành chính một số xã
của huyện để thành lập mới quận Cẩm Lệ, địa giới hành chính huyện còn lại 11 xã
với tổng diện tích tự nhiên 73.691 ha.
1.1.1. Đặc điểm địa lý, tự nhiên
* Về vị trí địa lý:
Kinh độ: 15°56' Bắc đến 16°13' Bắc. Vĩ độ: 107°49' Đông đến 108°13'
Đông. Phía đông giáp quận Ngũ Hành Sơn, quận Liên Chiểu, quận Hải Châu thành
phố Đà Nẵng, phía tây giáp huyện Đông Giang tỉnh Quảng Nam, phía nam giáp
huyện Đại lộc, Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, phía bắc giáp huyện Nam Đông, Phú
Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế.
Địa giới hành chính gồm 11 xã gồm 03 xã đồng bằng (Xã Hòa Châu, Hòa
Tiến, Hòa Phước), 04 xã Trung du (Xã Hòa Nhơn, Hòa Phong, Hòa Khương, Hòa
Sơn) và 04 xã miền núi (Xã Hòa Liên, Hòa Ninh, Hòa Phú, Hòa Bắc).
Vị trí địa lý thuận lợi giúp cho Hòa Vang có thể khai thác tốt hơn nguồn tài
nguyên thiên nhiên, nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội.
* Về địa hình:
Địa hình Hòa Vang rất đa dạng, bao gồm 3 loại địa hình là miền núi, trung

Vân, giữa Đông Trường Sơn với Tây Trường Sơn, tạo nên nền khí hậu nhiệt đới gió
mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít biến động. Mỗi năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa
kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có
những đợt rét mùa đông không đậm và không kéo dài.
Nhiệt độ trung bình hằng năm lầ 25,8 0C, cao nhất vào các tháng 6, 7, 8 với
nhiệt độ trung bình 28 – 30 0C, thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2; trung bình khoảng
18 – 230C. Riêng vùng rừng núi Bà Nà ở độ cao gần 1.500m nên có nhiệt độ trung
bình khoảng 200C.
Độ ẩm trung bình hằng năm là 1164 mm, mưa lớn tập trung vào hai tháng 10
và 11. Các hướng gió thịnh hành là gió mùa đông bắc từ tháng 11 đến tháng 2; gió
mùa đông nam và tây nam vào tháng 5 và tháng 7. Huyện thường xuyên chịu ảnh
hưởng của bão, trung bình hằng năm có một đến 2 cơn bão đi qua.
Số giờ nắng bình quân hàng năm 2.067,9 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6
trung bình từ 233 đến 262 giờ/tháng; ít nhất là vào tháng 12 và tháng 1, trung bình
58 đến 122 giờ/tháng.

SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH

Trang 8


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thanh Sinh

Hòa Vang có khá nhiều song với 3 sông chính là sông Cu Đê, sông Cẩm Lệ,
sông Vĩnh Điện, một số sông nhỏ như sông Yên, sông Bầu Sấu và nhiều ao hồ khác.
Nhìn chung chất lượng các sông đều đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất, trừ
sông Cẩm Lệ và sông Cu Đê bị nhiễm mặn thủy triều vào thời gian mùa khô từ
tháng 5 đến tháng 6.


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thanh Sinh

khăn về lũ lụt. do vậy, huyện Hòa Vang cần có những chính sách hợp lý để khai
thác có hiệu quả hơn những lợi thế và đồng thời cũng hạn chế những khó khăn.
1.1.2. Vài nét về lịch sử, văn hóa
Vùng đất Hòa Vang xưa vốn là vùng đất Chiêm Thành, cha ông ta đã theo
bước chân của các vua chúa, đi mở mang bờ cõi, khai phá vùng đất mới. Qua bao
nhiêu thế hệ kế tiếp nhau phải đổ biết bao nhiêu mồ hôi công sức, trên rừng xanh
dưới mảnh đất ruộng vườn, cũng hơn một thế kỷ sau mới hình thành được Làng
xóm, Thôn ấp.
Và cũng từ đây, các xóm làng như Túy Loan (1470), Bồ Bản (1476) Phong
Lệ, Cẩm Toại, Đại La ... được hình thành và gắn liền với địa danh Hòa Vang ngày
ấy. Theo sách Đại Nam nhất thống chí thì huyện Hoà Vang được ghi danh vào bản
đồ của nước Việt Nam vào năm 1605 - đầu bản triều - tức là đầu nhà Nguyễn.
Qua từng giai đoạn lịch sử khác nhau, Hòa Vang cũng có chuyển biến theo
nó. Đó là sự chia tách và sáp nhập lại của chính quyền vua chúa để dễ dàng cho việc
cai quản, từ đó lỵ sở của huyện Hòa Vang cũng thay đổi theo như ở đời Gia Long
thứ nhất (1802), đóng tại Ái Nghĩa, đến năm Minh Mệnh thứ V (1824) lại dời
xuống Hoá Khuê Trung Tây. Đến năm Tự Đức thứ hai (1848) lại trở về đóng tại
phía Tây bắc của xã Ái Nghĩa. Năm 1899 lại dời về xã Bình Thuận và huyện Hòa
Vang thuộc phủ Điện Bàn gồm có 7 tổng: Bình Thái, Thanh An, An Phước, Phước
Tường, Hòa An, Tổng Giáo với 158 xã, thôn.
Sau khi kí hiệp ước Geneve, triều đình nhà Nguyễn lại cắt một số đất của
huyện Hòa Vang làm nhượng địa cho thực dân Pháp. Trước sự đàn áp và bóc lột,
quân và dân ta đã đứng lên đoàn kết chống lại quyết liệt. Từ Chi bộ Phổ Lỗ Sỹ, Chi
bộ Phú Lộc ra đời đầu tiên thời kỳ năm 1939-1940 cho đến khi Huyện uỷ lâm thời
được thành lập để lãnh đạo nhân dân kháng chiến. Để thuận lợi cho việc hoạt động

bờ nam sông Thu Bồn trở vào, tỉnh Quảng Nam từ bờ bắc sông Thu Bồn trở ra. Hoà
Vang thuộc tỉnh Quảng Nam. Ngược lại, chính quyền kháng chiến tỉnh Quảng Nam
quyết định chia tỉnh Quảng Nam thành 2 đơn vị hành chính: tỉnh Quảng Tín từ bờ
bắc sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Đà từ bờ nam sông Thu Bồn trở về. Hoà Vang thuộc
tỉnh Quảng Đà.
Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, đội quân viễn chinh Mỹ đổ bộ vào
Đà Nẵng, tiến hành cuộc “chiến tranh cục bộ” tại niềm Nam Việt Nam. Hòa Vang
nhận nhiệm vụ lịch sử, chạm trán đầu tiên với đội quân xâm lược này bằng cuộc
đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị quyết liệt. Từ Hải Vân đến Ngũ Hành Sơn,
có thể nói nơi nào trên mảnh đất Hòa Vang cũng biến thành chiến trường ngút ngàn
khói đạn bom, nơi nào cũng gánh chịu nhiều đau thương tang tóc, nhưng nơi nào
cũng in dấu chiến công oanh liệt của quân và dân ta đánh Mỹ thắng Mỹ. Địch muốn
biến Hòa Vang thành vành đai trắng để bảo vệ căn cứ chiến lược liên hợp hải-lụckhông quân tại Đà Nẵng, để tiêu diệt lực lượng cách mạng, giành thế tiến công chủ
động trên toàn chiến trường. Do đó chiến dịch trực thăng vận, chiến xa vận, càn
trắng, bình định cấp tốc...địch đều thực hiện hết sức quyết liệt tại đây. Chỉ trong
vòng 3 năm, từ 1966-1968 gần như toàn bộ xóm làng trên toàn huyện đều bị địch

SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH

Trang 11


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thanh Sinh

đánh phá hoang tàn, kể cả núi rừng sấm uất của Hòa Vang cũng bị bom đạn Mỹ
đánh phá trơ trụi. Nhân dân 4 vùng của Hòa Vang đều bị địch bắt vào các trại tập
trung vơi mưu đồ đánh mất chỗ dựa của cách mạng.
Sau 1975, Uỷ ban nhân dân Cách mạng Khu Trung bộ ra Quyết định số

Trang 12


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thanh Sinh

Có thể nói, Hòa Vang không chỉ là vùng đất có bề dày lịch sử, kiên cường
trong chiến đấu, cần cù trong lao động sản xuất mà còn là vùng đất có truyền thống
văn hóa lâu đời.
Hòa Vang đã trải qua nhiều nền văn hóa. Thời tiền sử, Hòa Vang có văn hoá
Bàu Dũ, văn hoá Sa Huỳnh, sau đó lại gắn liền với văn hoá Chăm của vương quốc
Chiêm Thành. Và văn hoá Chăm và văn hoá Việt đã có sưn giao lưu, hỗn hợp lẫn
nhau. Trên nền tảng truyền thống, cư dân Hoà Vang đã tiếp biến các tinh hoa văn
hoá Chăm và các nguồn văn hoá ngoại nhập tạo nên sức sống mới cho văn hoá nơi
đây. Làng xã Hoà Vang được thành lập từ sớm với nhiều nét cũng giống làng xã cổ
truyền của cư dân Việt phía Bắc.
Về ở, đầu thế kỉ XX, người Hoà Vang chủ yếu vẫn ở nhà tranh, vật liệu chủ
yếu là tre, 2 khu được tạo thành hai chái và một gian lợp tranh. Nhà thấp, nền cao,
đêm sụp cửa xuống, ngày cống củă lên làm phần hiên nhà. Ngày nay, người dân đã
bỏ cửa phên tre, dung loại cửa khép mở. Thời Pháp thuộc, một số gia đình giàu có
làm được nhà tường lợp ngói âm dương, sang trọng. Đến thời Mỹ xâm lược, vật liệu
lại thay bằng tôn, phên che bằng ván ngo, ván ép. Nay nhà cửa của người dân đã
khang trang đúc bằng bê tông cốt thép kiên cố.
Về đi lại, ngay từ khi vào Nam khai cơ lập nghiệp, các tộc họ ở Hoà Vang đi
bộ là chủ yếu, có khi đi ghe trên song Cổ Cò. Đường làm rất hẹp với một hệ thống
đường nông thôn chi thít. cắt dọc ngang thành nhiều làng xóm. Người ta đi lại chủ
yếu bằng chân đất. Nhà giàu có thể sắm được đôi guốc xà lan Xuân Dương hoặc
gốc tự đẽo bằng tre, bằng gỗ mức hoặc bằng các loại mo. Ngày nay, nhiều loại guốc
khác nhau bằng da bền đẹp, sang trọng. Phương tiện giao thông thì đa dạng, hiện

Những ngày lễ trọng, người ta lại mặc những chiếc áo dài cổ truyền bằng
chất liệu thao, đũi là chủ yếu. Ngày nay, thì trang phục của người dân Hoà Vang đã
khác, cũng như các vùng khác trong cả nước.
Hoà Vang là huyện có làng nghề thủ công truyền thống được hình thành khá
sớm. Một số làng nghề truyền thống hiện nay vẫn còn như: chiếu lát Cẩm Nê, nón
lá La Bông, bánh khô mè Cẩm Lệ,…
Lễ hội ở Hoà Vang cũng vô cùng phong phú. Các lễ hội đó gắn với lao động,
sản xuất, với sinh hoạt, với tín ngưỡng như lễ hội Mục Đồng làng Phong Lệ, lễ hội
Đâm trâu của người Cơtu, lễ hội tắt bếp làng Thái Lai, làng Trà Kiểm, lễ hội Đình
Làng Tuý Loan,…
Nhân dân Hoà Vang cũng có tín ngưỡng như người Việt trong cả nước, thờ
cúng ông bà tổ tiên, thờ Thành Hoàng,…Bên cạnh đó, học còn tiếp thu một số tín
ngưỡng của người Chăm như thờ Bà Mẹ xứ sở Bồn Xứ. Nhân dân Hoà Vang theo
bốn tôn giáo chính là Phật giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành và đạo Cao Đài. Trong
quá trình đó có sự kết hợp đan xen với văn hoá Chăm, Hoa, Phương Tây tạo nên
tính cách riêng cho Quảng Nam – Đà Nẵng nói chung và Hoà Vang nói riêng. Và
ngày nay, cư dân Hoà Vang đang ra sức xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá,
giáo dục, y tế,... để phát huy truyền thống xây dựng quê hương trong thời kỳ mới,

SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH

Trang 14


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thanh Sinh

để đóng góp nhiều hơn nữa cho sự nghiệp chung của thành phố Đà Nẵng nói riêng
và cả nước nói chung.

SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH

Trang 15


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thanh Sinh

Hòa Vang – Đà nẵng và ở vùng Tây Nam Thừa Thiên Huế (chủ yếu A Lưới, Nam
Đông). Đối với dân tộc Cơtu ở các thôn Tà Lang, Giàn Bí (xã Hòa Bắc) và Phú Túc
(xã Hòa Phú) của huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng. Người Cơtu không phải là
dân bản địa ở đó mà là sự đi cư từ vùng Tây Bắc Quảng Nam sang, chủ yếu vào thế
kỷ XIX. Đây là kết quả của lối sống hỏa canh truyền thống của người dân Cơtu và
dần dần họ đã định cư luôn ở đây do Hòa Vang có nhiều điều kiện tự nhiên thuận
lợi cho cuộc sống của họ. Còn về tổ tiên của người Cơtu nói chung và của người
Cơtu ở huyện Hòa Vang nói riêng thì đây là dân tộc có nguồn gốc lâu đời trên điểm
nối kết vùng bắc miền Trung với Tây Nguyên – nơi mà từ những thế kỷ đầu công
nguyên, các cảng biển đã trở thành những điểm giao lưu thương mại và nó đã trở
thành một địa bàn nhiều biến động.
Địa bàn cư trú của người Cơtu là một vùng núi non trùng điệp, phần lớn đỏ
theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Ngọn A Touat là ngọn núi cao nhất ở vùng này
(2500m). Khối núi ấy dựa vào cao nguyên Tahoi trải dài trên biên giới Việt – Lào
và cách sơn hệ phía bắc bởi các cao nguyên. Điểm sinh sống của người Cơtu tập
trung dọc triền dốc và thung lũng của sông Giằng, sông Cái và sông Bung.
Ở trong phạm vi nghiên cứu của người Cơtu Việt Nam hiện nay, có nhiều tác
giả cho rằng: vùng sinh sống của người Cơtu vốn ở vùng duyên hải và di chuyển
đến vùng đất hiện nay là do áp lực của tộc người Việt trong quá trình Nam Tiến.
Nhưng cũng có ý kiến cho rằng, việc di cư từ cận biển lên núi đó là do sự khắc
nghiệp của khí hậu ảnh hưởng đến việc trồng trọt. Trên thực tế, địa bàn cư trú của

người, được phân bố ở ba thôn: Tà Lang, Giàn Bí (xã Hòa Bắc) và Phú Túc (xã Hòa
Phú), các làng này tương đối độc lập về mặt địa lý và nằm ở những vùng núi non
khá hiểm trở.

SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH

Trang 17


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thanh Sinh

CHƯƠNG 2
CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN TỘC CƠTU CÓ THỂ KHAI THÁC ĐỂ
PHÁT TRIỂN DU LỊCH
Văn hóa là một khái niệm rộng. Văn hóa bao gồm tất cả các giá trị vật chất
và tinh thần do con người sáng tạo nên trong quá trình lịch sử. Đối với dân tộc Cơtu
huyện Hòa Vang thành phố Đà Nẵng, những giá trị văn hóa của họ không chỉ phong
phú, đa dạng mà còn đậm đà bản sắc từ văn hóa vật chất cho đến văn hóa tinh thần.
Tuy nhiên, những giá trị có thể khai thác để phục vụ du lịch không phải là tất cả, ở
đây chỉ bao gồm một số lĩnh vực thôi. Chẳng hạn, đối với văn hóa vật chất chúng ta
có thể khai thác ở các lĩnh vực như: ẩm thực, trang phuc, cư trú. Còn đối với văn
hóa tinh thần thì nổi bật nhất và là nguồn tài nguyên du lịch to lớn cho huyện và
thành phố đó là lễ hội. Những giá trị ấy đã tạo nên những nét riêng rất đặc trưng cho
cộng đồng dân tộc Cơtu nơi đây và chắc chắn nó sẽ để lại nhiều dư âm và ấn tượng
khó quên cho du khách khi đến với mảnh đất này.
2.1. Văn hóa vật chất
2.1.1. Ẩm thực
Ăn uống là nhu cầu tất yếu của con người để đảm bảo sự tòn tại và phát

các sản phẩm thu được từ săn bắn, hái lượm là nguồn thức ăn đóng vai trò quang
trọng. Từ thú rừng, chim muông, côn trùng, từ rễ, củ,than, lá, hoa,…tất cả đều đi
vào bữa ăn hằng ngày của người dân tạo nên những món ăn đặc trưng của đồng bào.
Với dân tộc Cơtu ở Hoà Vang, không phải là cư dân bản địa, với số lượng ít,
chỉ tập trung trên 3 thôn nhỏ trên địa bàn huyện của thành phố có nền kinh tế phát
triển tương đối cao thì người Cơtu ở đây luôn được sự quan tâm, đầu tư đúng mực.
Hiện nay, đời sống của họ đã được cải thiện rất nhiều với lối sống văn minh cũng
như sự giao thoa, gần gũi với người Kinh trên địa bàn huyện và thành phố. Do đó,
sản xuất cũng giống người Kinh. Tuy nhiên, sống trên địa bàn rừng núi, rừng đã trở
thành người bạn thân thiết với họ và gắn bó với cuộc sống của họ. Một thời gian dài
trong quá khứ, người Cơtu phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên.
Nguồn thực phẩm từ tự nhiên của người dân Cơtu được phản ánh rõ nét
trong cơ cấu bữa ăn, thức uống hằng ngày của họ. Hiện nay, họ vẫn duy trì loại hình
kinh tế săn bắn, hái lượm với các thực phẩm đặc trưng là chim, thú rừng, các loại
rau, củ, quả rừng.
Ngoài các động vật chăn nuôi đặc trưng, săn bắn đã mang lại nguồn thực
phẩm vô cùng quý giá của con người, góp phần cải thiện chất lượng bữa ăn cho họ.
Hằng ngày, các thanh niên trai tráng sẽ vào rừng sâu, săn bắn các loại thú, phổ biến
nhất là con mang, chủ yếu là phương thức đặt bẫy. Mang đựơc chế biến bởi nhiều
món ăn: nấu, hấp, nướng và còn được bán cho người Kinh. Nguồn thực phẩm từ
sông suối cũng rất phong phú với các loại cá, tôm, cua, ốc,…dùng dể kho, nấu canh,
nấu cháo. Cá lớn có thể nướng, loại bé thì để nấu canh hay làm mắm. Nói đến mắm,
đây cũng là một món ăn rất đặc trưng của người Cơtu. Tuy hiện nay nó không còn

SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH

Trang 19


Khóa luận tốt nghiệp

nấu canh cùng với cà chua… Ngoài ra, còn có măng, nấm cũng như là những thức
ăn rất quên thuộc của người Cơtu. Cùng với đó còn có một số loại củ phổ biến như:
củ mài, củ môn rừng, củ chuối,… Các củ này thường luộc lên rồi ăn hoặc thái nhỏ
để nấu canh.

SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH

Trang 20


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thanh Sinh

Đặc biệt, cây Tà Vạt cũng là một loại cây được người Cơtu ăn bằng cách lấy
nước. Hiện nay, Tà Vạt là một loại cây có vai trò quang trọng đối với đồng bào
Cơtu.
Ngoài các loại rau, củ, hạt vừa nêu, trái dại cũng là món ăn ưa thích của đồng
bào Cơtu với một hệ trái rất phong phú như: chôm chôm, khế rừng, bây, mơ xiêng,
…Những loại quả này một thời làm vai trò thay thế lương thực khi khó khăn, khan
hiếm hay khi đi rừng của người dân Cơtu. Ngày nay, chúng là những loại quả ưa
thích của trẻ nhỏ.
* Nguồn thực phẩm từ lao động:
Ngoài những thực phẩm bổ sung từ tự nhiên nói trên, cái ăn hằng ngày của
người dân Cơtu ngày nay vẫn chủ yếu là các sản phẩm từ bàn tay lao động: lúa,
ngô, khoai, sắn,… Ngày nay, với cuộc sống định canh, định cư cùng với sự quan
tâm của Đảng và Nhà nước, của UBND huyện, thành phố với việc đầu tư vốn, kỹ
thuật vào quá trình sản xuất nên nguồn thực phẩm từ bàn tay lao động đã đáp ứng
được khá đầy đủ cuộc sống của người dân Cơtu.
Cũng như người Kinh, người Cơtu ở Hòa Vang cùng trồng lúa nước. Nhưng

Nước uống thường nhật của người Cơtu là nước sôi, nước trà như người
Kinh, nhưng ngoài ra còn có thêm các loại nước uống được nấu từ các loại lá cây
đặc trưng như nước ổi, nước gu (nấu từ cây gỗ gõ), nước Apất (nấu từ cây mâm
xôi), nước Zơ rương, cây bo bo,…Hầu hết các loại nước này vừa để uống vừa để
chữa bệnh thông thường như đau bụng hay để bồi bổ sức khỏe.
Những loại thức uống mang tính chất đặc trưng, độc đáo của dân tộc Cơtu
nói chung và dân tộc Cơtu huyện Hòa Vang nói riêng, đó là và những thứ nước giải
khát.
Rượu có nhiều loại, được nấu từ các nguyên liệu khác nhau như: gạo, nếp,
ngô, khoai, sắn hay các loại rễ, vỏ cây tạo men. Rượu rất phổ biến trong sinh hoạt
và trong đời sống hàng ngày của người Cơtu, đặc biệt là trong các lễ hội. Trong đó,
đồng bào rất thích rượu cần và rượu Tà Vạt.
Tà Vạt là loại cây thân thiết với người Cơtu. Nước cây tiết ra màu vàng nhạt,
vị ngọt, mát, được chứa trong ống tre và có thể dùng như một thú nước giải khát.
Nếu chúng được ngâm với vỏ cây chuồn sau khoảng 1 – 2 giờ thì nước Tà Vạt sẽ
trở thành một nước uống có men. Còn với rượu cần, đây cũng là thứ rượu không thể
thiếu trong các nghi lễ, lễ hội. Nguyên liệu để làm rượu cần là sắn hoặc nếp trộn với
men và vỏ trấu cho vào ché, ủ kĩ rồi để khoảng 10 ngày là uống được. Do nồng độ
rượu thấp và mang tính hàn nên có thể dùng như một thứ nước giải khát về mùa hè.
2.1.1.3. Một số đặc sản
* Kdal um:
Kdal là một ấu trùng của một loại ấu trùng của loại ve sầu núi trước khi trở thành chú ve, có
thân bằng ngón tay út người lớn, màu trắng ngà, hoặc trắng xanh, đầu và răng cứng, có hai cái răng
nằm ngang, sống ở các bãi bồi ven sông hoặc tại các vùng đất pha các và nhiều lá mục. Đào được Kdal,
nếu không biết xử lý ngay thì bị mất phẩm chất.

Khi đào được nó, phải nha nh chóng

dùng tay phải nắm đầu, tay trái dùng móng tay xé


tối, không khí ở miền núi thường rất mát mẻ. Vì vậy, hàng đàn mối dày đặc từ tổ
chui ra với đôi cánh mỏng, bay lấp lánh, chập chờn trong bóng hoàng hôn, tụ vào
những nơi có ánh sáng. Người dân gọi nhau bắt mối, dí dỏm trêu đùa: “Con ơi bắt
mối đem rang /Nhanh tay không kẻo mối sang nhà người”.
Công đoạn bắt mối chỉ diễn ra nhanh chóng trong khoảng nửa giờ. Thường ở
những vùng có điện, khi phát hiện có mối, đồng bào lập tức tắt các bóng trong nhà
và chỉ để lại một bóng duy nhất giữa sân, thu hút mối. Dưới bóng điện người Cơtu
để một chậu nước để bẫy mối.
Đối với những vùng chưa có điện, khi phát hiện có mối đang bay ra, người ta
thắp một cây đèn dầu, hoặc đèn cầy, cắm giữa cái thau lớn đặt ở nơi thuận tiện
ngoài sân, trong thau đổ nước ngập một phần cây đèn. Mối thấy ánh sáng, mối cùng
nhau sà xuống, gặp nước, ướt cánh chúng không bay lên được nên nằm lại trong
thau. Khi thau nhiều mối thì vớt bỏ vào bao nilon.
Sau khi đã bắt mối, đồng bào Cơtu dùng nước suối rửa nhẹ nhàng và nhiều
lần cho sạch rồi vớt ra một để ráo nước. Mối thành phẩm còn nguyên cánh mỏng,
thân dài khoảng 1 cm, bụng lớn bằng sợi bún tươi, có viền đen quanh thân màu
vàng nâu, ngực và đầu.

SVTH: Nguyễn Thị Hoài My – Lớp K13VNH

Trang 23


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thanh Sinh

Chế biến mối hết sức đơn giản. Chảo được đặt lên bếp chờ đến khi nóng đều
thì cho mối, nêm thêm muối vào, đảo tới khi mối có mùi thơm và những tiếng nổ lẹt
đẹt nho nhỏ là đã chín. Lúc này, người Cơtu đổ mối ra mẹt, lấy các ngón tay đảo


Trang 24


Khóa luận tốt nghiệp

GVHD: Nguyễn Thanh Sinh

ngày càng nhiều và béo mập. Trước Tết khoảng 10 ngày, họ mang bẫy kẹp lên vị trí
này để gài bẫy bắt chuột rừng về dự trữ ăn Tết. Trung bình, mỗi người gài khoảng
vài trăm bẫy. Sau đó, mỗi ngày từ sáng họ lên rừng để thu hoạch chuột mắc bẫy. Có
người bắt được tới vài chục con chuột một lần đi thăm bẫy.
Chuột làm sạch rồi nhét chuột vào ống nứa tươi, sau đó lấy rau môn dóc (a
zóc - là loại rau dại mọc rải rác trong rừng, trông gần giống các loại khoai môn
nhưng lá dài và nhỏ hơn) cuộn lại và nhét sâu vào ống để bịt miệng lại nhằm tạo
thêm hương vị thơm tho cho món ăn, cho ít muối vào ống. Sau đấy, cầm ống nứa hỏ
trên lửa, trở qua trở lại để nướng, khi ống nứa bắt đầu nám đen là được.
Sau khi biết chắc chuột đã chín, dùng dao tách hai ống nứa để lấy chuột và
rau ra. Mùi chuột nướng hòa quyện với rau môn dóc thơm ngào ngạt. Sau khi bỏ
thịt chuột đã nướng ra đĩa, món chuột nướng chấm với muối tiêu rừng (a mất).
Món này rất ngon và thú vị vì thịt có mùi thơm đặc trưng, vị ngọt, xương dòn.
Ngày Tết, đồng bào Cơtu có thể chế biến nhiều món ăn từ chuột rừng như:
chuột hầm đu đủ, chuột xào măng, chuột nấu "giả cầy", chuột nướng trực tiếp trên
than hoa, chuột kho mặn dậy mùi thơm quyến rũ…
* Rượu Tà Vạt:
Đó là loại rượu lấy chất dịch thơm, ngọt từ buồng trái của cây Tà Vạt, cho
lên men, uống rất thơm ngon và bổ dưỡng. Rượu có vị ngọt, đắng nhẹ, cay cay làm
tê tê đầu lưỡi, là loại rượu “khai vị” không thể thiếu trong các lễ hội, ngày Tết của
đồng bào dân tộc Cơtu.
Quy trình sản xuất rượu Tà Vạt khá phức tạp. Thường thường, mỗi cây Tà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status