Văn hóa vật chất của người Cơ tu ở xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 51

s

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ NGỌC TRINH

VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI CƠ TU Ở XÃ HÒA BẮC,
HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC

Hà Nội - 2018


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ NGỌC TRINH

VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI CƠ TU Ở XÃ HÒA BẮC,
HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Ngành: Việt Nam học
Mã số: 8.31.06.30

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THỊ MAI AN

Hà Nội - 2018


VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI CƠ TU TẠI XÃ HÒA BẮC, HUYỆN HÒA
VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .................................................................... 48
3.1. Thực trạng biến đổi văn hóa vật chất của người Cơ tu tại xã Hòa Bắc, huyện
Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng ............................................................................ 48
3.2. Nguyên nhân biến đổi văn hóa vật chất của người Cơ tu tại xã Hòa Bắc, huyện
Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng ............................................................................ 56
3.3. Thực trạng và giải pháp bảo tồn văn hóa vật chất của người Cơ tu tại xã Hòa
Bắc, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng ......................................................... 60
3.3.1. Thực trạng bảo tồn ..................................................................................... 60
3.3.2. Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật chất của
người Cơ tu tại xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. .................. 63
KẾT LUẬN ......................................................................................................... 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 75


DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
GĐ:

Giám đốc

Nxb:

Nhà xuất bản

TS:

Tiến sĩ

UBND:


hóa chung của dân tộc Việt. Trong nhiều năm qua, việc nghiên cứu văn hóa tộc người
được các nhà khoa học thuộc Việt Nam học nói riêng và các ngành khác thuộc lĩnh
vực khoa học xã hội rất chú trọng.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa đất nước đang diễn ra mạnh mẽ
như hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều không ngừng giao lưu gia tăng sự hội
nhập trên mọi khía cạnh đời sống kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa. Cùng với xu thế
đổi mới đó là sự kéo theo những biến đổi mang tính tất yếu của nhiều lĩnh vực, văn
hóa dân tộc Việt Nam nói chung và văn hóa các tộc người thiểu số nói riêng cũng
đang phải trải qua một quá trình đổi mới và hầu hết đều chịu các tác động nhiều chiều
qua lại của xu thế này. Trong thực tế ấy, quá trình tiếp thu và tiếp biến văn hóa để
phù hợp với Hoàn cảnh mới sẽ có khả năng dẫn đến sự mai một văn hóa tộc người.
Đặc biệt, đối với dân tộc thiểu số, văn hóa của họ dễ bị biến đổi hơn do các yếu tố
tác động từ kinh tế thị trường, đô thị hóa…; sự biến đổi này phụ thuộc vào mức độ
giao lưu giữa các tộc người, mức độ diễn tiến đô thị hóa, hiện đại hóa ở các khu vực;
trong đó dễ dàng nhận thấy là môi trường ở khu vực càng gần trung tâm thành phố
càng làm thúc đẩy sự biến đổi hơn. Tộc người Cơ tu ở thành phố Đà Nẵng là một
trường hợp thực tế như vậy.
Đà Nẵng là vùng đất có bề dày lịch sử - văn hóa. Hòa trong dòng chảy văn
hóa cùng với đất mẹ Quảng Nam, nơi đây mang trong mình nhiều giá trị văn hóa đặc
sắc, trong đó văn hóa đồng bào Cơ tu ở khu vực phía Tây thành phố là một ví dụ.
Với dân số hơn 1000 người, tập trung chủ yếu ở ba thôn trên hai xã thuộc huyện Hòa
Vang - một huyện ngoại thành của Đà Nẵng. Cộng đồng Cơ tu ở thành phố Đà Nẵng
tuy có số lượng ít nhưng lại là một minh chứng cho thấy quá trình tộc người của dân
tộc này ở Việt Nam. Những giá trị văn hóa hiện có của cộng đồng đã góp phần làm
cho bản sắc văn hóa của thành phố Đà Nẵng thêm đa dạng, đặc sắc.

1


Trong bối cảnh hội nhập, đô thị hóa như hiện nay, văn hóa của người Cơ tu

2


cuộc khai thác thuộc địa của người Pháp ở Đông Dương, và thời kỳ đế quốc Mỹ xâm
lược, có không ít các độc giả nước ngoài (chủ yếu là Pháp) đã để tâm nghiên cứu và
công bố những công trình về người Cơ tu được nhiều người biết đến như Louis
Bezacier (1912) với tác phẩm "Interpretation du tatouage frontal des Moi (Ghi
chép về người mọi Katu); Le Pichon (1938) với Les chasseurs de sang (Những
người săn máu/Những kẻ săn đầu); Nancy A. Costello (1972) với Socially Approved
Homicide among the Katu...; hay các tác giả khác như Georges Coedes, J. Hoffet,
Janet Hoskins, Robert Mole... cũng có sự quan tâm đến cộng đồng này ở Việt Nam.
Các bài viết/tác phẩm trên chủ yếu đề cập đến các tiêu chí phân lập cư trú, nguồn gốc
tên tự gọi, ngôn ngữ, và tín ngưỡng tộc người... Đáng lưu ý là sự ảnh hưởng trong
bài viết của Le Pichon về tục xăm mình và tục săn đầu người của người Cơ tu đến
học giả và các đọc giả thời kỳ này như L. Bezacier (1951); M. Murphy và Marilou
Fromme (1967); A. Thomas Krish, 1973); Janet Hoskin (1996); R. Mole (1970); G.
Hickey (1993); Nancy Costello (2002)... Cách viết miêu tả một tục lệ đã bị loại bỏ của
đồng bào như một đặc trưng văn hóa đầy ấn tượng đã tạo nên cái nhìn “không mấy thiện
cảm” về tộc người Cơ tu, khiến dân tộc này từng bị xem là đối tượng quá hiếu chiến,
man rợ với hủ tục khát máu đầu người [48].
Trong bài viết Sơ lược giới thiệu dân tộc Ka-tu tác giả Ngọc Anh được đăng
trên tập san Dân Tộc 16 (năm 1960) đã cung cấp cái nhìn sơ lược nhưng bao quát
khắp các khía cạnh văn hóa tộc người Cơ tu. Từ việc giải thích nguồn gốc tộc người,
phương tiện cư trú, đặc điểm nhân chủng, ngôn ngữ, phương thức sản xuất, phân tầng
xã hội ba lớp người, vai trò của các nhân vật lãnh đạo trong làng, những phong tục
tập quán cho đến tinh thần mạnh mẽ chống đối thực dân xâm lược của tộc người.
Những phác thảo của bài viết trên tuy chỉ là sơ lược nhưng lại là khảo cứu đầu tiên
về người Cơ tu trên diễn đàn khoa học xã hội Việt Nam.
Từ sau năm 1975 đến nay, được sự khuyến khích bởi chính sách dân tộc của
Đảng và Nhà nước, việc nghiên cứu lịch sử-văn hóa các dân tộc trên đất nước ta được

hơn về văn hóa tộc người Cơ tu.
Những năm về sau 2004, 2005, 2006, 2007, những công trình nghiên cứu về
người Cơ tu càng rõ nét hơn, tiêu biểu phải kể đến cuốn Katu kẻ sống đầu ngọn
nước; Văn hóa làng miền núi Trung bộ Việt Nam: giá trị truyền thống và những
bước chuyển lịch sử (dẫn liệu từ miền núi Quảng Nam) của tác giả Nguyễn Hữu
Thông, Văn hóa người Cơ-tu của tác giả Lưu Hùng. Trong cuốn “Nhà Gươl của
người Cơ tu (Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội, năm 2006) tác giả Đinh Hồng

4


Hải, qua việc mô tả kiến trúc Gươl và các lễ hội văn hóa của người Cơ tu đã chỉ ra
những khía cạnh đời sống tinh thần của người Cơ tu ở Quảng Nam. Đây là 4 công
trình rất có giá trị miêu tả về toàn bộ hoạt động sinh hoạt văn hóa của tộc người. Nếu
như tác giả Nguyễn Hữu Thông mạnh về việc lý giải tên gọi/tộc danh, về việc đặt lại
sự hiện diện và diễn trình di trú, cũng như vai trò của nhóm Katuic và tộc người Katu
(chữ dùng trong sách của tác giả) trong lịch sử văn hóa của cư dân miền Trung, mổ
xẻ những cung bậc chuyển biến trong văn hóa làng của người Cơ tu thì nhà nghiên
cứu Lưu Hùng lại có thế mạnh về việc khảo tả các đặc trưng văn hóa phi vật thể và
văn hóa vật thể tộc người... Ngoài ra còn có công trình luận án tiến sỹ “Nghề dệt và
trang phục cổ truyền của dân tộc Cơ tu Quảng Nam” được bảo vệ năm 2009 tại
Viện nghiên cứu văn hóa của Trần Tấn Vịnh, tác giả đã tổng quan về người Cơ tu,
mô tả chi tiết về nghề dệt cổ truyền và trang phục cổ truyền của dân tộc Cơ tu, nghệ
thuật trang trí và hệ biểu tượng trong trang trí hoa văn trên y phục người Cơ tu. Qua
đó tác giả đã đưa ra những kiến nghị nhằm bảo tồn và phát huy nghề dệt và trang
phục Cơ tu. Có thể nói rằng, trên đây là những công trình công phu và hoàn chỉnh
bước đầu cung cấp một bức tranh tương đối toàn diện và sâu sắc về lịch sử, đời sống
và văn hóa của người Cơ tu: tộc người có vị trí cư trú quan trọng và vốn văn hóa
phong phú ở khu vực Trung và địa đầu Nam Trường Sơn.
Như vậy, với chiều dài của lịch sử nghiên cứu vấn đề, người Cơ tu ở Việt

và hạn chế của sự biến đổi văn hóa vật chất trong quá trình hội nhập, phát triển đô
thị hóa ở thành phố Đà Nẵng.
- Rút ra những vấn đề từ thực tế, nhằm đưa ra những giải pháp bảo tồn các giá
trị văn hóa vật chất truyền thống của đồng bào dân tộc Cơ tu tại xã Hòa Bắc, huyện
Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng sao cho phù hợp với sự phát triển chung nhưng vẫn
giữ được những giá trị riêng của văn hóa tộc người.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các khía cạnh của giá trị văn hóa vật chất: làng, nhà cửa, ẩm thực, trang phục,
phương tiện đi lại, công cụ lao động sản xuất… và sự biến đổi của nó của cộng đồng
người Cơ tu ở xã Hòa Bắc huyện Hòa Vang trong quá trình phát triển hội nhập, đô
thị hóa hiện nay.

6


4.2. Phạm vi nghiên cứu
Những vấn đề liên quan đến đời sống văn hóa vật chất của cộng đồng người
Cơ tu đang sinh sống ở thôn Tà Lang và Giàn Bí, xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang,
thành phố Đà Nẵng từ năm 1980 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành trên nền tảng khu vực học: Đây là
phương pháp cơ bản để thực hiện nghiên cứu đối tượng trong một không gian văn
hóa, không gian phát triển. Có thể nói, với phương pháp nghiên cứu này có thể giúp
xác định luận văn là một công trình nghiên cứu thuộc mã ngành Việt Nam học.
- Phương pháp khảo sát, thu thập tư liệu
Để hoàn thành luận văn, chúng tôi chủ yếu dựa vào các nguồn tư liệu sau:
+ Tài liệu thành văn: Các sách chuyên ngành về Dân tộc học, Việt Nam học, các
bài hội thảo khoa học, các bài nghiên cứu của các tác giả trên báo, tạp chí khoa học về
lĩnh vực văn hóa - xã hội và các báo cáo, tư liệu khảo sát tại địa bàn nghiên cứu.

huyện Hòa Vang, Thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Thực trạng biến đổi và giải pháp bảo tồn văn hóa vật chất của
người Cơ tu tại xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

8


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI CƠ TU Ở
XÃ HÒA BẮC, HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
1.1. Khái niệm và cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm trong nghiên cứu
- Khái niệm tộc người
Theo nghĩa hẹp, tộc người là một cộng đồng người có chung tiếng mẹ đẻ.
Hiểu như vậy, tộc người sẽ tương đương với nhóm ngôn ngữ hay với nhóm dân tộc
- ngôn ngữ mà các nhà ngôn ngữ học gọi là nhóm nói tiếng mẹ đẻ. Theo nghĩa đó,
tộc người cũng là dùng để chỉ những tập hợp người khá thuần nhất, sống cạnh nhau
và có chung các đặc điểm về văn hóa mà trong đó yếu tố biểu hiện rõ nhất là việc sử
dụng một ngôn ngữ. Nhưng, vấn đề đặt ra là, có rất nhiều cá nhân sống đây đó trên
thế giới có cùng một ngôn ngữ mẹ đẻ song lại cách xa nhau về nhiều mặt, như về
mặt địa lý (giữa các châu lục), về mặt lịch sử (thuộc nhiều quốc gia khác nhau), về
mặt chủng tộc (thuộc các nguồn gốc khác nhau)… thì liệu họ có cùng một tộc người
không, hay họ là những tộc người khác nhau có cùng một ngôn ngữ, hoặc là một tộc
người được chia ra làm nhiều tộc người nhỏ…? Đây là vấn đề khó vẫn đang đòi hỏi
các học giả cần quan tâm nghiên cứu, giải thích nhiều hơn.
Theo nghĩa rộng, tộc người là một cộng đồng người liên kết với nhau bởi một
phức hợp các tính chất chung về các mặt: nhân chủng, ngôn ngữ, chính trị… Sự kết hợp
các tính chất đó tạo thành một hệ thống riêng, một cấu trúc mang tính văn hóa chủ yếu
- một nền văn hóa riêng biệt. Nói một cách ngắn gọn, tộc người là một tập thể hay đúng
hơn, là một cộng đồng người, được gắn bó với nhau bởi một nền văn hóa riêng biệt.

Có nhiều quan niệm về sự biến đổi văn hóa dựa trên nhiều khía cạnh, như ở
phạm vi rộng: đó là một sự biến đổi một phần hay hoàn toàn mới được so sánh với
một nếp sống hay một nền văn hóa tộc người đã được hình thành trước đó; hoặc trong
phạm vi hẹp: biến đổi trong văn hóa là sự thay đổi những giá trị văn hóa đặc trưng,
các thành tố văn hóa vật chất hoặc tinh thần của văn hóa tộc người đó, và sự biến đổi
này tạo nên sự ảnh hưởng sâu sắc đến hầu hết các mặt đời sống của các thành viên
trong một xã hội.
Như vậy có thể thấy rằng: Biến đổi văn hóa là một quá trình, biểu hiện thông
qua nhiều phương diện: phát triển kinh tế xã hội, phục hưng văn hóa truyền thống,
hoạt động tôn giáo, phát triển truyền thông đại chúng, giao lưu văn hóa, qua đó những

10


khuôn mẫu trong phong tục, tập quán truyền thống có sự tiếp biến theo thời gian và
theo nhiều cấp độ khác nhau.
Và dù có các luận giải khác nhau về nguyên nhân biến đổi cũng như định
nghĩa của nó, có thể thống nhất đề cao mặt tích cực của sự biến đổi trong tình hình
phát triển chung của sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội; nhưng cũng không xem
nhẹ các yếu tố tiêu cực, kém bền vững nảy sinh trong quá trình ấy vì vấn đề bảo tồn
các giá trị truyền thống đặc trưng là điều cơ bản cần thiết để phân biệt giữa các tộc
người. Cơ bản, biến đổi là sự vận động/ tự chuyển mình một cách tất yếu cho phù
hợp/ thích ứng với mọi điều kiện mới của xã hội, lịch sử.
- Khái niệm văn hóa
Văn hóa là sản phẩm của con người, nhờ có văn hóa mà con người trở nên
độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt so với những con vật khác trong thế giới
động vật. Tuy nhiên, để hiểu về khái niệm “văn hóa” đến nay vẫn còn nhiều ý kiến
khác nhau, do vậy cũng có nhiều những định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Năm 1952, A.L. Kroeber và Kluckhohn xuất bản quyển sách “Culture, a
critical review of concept and definitions” [Văn hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê phán

đến đời sống con người. Phạm Văn Đồng cho rằng “Nói tới văn hóa là nói tới một
lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên
nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình
con người làm nên lịch sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình
cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới
từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng
và sức chiến đấu bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [64, tr.22]. Theo định nghĩa
này thì văn hóa là những cái gì đối lập với thiên nhiên và do con người sáng tạo nên
từ tư tưởng tình cảm đến ý thức tình cảm và sức đề kháng của mỗi người, mỗi dân
tộc.
Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả ở
nước ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa văn hóa do
UNESCO đưa ra vào năm 1994. Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa:
nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức hệ - tổng hợp
các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên
bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn
hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ
bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”; còn

12


hiểu theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi
phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù
riêng…” [35, tr.314].
Nhìn chung, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất đa dạng. Mỗi định nghĩa
đề cập đến những dạng thức hoặc những lĩnh vực khác nhau trong văn hóa. Như định
nghĩa của Tylor và của Hồ Chí Minh thì xem văn hóa là tập hợp những thành tựu mà
con người đạt được trong quá trình tồn tại và phát triển, từ tri thức, tôn giáo, đạo đức,
ngôn ngữ, đến âm nhạc, pháp luật… Còn các định nghĩa của F. Boas, tổ chức

cấp, phân tầng xã hội. Ba là, chuyển đổi từ lối sống phân tán (mật độ dân cư thưa)
sang sống tập trung (mật độ dân cư rất cao). Bốn là, chuyển từ lối sống nông thôn
sang lối sống đô thị [42, tr.17].
Xem xét bản chất của đô thị hóa, Kammeyer và cộng sự cho rằng: Đô thị hóa
và công nghiệp hóa được nhìn nhận như là những trụ cột của hiện đại hóa. Đô thị hóa
chỉ ra quá trình chuyển đổi của sức sản xuất, đặc biệt nó đưa đến sự chuyển đổi công
nghệ để thúc đẩy hoạt động sản xuất. Đô thị hóa mặt khác liên quan tới quá trình tập
trung dân số ở những khu vực nhất định, các trung tâm đô thị, nơi có sự di dân ồ ạt
từ làng và các cộng đồng nông thôn, nơi tập trung các hoạt động kinh tế, tổ chức
quản lý và quyền lực chính trị [72, tr.671].
Dù tiếp cận dưới những chiều cạnh khác nhau, song sự tương đồng dễ dàng
nhận thấy giữa các nhà nghiên cứu khi bàn về đô thị hóa là nói đến quá trình chuyển
đổi, rút ngắn khoảng cách giữa khu vực nông thôn với đô thị cùng các biểu hiện đặc
thù như: các khuôn mẫu văn hóa đô thị ngày càng trở nên phổ biến, lấn át dần các
khuôn mẫu văn hóa nông thôn truyền thống; sự chuyển dịch mạnh mẽ về lao động
nông thôn từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp; sự di cư từ nông thôn vào thành
thị... và kéo theo đó là sự xáo trộn, biến chuyển trên hầu hết các phương diện của đời
sống kinh tế, xã hội cũng như văn hóa.
1.1.2. Cơ sở lý luận về biến đổi văn hóa tộc người
Theo cách hiểu rộng, biến đổi văn hóa là một thay đổi so sánh với một tình
trạng văn hóa hay một nền văn hóa có trước dưới sự tác động của những nhân tố
khách quan hay chủ quan. Trong một phạm vi hẹp hơn, người ta cho rằng sự biến
đổi văn hóa được đề cập đến là sự biến đổi về cấu trúc của văn hóa, về các thành tố
của văn hóa và các giá trị văn hóa [6, tr.36]. Theo tác giả Nguyễn Duy Bắc, biến đổi
văn hóa là sự thay đổi các phương thức sản xuất, bảo quản, truyền bá các sản phẩm và
thay đổi các giá trị văn hóa phù hợp với những biến đổi về chính trị, kinh tế, xã hội ở

14




15


Là một trong số các đối tượng nghiên cứu quan trọng của Việt Nam học, biến
đổi văn hóa được xem như kết quả của quá trình vận động xã hội. Khái niệm biến
đổi văn hóa chỉ sự thay đổi của các cơ chế trong một cấu trúc văn hóa cho trước,
được đặc trưng bởi sự thay đổi nội hàm thành tố văn hóa cụ thể.
Biến đổi văn hóa được các nhà khoa học khởi xướng thuyết Tiến hóa luận như
Edward B. Taylor hay L. Morgan đề cập đến từ thế kỷ XIX khi họ phân chia xã hội
theo thứ bậc đơn tuyến và có chung một mẫu hình biến đổi xã hội cũng như biến đổi
văn hóa. E. Taylor cho rằng: “Sự phát triển tiến bộ tiến hóa của các nền văn hóa là
xu hướng chính trong lịch sử loài người. Xu hướng phát triển này là rất hiển nhiên,
vì rằng có nhiều dữ kiện theo tính liên tục của nó có thể sắp xếp vào một trật tự xác
định, mà không thể làm ngược lại” [8, tr.53]. Theo các nhà tiến hóa luận, biến đổi
văn hóa có một mô hình chung, đó là ở những nền văn hóa ngoài phương Tây được
nhìn nhận “kém văn minh”, sự biến đổi văn hóa diễn ra chậm chạp, đối ngược với
văn hóa phương Tây năng động và biến đổi nhanh. Các giai đoạn hiện tại của văn
hóa đã tiến hóa lên từ các giai đoạn sớm hơn. Mô hình tiến hóa đơn tuyến về sự phát
triển và biến đổi văn hóa này đã bị phản đối rộng khắp trong giới khoa học và là tiền
đề dẫn đến sự ra đời và phát triển của khá nhiều lý thuyết mới cuối thế kỷ XIX, đầu
thế kỷ XX.
Cuối thế kỷ XIX, thuyết Truyền bá văn hóa ra đời và phát triển phổ biến ở các
nước Âu - Mỹ. Các đại biểu của xu hướng này như G. Elliot Smith, W. Rivers... cho
rằng vấn đề mấu chốt của biến đổi văn hóa là sự vay mượn hoặc truyền bá/khuếch
tán các đặc trưng văn hóa từ một xã hội này sang một xã hội khác [39]. Cũng trong
khoảng thời gian cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đã xuất hiện một số lý thuyết khác
có liên quan đến biến đổi văn hóa như: Thuyết tương đối văn hóa (đại diện là Franz
Boas) phản đối thuyết Tiến hóa văn hóa khi cho rằng quá trình lịch sử loài người và
hướng chung của sự biến đổi văn hóa ngày càng trở nên không còn là một vấn đề về

Trang Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (2009) của Nguyễn Thị
Phương Châm [53], [41], [20], [57], [46], [11],… Công trình Sự biến đổi các giá trị văn
hóa trong xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay (2008) của Nguyễn Duy
Bắc. Đáng chú ý trong công trình của Nguyễn Duy Bắc, ông cho rằng: “Biến đổi văn
hóa chính là quá trình thay đổi các phương thức sản xuất, bảo quản, truyền bá... các sản
phẩm và các giá trị văn hóa phù hợp với những biến đổi về chính trị, kinh tế, xã hội ở
những thời kỳ nhất định trong sự phát triển của các quốc gia dân tộc và nhân loại” [6,
tr.36]. Công trình này nhận định bốn nhân tố tác động đến biến đổi văn hóa bao gồm: sự

17


vận động và phát triển của đời sống kinh tế - xã hội; nhân tố tư tưởng, chính trị; kỹ thuật
và công nghệ mới; giao lưu văn hóa.
Các lý thuyết, quan điểm khác nhau được minh hoạ ở trên có đã cho chúng tôi
những cách tiếp cận/luận giải không giống nhau về tác nhân biến đổi, đòi hỏi phải
xem xét từ nhiều góc độ để có câu trả lời thấu đáo về tính đa diện của hiện tượng/quá
trình biến đổi văn hóa. Thiết nghĩ, sự vận động và biến đổi văn hóa của một xã hội
là do các nhân tố cơ bản sau:
(1) Những biến đổi của đời sống kinh tế - xã hội, thể hiện qua những chính
sách đầu tư phát triển, về môi trường sống, về phương pháp, cách thức sản xuất, về
nhu cầu nhận thức, giáo dục của con người nhằm đáp ứng đòi hỏi của trình độ phát
triển xã hội.
(2) Điều kiện về kỹ thuật và công nghệ mới. Đây là một tác nhân cơ bản dẫn
đến biến đổi văn hóa. Trong cuộc sống, kỹ thuật công nghệ mới góp phần làm thay
đổi trình độ nhận thức, tạo sự phát triển của sản xuất vật chất, có ảnh hưởng trực tiếp
đến tính chất hoạt động của xã hội.
(3) Sự giao lưu văn hóa: Khi một cộng đồng tiếp xúc với một cộng đồng khác,
có thể diễn ra, hai quá trình đó là truyền bá văn hóa và tiếp biến văn hóa. Truyền bá
văn hóa là quá trình mà các yếu tố văn hóa được vay mượn từ một xã hội khác hội

Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanma đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua hành
lang kinh tế Đông Tây với điểm kết thúc là cảng biển Tiên Sa. Nhờ biết tận dụng vị
trí thuận lợi này, Đà Nẵng đã sớm có những bước đô thị hóa nhanh chóng, vượt bậc.
Trong những năm gần đây, quá trình đô thị hóa ở Đà Nẵng đã lan rộng ra
các huyện ngoại thành, đặc biệt là huyện Hòa Vang, một huyện ngoại thành duy nhất
nằm trên vùng đất liền của thành phố được nối bởi một hệ thống giao thông tương
đối thuận lợi. Nhiều con đường liên xã, liên huyện và liên tỉnh đã được mở rộng như
quốc lộ 1A, đường giao thông huyết mạch Bắc - Nam chạy từ Cầu Đỏ qua các xã
Hòa Châu và Hòa Phước; quốc lộ 14B chạy qua các xã Hòa Khương, Hòa Phong,
Hòa Nhơn nối Quảng Nam với Đà Nẵng; tuyến đường tránh Nam Hải Vân đi qua
các xã Hòa Liên, Hòa Sơn, Hòa Nhơn; các tuyến đường ĐT 601, 602, 604, 605 do
thành phố quản lý và hệ thống các tuyến đường giao thông liên huyện và liên xã.
Xã Hòa Bắc được thành lập năm 1981, nằm ở phía tây bắc huyện Hòa
Vang, có vị trí địa lý hành chính giáp với xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang ở phía
nam, giáp với quận Liên Chiểu ở phía đông. Ngoài ra, Hòa Bắc còn tiếp giáp hai
huyện Nam Đông và Phú Lộc (tỉnh Thừa Thiên Huế) ở phía bắc và huyện Hiên

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status