Đời sống sản xuất vật chất của đồng bào raglai ở xã phước đại, huyện bác ái, tỉnh ninh thuận trong bối cảnh đô thị hóa - Pdf 41

TÁC GIẢ: Nguyễn Thị Kim Thanh (CN)
Lưu Vĩ Phú
Nguyễn Thị Chi Lê
Nguyễn Hồng Ngọc
Nguyễn Phương Yến Thảo

Tóm Tắt
Phước Đại là một xã miền núi, vùng cao trực thuộc huyện Bác Ái, tỉnh Ninh
Thuận. Đây được xem là trung tâm hành chính của huyện Bác Ái, vì vậy Phước Đại có
vị trí quan trọng về phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường và quốc phòng an ninh
đối với toàn huyện.
Gần m ười năm trở lại đây, trong bối cảnh đô thị hoá, bộ mặt kinh tế- xã hội
cũng như tình hình sản xuất vật chất của đồng bào dân tộc Raglai nơi đây đã thay đổi
khá nhiều.
Tính từ năm 2005 đến nay, các chương trình 134, 135 của Chính phủ đã đầu tư
cho việc phát triển kết cấu hạ tầng, hỗ trợ sản xuất, hỗ trợ cho công tác khuyến nông, đầu
tư xây dựng các công trình thủy lợi như hồ Sông sắt, các hồ nhỏ, đường giao thông nhằm
làm xoá đi phần nào những khó khăn thiếu thốn mà đồng bào dân tộc nơi này đã phải
chịu đựng trong rất nhiều năm qua.
Nhờ đó, tình hình sản xuất và đời sống vật chất của đồng bào Raglai đã được nâng lên rõ
rệt. Sự thay đổi này được thể hiện rõ nhất ở các mặt sau:
Nông nghiệp
Quá trình sản xuất ưồng trọt của đồng bào nơi này đã có nhiều thuận lợi hơn so
với nhiều năm trước. Bà con đã nhận được rất nhiều hỗ trợ của Nhà nước từ công tác
khuyến nông, hỗ trợ phòng dịch, hỗ trợ nguồn vốn,...
Tuy nhiên, việc chuyển đổi vật nuôi cây trồng phù hợp với lợi thế của từng vùng
chưa được quy hoạch cụ thể. Nhiều hộ còn thiếu đất sản xuất, nước tưới, nước sinh hoạt.
Tình trạng sang nhượng đất đai của bà con trở nên khá phổ biến.
Bên canh đó, một số chương trình, kế hoạch phát ưiển kinh tế-xã hội đôi lúc
chưa thật sự phù hợp, gây lãng phí cho nguồn đầu tư quốc gia.
Dịch vụ

Ái.

2


MỤC LỤC

-ỳ Mở đầu ________ .. ___ .. _____ .. _____________________________________ 1
1. Sự cần thiết của đề tài ...................................................................... 1
2. Lý do chọn đề tài ............................................................................. 1
3. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................... 2
4. Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................ 2
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................. 2
Chươngl: Cơ sở lý luận.............................................................................. 3
1.1. Sản xuất vật chất ........................................................................... 3
1.1.1. Sản xuất vật chất là gì? ........................................................ 3
1.1.2 Sản xuất vật chất là cơ sở cho sự tiến bộ của xã hội ............ 3
1.2. ..............................................................................................
Đô thị ho á .............................................................................................. 4
1.2.1. Đô thị ho á là gì? ................................................................. 4
1.2.2 Quá trình đô thị ho á .............................................................. 4
1.2.2.1 ..............................................................................
Quá trình đô thị ho á trên thế giới .............................................. 4
1.2.2.2 ..............................................................................
Quá trình đô thị ho á ở nước ta................................................... 7
1.3. Khả năng thích nghi ..................................................................... 15
1.3.1. Khả năng thích nghi ........................................................... 15
1.3.2. Thích nghi xã hội ................................................................ 16
Chương 2: Bổi cảnh đô thỉ hóa ở xã Phước Đai, huyên Bác Ái, tỉnh Ni nh
Thuạn . __________________

cao của cuộc sống hiện đại.
Tuy nhiên, có một bất cập là việc phát triển các đô thị vừa và nhỏ (thị xã, thị trấn,
hương trấn) chưa được chú ý nhiều ở Việt Nam. Điều đó dẫn đến một hệ quả là trên thực
tế vẫn còn tồn tại một khỏ ang cách khá lớn ở các mặt về đời sống vật chất giữa vùng nông
thôn và các thành thị.
Ở đây chúng ta bắt gặp một loại hình đô thị hóa đặc biệt hơn, khi quá trình đô thị
hóa được tiến hành ở các vùng dân tộc ít người, nơi còn đang có rất nhiều mặt hạn chế về
tri thức, trình độ sản xuất lẫn sự khác biệt về phong tục tập quán. Đa phần tồn tại các đồn
ấp, có khi chỉ có một xã, các khu vực hành chính không phân chia rõ ràng. Tiến hành đô
thị hóa ở các vùng miền này là một thử thách lớn đối với nhà nước ta. Do vậy, việc tìm
hiểu, nghiên cứu về đời sống sản xuất vật chất của đồng bào các dân tộc thiểu số ưong bối
cảnh đô thị hóa là một đề tài nóng bỏng và mang tính thời sự.
Là những sinh viên chuyên ngành úc học Khoa Đông phương học, lại được nhà
trường tổ chức chuyến đi thực tế tại xã Phước Đại - một xã nghèo tại huyện miền núi Bác
Ái, tỉnh Ninh Thuận, chúng tôi đã có cơ hội được tìm hiểu về đời sống sản xuất vật chất
của đồng bào dân tộc Raglai cũng như là các chính sách mà Chính phủ đã đưa ra để hỗ ượ
cho tiến trình đô thị hóa tại nơi này. Bởi vậy, đó là một cơ hội quý báu cho chúng tôi tìm
hiểu thêm thông tin cũng như việc xúc tiến thực hiện đề tài này.
2. Lí do chon đề tài
Trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, thu thập tài liệu, nhóm nghiên cứu chúng tôi
nhận ra rằng các công trình nghiên cứu về đời sống sản xuất cơ sở vật chất của dân tộc
Raglai là không nhiều, và đặc biệt các bài nghiên cứu về vấn đề trên nhưng đặt trong bối
cảnh đô thị hóa ở đất nước ta hiện nay thì lại càng hiếm hoi hơn nữa.
Do đó, chúng tôi quyết định chọn đề tài này để nghiên cứu nhằm mục đích bổ sung
thêm cho nguồn ưi thức của mình. Đồng thời, nhóm nghiên cứu chúng tôi hi vọng sẽ đóng
góp thêm một phần nào thông tin cũng như các tài liệu nghiên cứu về đời sống sản xuất vật
chất của dân tộc Raglai tại xã Phước Đại, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận một cách khách
quan và thiết thực nhất.
3. Đối tương nghiên cửu




1.1. Săn xuất vật chất
1.1.1. Sản xuất vật chất là gì?
Lĩnh vực sản xuất vật chất là tổng thể các ngành kinh tế quốc dân trực tiếp sản
xuất ra của cải vật chất, hoặc làm tăng thêm giá trị của cải đó trong lĩnh vực lưu thông.
Các ngành sản xuất vật chất chia thành hai nhóm: nhóm I bao gồm các ngành trực tiếp sản
xuất ra của cải vật chất như công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, xây dựng cơ bản và
các ngành sản xuất vật chất khác; nhóm II bao gồm các ngành làm tăng thêm giá trị của
sản phẩm các ngành thuộc nhóm I trong quá trình đưa sản phẩm đó đến người tiêu dùng
như vận tải hàng hoá, bưu điện phục vụ sản xuất, thương nghiệp và ăn uống công cộng.
1.1.2. Sản xuất vật chất là cơ sở cho sự tiến bộ của xã hội
Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu ưong các hoạt động
kinh tế của con người. Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi
trong thương mại.
Hai mặt của nền sản xuất gồm: lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
* Lực lượng sản xuất gồm người lao động và tư liệu sản xuất, trong đó con
người giữ vai trò quyết định.
* Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất.
Quan hệ sản xuất gồm có:
(i) Quan hệ về sở hữu các tư liệu sản xuất, còn gọi tắt là quan hệ sở
hữu
(ii) Quan hệ về tổ chức, quản lý sản xuất còn gọi là quan hệ quản lý
(iii) Quan hệ về phân phối sản phẩm, còn gọi tắt là quan hệ phân
phối.

Đe phân tích vai trò của sản xuất vật chất cho sự tiến bộ xã hội, ta lại đi vào 1
khái niệm nữa đó là phương thức sản xuất
Phương thức sản xuất là phương thức khai thác những của cải vật chất (tư liệu
sản xuất và tư liệu sinh hoạt) cần thiết cho hoạt động tồn tại và phát triển xã hội. Sự

môi trường sống. Đô thị được đặc trưng bằng quy mô, mật độ và tính không đồng nhất là
nhân tố quyết định chủ yếu của các loại hành vi ứng xử xã hội khác nhau. Ở đô thị, ngày
càng tăng các mối quan hệ của các nhóm dân cư, các phường hội tự nguyện và tính đa dạng
của các chuẩn mực. Ngày nay, quá trình đô thị hóa đang tăng nhanh, các nước có tỉ số dân
cư đô thị cao là Anh (91%), Ôxtrâylia (89%), Thuỵ Sĩ (87%), Đức (85%), Niu Zilân (85%),
Pháp (78%), Nhật Bản (78%), Mĩ (77%). Dân số đô thị ở Việt Nam năm 1931 là 7,5%;
1954: 11%; 1975: 21,5%; 1979: 19,2%; 1989: 21,4%. Cùng với đô thị hóa, cơ sở hạ tầng,
như giao thông vận tải, điện, nước, thông tin liên lạc phát triển, cơ cấu xã hội cũng theo đó
mà phát triển. Việc đô thị hóa nông thôn là một chính sách lớn có ý nghĩa chiến lược nên
các nước đều thực hiện có kế hoạch và chủ động.
1.2.2. Quá trình đô thị hoá
1.2.2.1. Quá trình đỏ thi hoá trên thế giới
Trong những năm vừa qua, người dân ở các nước đang phát ưiển di chuyển ồ ạt
tới các thành phố với một tốc độ chưa từng thấy. Như đã đề cập đến trong buổi học trước,
chúng ta quan sát thấy điều đó trong thời điểm, khi các nước phát triển hiện nay luôn tăng
tưởng, nhưng dân cư thành thị tăng lên với một tốc độ chậm hơn sự phát triển của các
ngành và chắc chắn với một tốc độ chậm hơn các công việc đang được tạo ra trong khu
vực sản xuất. Tuy nhiên, hiện nay vấn đề này rất khác đối với các nước đang phát triển. Ở
các nước này chúng ta nhận thấy rằng dân cư ở các thành phố đang tăng lên với tỷ lệ nhanh
hơn nhiều so với tăng trưởng trong khu vực sản xuất. Vì thế ưong khi các mô hình phát
ưiển kép như mô hình Lewis có thể được áp dụng rộng rãi trong giai

7


đoạn này — khi mà các nước phát triển hiện nay đã tăng trưởng, họ không thể giải thích
được việc các nước đang phát triển lại gặp phải tình trạng thất nghiệp gay gắt ở đô thị.
Ngoại ưừ các mô hình phát triển kép (đã thừa nhận chỉ có hai khu vực kinh tế, khu vực sản
xuất nông nghiệp truyền thống và khu vực sản xuất chế biến hiện đại), các nhà kinh tế hiện
nay đã bắt đầu thừa nhận sự tồn tại cần thiết của khu vực thứ ba. Cụ thể là khu vực không

1. Chủ yếu là các hậu quả về môi trường
2. Tăng tỷ lệ tội phạm

1.
2.
3.

Các đặc điểm di cư
Các đặc điểm nhân chủng học
Các đặc điểm giáo dục
Các đặc điểm kinh tế

8


• Các liên quan về chính sách:
1. Phải xem xét và giảm bớt việc quan tâm thiên lệch đối với các chính sách phát
triển đô thị. Các bất cân bằng giữa các cơ hội kinh tế ở vùng nông thôn và đô thị phải được
giảm thiểu.
2. Nhà hoạch định chính sách phải nhận thức được rằng việc tạo ra công ăn việc
làm ở thành thị nhiều hơn có thể không phải là giải pháp để giải quyết vấn đề thất nghiệp
ở đô thị. Mà nó có thể càng thúc đẩy quá trình di cư và làm tồi tệ thêm vấn đề thất nghiệp
ở các thành phố.
3. Giáo dục phải được tổ chức lại và nên là ưu tiên hàng đầu của đất nước. Quan
trọng không phải là cung cấp hệ thống giáo dục chính qui, mà là quan tâm, chú trọng đến
các công việc có hàm lượng chất xám cao hơn và việc đào tạo nghề.
4. Mô hình của Todaro cũng đưa ra triển vọng tốt cho các vấn đề này thông qua
các giải pháp được đề xuất ưong mô hình vi mô khuyến khích bằng giá (price incentive
micro model).
5. Các chương trình phát triển vùng nông thôn nên được khuyến khích. Các chính

trong nước cũng giảm. Đầu tư khổng lồ trong xã hội mà không có sự tăng sản lượng thích
đáng được tạo ra từ áp lực lạm phát và dần dần đất nước đã đi vào thời kỳ suy thoái. IMF
phải can thiệp và yêu cầu nước này phải thực hiện các biện pháp mạnh để làm giảm giá trị
đồng tiền của họ. Một khi đồng peso bị giảm giá, có một luồng đầu tư khổng lồ tràn vào
trong nước và đất nước lại thậm chí rơi vào vấn đề khó giải quyết hơn. Họ vẫn đang cố
gắng để khôi phục lại đất nước sau tình trạng này.
♦♦♦ Nước Ai Cập
Khi nghĩ đến Ai Cập, hiện lên tâm trí chúng ta là những kim tự tháp, những ông
vua Ai Cập cổ và các xác ướp. Đó là một đất nước có nền văn minh rực rỡ vào giai đoạn
sớm nhất. Đất nước đó cũng nằm ở vị trí chiến lược phía nam Địa Trung Hải và ở phía tây
Biển Đỏ. Mặc dù ngay từ đầu mảnh đất này đã bị xâm chiếm bởi con người, tuy nhiên, nó
chưa bao giờ bị chiếm thành "thuộc địa" khi chúng ta xem xét nguồn gốc thuộc địa của các
nước đang phát triển. Lý do là 98% diện tích của đất nước này là sa mạc. Mặc dù lưu vực
sông Nilerất phì nhiêu và mặc dầu hết tất cả công việc trồng trọt là ở bên bờ sông Nile,
nhưng sản lượng nông nghiệp vẫn không thể đủ đáp ứng nhu cầu của số lượng dân số ngày
càng tăng. Chính vì vậy, nhập khẩu chính của đất nước này là lương thực, về các nguồn
tài nguyên khoáng sản, Ai Cập có dầu và gas. Học sinh không phải đóng học phí cho đến
trình độ đại học. Tuy nhiên, nước này lại chịu ảnh hưởng nặng nề bởi tình trạng "chảy máu
chất xám". Đơn giản là Ai Cập không đủ khả năng để giữ lại lực lượng lao động có tay
nghề ở lại trong nước. Cùng với vấn đề này, tỷ lệ tăng dân số tăng 2% cũng đang gây ra
tình trạng thất nghiệp khó kiểm soát ở nước này. Vì thế, vấn đề lớn nhất của Ai Cập vẫn
là giải quyết vấn đề thất nghiệp và đồng thời cũng cần phải giảm bớt tình trạng chảy máu
chất xám.
1.1.2.3. Quá trình đỏ thi hoá ở nước ta
• Quá trình đô thị hoá từ 1990 đến nay
Trong giai đoạn 1975 - 1990 đô thị ở nước ta hầu như không có biến động, phản
ánh nền kinh tế còn trì trệ.
Sau năm 1990 cùng với những chuyển biến tích cực về mặt kinh tế - xã hội, mạng
lưới đô thị quốc gia đã được mở rộng và phát triển, về số lượng đô thị, năm 1990 cả nước
mới có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ, đến năm 2000 đã tăng lên 649 đô thị, và đến năm 2003

trưng:
Mức tăng trưởng dân sổ dự báo:
• Năm 2010, dân số đô thị là 30,4 triệu người, chiếm 33% dân số cả
nước.
• Năm 2020, dân số đô thị là 46 triệu người, chiếm 45% dân số cả
nước.

Nhu cầu sử dụng đất đô thị:
• Năm 2020, diện tích đất đô thị là 460.000ha, chiếm 1,4% diện tích đất tự nhiên
cả nước, bình quân 100m2/người.
Tổ chức không gian hệ thống đô thị:
• Mạng lưới đô thị cả nước được hình thành và phát triển trên cơ sở các đô thị
trung tâm, gồm các thành phố trung tâm cấp quốc gia, cấp vùng, cấp tỉnh. Các đô thị trung
tâm các cấp được phân bố hợp lý trên 10 vùng đô thị hoá đặc trưng của cả nước.
• Các đô thị trung tâm lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh... phải được tổ
chức thảnh các chùm đô thị, có vành đai xanh bảo vệ để hạn chế tối đa sự tập ưung dân số,
cơ sở kinh tế và phá vỡ cân bằng sinh thái, tránh sự hình thành các siêu đô thị.
• Quy hoạch sử dụng đất đô thị đảm bảo các khu chức năng và cơ sở hạ tầng có
quan hệ gắn bó.

11


• Hình thành bộ mặt kiến ưúc hiện đại nhưng vẫn kế thừa, bảo vệ, tôn tạo và giữ
gìn các di sản lịch sử văn hoá, phát triển nền kiến trúc đậm đà bản sắc dân tộc.
Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật:
• Ưu tiên phát triển, hiện đại hoá cơ sở hạ tầng các đô thị và các vùng kinh tế
trọng điểm, tạo tiền đề phát triển các đô thị và đô thị hoá nông thôn.
• Cải tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong các đô thị theo yêu cầu và
mức độ phát triển của từng đô thị.

đề cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, như hệ thống thoát nước, thu gom và xử lý rác, xử lý nước
thải, giảm ô nhiễm không khí và tiếng ồn,... chưa được chú ý đúng mức. Mặc dù việc lập
báo cáo đánh giá tác động môi trường cho các đồ án quy hoạch đô thị đã được quy định
trong Luật Bảo vệ môi trường, nhưng công tác triển khai thực hiện cho đến nay vẫn còn
chậm, chưa hiệu quả và chưa chứng tỏ được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường
ưong quy hoạch xây dựng đô thị.

12


Một nguyên nhân khác dẫn đến việc các đô thị phải chịu sức ép môi trường ngày
càng tăng là việc thiếu các biện pháp hữu hiệu trong chỉ đạo và quản lý quy hoạch xây
dựng. Tình trạng xây dựng lộn xộn tại các đô thị lớn là một vấn đề bức xúc đòi hỏi những
biện pháp quản lý cấp bách và hiệu quả, nếu không cái giá phải trả cho việc giải quyết hậu
quả môi trường sẽ là vô cùng lớn. Công tác quản lý quy hoạch xây dựng là bước tiếp theo
và cụ thể hoá của công tác lập quy hoạch xây dựng đô thị, một yếu tố then chốt ưong việc
xây dựng các đô thị bền vững và hoà hợp với môi trường.
♦♦♦ Một số vẩn đề môi trường bức xúc trong quá trình đô thị hóa
> Gia tăns dân sổ đô thi và di dân từ nôns thôn vào đô thi: Nhìn
chung, dân số tăng chậm hoặc cân đối với sự phát triển sẽ góp phần quan trọng vào thúc
đẩy nền kinh tế phát triển, cho phép tăng tích luỹ cả vốn, vật chất, kỹ thuật và nguồn
nhân lực, tạo điều kiện phát triển việc làm và đem lại một môi trường sống trong sạch
hơn.
Bên cạnh vấn đề tăng tự nhiên còn có một nguyên nhân khác dẫn đến gia tăng dân
số đô thị là tăng cơ học hay di dân từ nông thôn vào đô thị. Các nghiên cứu cho thấy có
nhiều dạng di dân như nông thôn - nông thôn, thành thị - thành thị, nông thôn - thành thị
và thành thị - nông thôn, người di dân tự do thường có mong muốn và xu hướng chuyển
theo hướng nông thôn - thành thị để tìm kiếm cơ hội công ăn việc làm, đặc biệt họ bị hấp
dẫn bởi một số thành phố và khu công nghiệp lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh,
Hải Phòng, Đà Nằng, Hạ Long,...

Xây dựng đã đề xuất và tổ chức chỉ đạo thực hiện mô hình đầu tư phát triển nhà ở theo dự
án nhằm tăng nhanh quỹ nhà ở với yêu cầu vừa đảm bảo đồng bộ về hệ thống hạ tầng kỹ
thuật và hạ tầng xã hội, vừa góp phần tạo dựng bộ mặt của các khu dân cư đô thị văn minh,
hiện đại. Điều này có thể nhận thấy dễ dàng qua các con số: giai đoạn 1991 - 1995 cả nước
mới ưiển khai 98 dự án nhà ở mà phần lớn với quy mô dự án nhỏ thì đến giai đoạn 1996 2000 cả nước đã triển khai trên 800 dự án nhà ở và các khu đô thị mới và đến cuối năm
2002 cả nước đã có 1.100 dự án.
Trong bối cảnh quá trình đô thị ho á diễn ra nhanh chóng cùng với sự phát triển
của nền kinh tế thị trường, người nghèo và thu nhập thấp có rất ít điều kiện để có được một
chỗ ở phù hợp. vấn đề này trầm trọng hơn với sự ra đời của chính sách xo á dần bao cấp
nhà ở (cuối 1992). Bức tranh đô thị đã trở nên đối lập thật sự giữa một bên là tốc độ phát
ưiển ngày càng nhanh của quá trình đô thị hoá, tốc độ phát triển nhà không phải để ở tăng
nhanh hơn tốc độ phát triển nhà ở; tốc độ hiện đại hoá nhanh càng mâu thuẫn với bức tranh
vô cùng ảm đạm của các dãy nhà lụp xụp "ổ chuột", nhà ưên và ven kênh rạch.
Một tồn tại khác trong vấn đề nhà ở đô thị là sự tồn tại của các khu nhà ở không
chính thức và một biến thái của nó là các "xóm liều, xóm bụi". Hai nguyên nhân chính của
thực ưạng này là tốc độ đô thị hoá nhanh, dẫn đến nhập cư trái phép và giá đất đô thị quá
cao, mà một số hộ dân không có điều kiện mua đất đã lấn chiếm đất công để ở. Do tính
chất này mà đa phần các khu nhà ở không chính thức có điều kiện nhà ở rất kém, diện tích
ở khoảng 2 - 4m2/người, nhà ở lụp xụp, tạm bợ, hệ thống hạ tầng kỹ thuật cũng như hạ
tầng xã hội đều ở mức rất thấp. Điều này dẫn đến môi trường trong các khu dân cư này bị
ô nhiễm nghiêm trọng và có thể coi đây là các khu nhà "ổ chuột" đô thị.
Hà Nội đã từng có ba khu nhà ở không chính thức lớn hình thành từ những năm
90 của thế kỷ XX là khu chứa trọ Phúc Xá, khu bãi rác Thành Công, và khu "xóm liều"
Thanh Nhàn với số lượng dân ở mỗi khu khoảng 400 người. Ngoài ra Hà Nội còn có hơn
20 "xóm liều, xóm bụi" nhỏ, với mỗi xóm từ 5 - 10 hộ dân, nằm rải rác trong các quận,
huyện khác trên các khu đất công hoặc ven sông, hồ,... Với các đô thị miền Trung và miền
Nam , ngoài các nguyên nhân nêu trên, còn có một nguyên nhân khác là hậu quả của chiến
ưanh. Thành phố Hồ Chí Minh đã từng có 67.000 căn nhà "ổ chuột" và trong đó có 24.000
hộ sống ven kênh rạch. Tại thành phố Huế có 770 hộ với 4.483 nhân khẩu sống trên Thượng
Thành và Eo Bàu trong khu Thành cổ với diện tích xây dựng trái phép là 31.500m2. Ngoài

mét. Thậm chí tại nhiều đô thị, khu dân cư nằm tiếp giáp hoặc xen kẽ với nghĩa trang.
Theo kết quả khảo sát đối với 38 đô thị thì chỉ có 5 đô thị (chiếm 13%) có khoảng cách
>1.500m (đạt Tiêu chuẩn Việt Nam 4449-1987).
Việc lấn chiếm đất và chôn cất lộn xộn như vậy dẫn đến tình trạng lãng phí quỹ
đất rất lớn và khi phát triển đô thị và giao thông thường gặp phải vấn đề rất nan giải là di
chuyển và giải phóng mồ mả. Việc quy hoạch các khu nghĩa trang còn chưa được quan
tâm đúng mức, phần lớn các nghĩa trang được chọn từ các nghĩa địa đã có sẵn và mở rộng
thêm, không quy hoạch phân lô và quy định cụ thể hướng đặt mộ cũng như việc bố trí dải
cây xanh cách ly. Hiện tại ở hầu hết các khu nghĩa trang, nghĩa địa, chưa có hệ thống thoát
nước đảm bảo vệ sinh, việc thoát nước hoàn toàn dựa vào độ dốc địa hình tự nhiên thoát
trực tiếp ra các ao hồ, ruộng trũng xung quanh. Chưa có hệ thống mương bao để thu gom
nước thải thấm từ xác chết phân hủy ra. Ket quả khảo sát chất lượng nước mặt và nước
ngầm trong khu vực nghĩa trang và dân cư xung quanh tại một số đô thị cho thấy: độ pH
thường thiên về axít, hàm lượng coliform vượt tiêu chuẩn cho phép từ 20 - 4.000 lần, hàm
lượng BOD và COD vượt từ 2 đến hơn 15 lần, hàm lượng N03 gấp 2-100 lần.

15


Ar»h V- 2- 71» í y 3íi dĩ^"f! B»^*» civ í* +1(1*1 V* i*vẠ< Ạ?i *íh-ỉ'*'li H ị N4i i+u 10 f> s•y» (1 ặ3 6-

- 199$
Hguởn đẽ- tá* KHCM Ữ7.11

> "Lá phổi"của đô thi bi tàn phá:

Tại các vùng đô thị hóa nhanh, bộ khung bảo vệ môi trường là những vành đai
xanh không được quy hoạch và bảo vệ. Chỉ tiêu đất để trồng cây xanh trong các đô thị quá
thấp, trung bình mói đạt 0,5m2/nguời. Tại hai thành phố lởn là Hà Nội và thành phố Hồ
Chí Minh, con số này cũng không quá 2m2/người, chỉ bằng 1/10 chỉ tiêu cây xanh của các

tích đất giao thông khoảng 7,8%, mật độ đường đạt 3,89km/km2; tại thành phố Hồ Chí
Minh diện tích đất giao thông khoảng 7,5%, mật độ đường đạt 3,88km/km2. Các chỉ tiêu
giao thông tại các đô thị loại thấp hơn cũng nhỏ hơn nhiều so với yêu cầu cần thiết. Diện
tích các điểm đồ xe đạt 25% song chưa có quy hoạch cụ thể. Mật độ đường chính đạt 40%,
mật độ của đường liên khu vực, phân khu vực thấp nhất chỉ đạt 20 - 30% so với yêu cầu.
Một số hậu quả chính của hiện trạng giao thông đô thị yếu kém là:
> Tai nan giao thông: Tình hình tai nạn giao thông ở nước ta, đặc biệt trong khu vực
đô thị hết sức nghiêm trọng, thuộc vào nhóm cao nhất thế giới. Tuy chỉ số về số
vụ tai nạn giao thông/10.000 phương tiện không cao hơn nhiều so với các nước
khác trong khu vực, song chỉ số người chết/tổng số người bị thương là đặc biệt cao
mà nguyên nhân chính là do phương tiện chủ đạo trong giao thông đô thị là xe hai
bánh.
> Ùn tắc giao thông: ùn tắc giao thông trong các đô thị đang và ngày càng trở nên
bức xúc, đặc biệt tại các đô thị vừa và lớn. Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đang
phải gánh chịu những hậu quả nặng nề do ùn tắc giao thông gây ra.
> 0 nhiễm không khí và tiếng ồn: Gia tăng phương tiện giao thông cơ giới tại các đô
thị ưong những năm qua đã làm gia tăng ô nhiễm bụi, khí thải và tiếng ồn do các
hoạt động giao thông gây ra. ùn tắc giao thông, phố hóa quốc lộ, tỉnh lộ, hoạt động
xây dựng hạ tầng và khu dân cư góp phần làm gia tăng mức độ ô nhiễm. Ô nhiễm
tiếng ồn giao thông và các ảnh hưởng tới sức khỏe người dân đô thị lớn hơn nhiều
so với các đô thị khác trên thế giới. Theo kết quả nghiên cứu giá ưị mức ồn tăng
từ 2 - 5dBA do cấu trúc nhà ống, liền kề, bám dọc theo các tuyến đường. Sự bố trí
không hợp lý các khu chức năng trong đô thị làm nghiêm trọng thêm ô nhiễm tiếng
ồn, nhất là đối với trường học, bệnh viện, công sở, và khu dân cư. Giá trị tiếng ồn
vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1 - 15dBA.
Các giải pháp quy hoạch phòng ngừa và giảm thiểu ô nhiễm
• Cần tiếp tục thực hiện những tiêu chí đô thị phát triển bền vững đã đề ra trong
Định hướng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị quốc gia và đồng thời tiến hành
nghiên cứu thực hiện cụ thể một số chương trình như: Chương trình quốc gia về bảo vệ
môi trường cảnh quan thiên nhiên, giữ gìn cân bằng sinh thái đô thị; thực hiện mở rộng,

chứng, thiết kế, đến thi công và vận hành.
• Quản lý tốt giao thông vận tải và trật tự đô thị của lực lượng sản xuất hay không
là ở chỗ nó có thể thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, cải thiện đời sống nhân dân và
tạo điều kiện thực hiện công bằng xã hội hay không . Trong xã hội có giai cấp, mâu thuẫn
giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiện thành mâu thuẫn giữa các giai cấp
đối kháng. Mâu thuẫn này tất yểu dẫn đến đấu tranh giai cấp, nổ ra cách mạng xã hội thay
thế quan hệ sản xuất cũ, lạc hậu bằng quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn, ra đời phương
thức sản xuất cao hơn trong lịch sử. Lịch sử loài người đã trải qua các phương thức sản
xuất: công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và đang quá độ
lên phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Như
vậy sản xuất vật chất là cơ sở cho sự tiến bộ của xã hội!
1.3. Khả năng thích nghi;
1.3.1. Khả năng thích nghỉ là gì?
Khả năng thích nghi là một phẩm chất tích cực của con người, là một giá trị của
nhân cách giúp con người vươn lên, chiến thắng hoàn cảnh của bản thân, của môi trường
để không ngừng phát triển.
- Nhờ có khả năng thích nghi mà con người có thể hòa nhập vào cái chung của
sự đổi mới, sự phát triển xã hội. Nhờ khả năng thích nghi mà con người không chịu đầu
hàng số phận dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Người có khả năng thích nghi luôn muốn
tìm tòi, sáng tạo, linh hoạt trong suy nghĩ, trong hành động để vươn lên cải tạo cuộc
sống, cải tạo xã hội.

18


- Khả năng thích nghi không phải tự nhiên mà có, đó là kết quả của ý chí và
nghị lực, kết quả của rèn luyện. Vì vậy việc rèn luyện ý chí và nghị lực, rèn luyện khả
năng thích nghi là vô cùng quan trọng đôí với mỗi con người. Điều đó góp phần vào sự
phát triển bền vững của cá nhân và xã hội.
- Khả năng thích nghi có quan hệ chặt chẽ với tính linh hoạt và sáng tạo, điều


Chương 2: Bối cảnh đô thị hóa ở xã Phước Đạỉ, huyện Bác Ái,
tình Ninh Thuận.
2.1. Vị trí địa lý
Huyện Bác Ái mới được tái thành lập từ 01/01/2001 theo Nghị định số
65/2000/NĐ-CP của Chính phủ ra ngày 06/11/2000 về việc điều chỉnh địa giới hành chính
huyện Ninh Sơn để tái thành lập huyện Bác Ái. Huyện Bác Ái nằm về phía Bắc tỉnh Ninh
Thuận, có độ cao so với mặt biển từ 200 - 1.500m. Độ cao thấp dần từ Bắc xuống Nam và
từ Đông sang Tây. Huyện Bác Ái cố ranh giới hành chính như sau:
- Phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hoà và tỉnh Lâm Đồng.
- Phía Nam giáp huyện Ninh Sơn
- Phía lầy giáp tỉnh Lâm Đồng.
- Phía Đông giáp tỉnh Khánh Hoà, huyện Ninh Hải.
Huyện Bác Ái có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ môi trường,
là nguồn thủy sinh cho các sông suối của tỉnh Ninh Thuận. Bác Ái trước mắt cũng như lâu
dầi bảo vệ được rừng, sử dụng đất hợp lý là yêu cầu cấp bách đối vói huyện. Huyện Bác
Ái bao gồm các huyện: Phước Đại, Phước Chính, Phước Thắng, Phước Thành, Phước Tân,
Phước nến, Phước Hòa, Phước Bình, Phước Trung.

Bản đồ xã Phước Đại

, huyện Bác Ải, tỉnh Ninh Thuận
20


Xã Phước Đại nằm tại trung tâm huyện Bác Ái có tọa độ địa lí như sau :
- Vĩ độ Bắc : từ 11052’30” cực Nam đến 11048’30” cực Bắc.
- Kinh độ Đông từ 108058’cực Đông đến 108052’30” cực Tây
Phía Bắc giáp xã Phước Thắng, phía Nam giáp xã Phước Chính, phía Đông giáp
xã Phước Thành, phía Tây giáp xã Phước Tiến. Xã Phước Đại nằm trên tuyến quốc lộ 27B,

- Số ngày mưa trung bình năm 78 ngày.
Đặc điểm cơ bản khí hậu vùng là phân hóa theo mùa rõ rệt cùng với điều kiện khí
hậu địa hình thung lũng, xung quanh được bao bọc bởi các dãy núi cao nên mang khí hậu
vùng trung du và núi: khí hậu khô nóng, ít mưa, chênh lệch nhiệt độ ngày đêm lớn 9,5° c.
Tổng tích ôn và số giờ nắng trong năm cao. Tháng 4,5,6,7 nhiệt độ trung bình cao, trên 28
°c. Hướng gió hằng ngày cũng thay đổi nhiều, ban đêm thổi từ hướng núi xuống đồng
bằng, ban ngày thì ngược lại.

21


Mùa mưa
- Mùa mưa kéo dài từ 7 tháng, bắt đầu từ ưung tuần tháng 5 và kết thúc vào tháng
12. tháng 9 có lượng mưa lớn nhất.
- Lượng mưa trung bình cả mùa 961,7 mm chiếm 95,3 % lượng mưa cả
năm.
- Mưa lớn nhất vào tháng 9 bình quân 205mm/ tháng.
- Lượng bốc hơi bình quân mùa 127,2 mm.
- Ẩm độ không khí cao 74,83 %, với chì số náy các loại cây trồng có thể
sinh trưởng phát triển bình thường nhưng muốn đạt năng suất cao nhất
thiết phải cần có nước tưới bổ sung.
*

* Mùa khô
- Mùa khô kéo dài 5 tháng, từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa cả mùa
rất thấp 47,1 mm. Tháng 1 và 2 hầu như không có mưa, lượng bốc hơi cao bình quân 156
mm, với điều kiện này thì không thể tiến hành sản xuất được.
2.2.3. Thủy vãn
Hệ thống sông suối thưa thớt, chủ yếu là sông sắt và các nhánh suối nhỏ của con
sông này. Sông suối có đặc điểm ngắn, dốc nên thường gây lũ lụt vào mùa mưa và thiếu

- Hiện nay người dân đã khai thác một phần diện tích đất vào canh tác nông
nghiệp: trồng bắp, mì, đậu đỗ,...còn lại là nhóm đất hoang và đất lâm nghiệp.
- Đây là loại đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, hàm lượng chất
dinh dưỡng trong đất ở mức ưung bình nên phù hợp với nhiều loại cây ưồng khác nhau
như lúa (nếu có nước tưới), bắp, hoa màu và cây công nghiệp.

* Các loại đất khác sông suối, dân cư, đất chuyên dùng, diện tích 88,9 ha.

2.3. Điều kiện văn hóa - xã hội
2.3.1. Dân cư
Xã Phước Đại huyện Bác Ái tập trung 95% dân cư là người Raglai, ngoài ra còn
có một bộ phận là người Kinh, người C’ho và người Chăm. Đồng bào Raglai nơi đây sống
tập trung và phân thành 5 thôn đó là thôn Tà Lú 1, Tà Lú 2, Tà Lú 3, thôn Ma hoa và thôn
Châu Đắc.
• Người Raglai
Ra Giai, còn viết là Ra-glai hoặc Raglay là một tộc người ưong số năm tộc người
thuộc ngữ hệ Malay-Polynesia ở Việt Nam, rất gàn gũi với các dân tộc Chăm, Gia Rai và
Chu Ru. Người Raglai chủ yếu sống ưên các vùng núi có độ cao trên dưới 500 mét, dễ thấy
nhất là từ miền Tây tỉnh Khánh Hòa qua vùng Tây Bắc tỉnh Ninh Thuận, Tây và Tây Nam
tỉnh Bình Thuận giáp với phía Đồng tỉnh Lâm Đồng. Do có sự tiếp xúc với các dân tộc
khác quanh vùng nên ở người Ra Giai đã xuất hiện tượng song ngữ và đa ngữ. Tiếng phổ
thông hiện giữ một vai ưò quan ưọng, là ngôn ngữ giao tiếp của người dân nơi đây với
những dân tộc cận cư khác.
2,3.2. Đời sống văn hỏa
Người Raglai sinh sống thành từng làng (Palây). Làng vừa là đơn vị cư trú,
vừa là đơn vị tổ chức xã hội truyền thống của đồng bào. Người có công đầu trong việc
khai khẩn đất hoang lập làng được giữ chức vụ chủ làng (pôpalây). Ở người Raglai
cũng đã có hiện tượng liên minh giữa các làng cư trú kế cận nhau để tạo thành một
laga với một người đứng đầu gọi là chủ laga hoặc chủ núi (pô laga). Cũng như chủ
làng, chủ laga đều do những người có công khai phá đất đai, lập làng nắm giữ... Họ

trường để học. Đối với họ, cuộc sống chỉ đơn giản là cái ăn, cái mặc hôm nay và không
suy tính cho ngày mai. Cuộc sống của họ gắn liền với nương rẫy, với những vụ mùa, với
những đàn bò, đàn trâu,... thế nên đưa con em đến trường dường như là một điều không
thiết thực trong đời sống. Ngoài ra, những trẻ em Raglai khi đến trường, được Nhà Nước
và chính quyền lo cho từng quyển sách, quyển vở, bút viết, thế nhưng chất lượng học tập
vẫn chưa cao, số học sinh bỏ học vẫn còn nhiều. Nhìn chung, tình hình giáo dục vẫn còn
nhiều mặt hạn chế dẫn đến nhiều vấn đề ảnh hưởng đến đời sống văn hóa và tình hình sản
xuất vật chất toàn xã. Do mặt bằng dân trí thấp nên việc áp dụng cơ khí hóa vào nông
nghiệp là không khả quan. Việc sản xuất chuyên môn hóa, chăn nuôi tập trung hay áp dụng
các mô hình sản xuất năng suất cao là những khó khăn rất lớn mà người dân nơi đây chỉ
mới bước đầu biết đén.
Thuận

2.4. Tinh hình đô thị hóa ở xã Phước Đại, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh

Theo cuốn lịch sử Đảng bộ Bác Ái tập 1, trang 84 có ghi rõ: “Tháng 10/1950 tỉnh
Ninh Thuận quyết định tách khu căn cứ Bác Ái ra khỏi huyện An Phước, thành lập
huyện căn cứ trực thuộc Tỉnh ủy Ninh Thuận”. Huyện Bác Ái ra đời từ dây, gồm 60 thôn
với khoảng 5500 dân với 9 xã Phước Trung, Phước

24


Thành, Phước Chính, Phước Đại, Phước Thắng, Phước Hòa, Phước Bình,
Phước Tân, Phước Tiến trong đó xã Phước Đại được xem là xã trung tâm của toàn
huyện.
Ngay từ những năm mới tái lập huyện, Bác Ái như một vùng mới khai phá với
biết bao khó khăn thiếu thốn cơ sở vật chất phục vụ bộ máy Đảng, chính quyền, Đoàn
thể chưa được xây dựng; hệ thống giao thông đi lại lạc hậu, cả huyện chưa có 1 m đường
nhựa, nhiều khu vực hầu như bị cô lập vào mùa mưa lũ, thông tin liên lạc chưa được đầu

văn hóa giáo dục y tế dân số, gia đình và trẻ em...được quan tâm thực hiện có hiệu quả.
Tính dến ngày 31/03/2005,100% số thôn có 32% số hộ có tivi, 27% số hộ có radio. Đã
có 100% địa bàn dân cư xem được truyền hình của trung ương và nghe được đài phát
thanh địa phương. Đồng bào

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status