Nghiên cứu văn hóa ẩm thực đổng bằng sông cửu long trong phát triển du lịch - Pdf 37

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ VĂN VŨ

NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẨM THỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
TRONG PHÁT TRIỀN DU LỊCH

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Hà Nội, 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÊ VĂN VŨ

NGHIÊN CỨU VĂN HÓA ẨM THỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
TRONG PHÁT TRIỀN DU LỊCH

Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Hoài Sơn

Hà Nội, 2015



2.1.1. Văn hóa ẩm thực chung ĐBSCL ...................................................................... 35
2.1.2. Một số món ăn đặc trưng từng dân tộc vùng ĐBSCL ..................................... 38
2.2. Đánh giá nhu cầu ẩm thực của khách du lịch ĐBSCL. ................................... 56
2.3. Sản phẩm ẩm thực đặc trƣng phục vụ du lịch vùng ĐBSCL ......................... 63
2.4. Khảo sát các tuyến du lịch ẩm thực ĐBSCL .................................................... 90
TIỂU KẾT ................................................................................................................... 94
Chƣơng 3. GIẢI PHÁP KHAI THÁC VĂN HÓA ẨM THỰC ĐBSCL TRONG
PHÁT TRIỂN DU LỊCH ........................................................................................... 96
3.1. Định hƣớng chung về phát triển du lịch ở ĐBSCL .......................................... 96
3.2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến văn hóa ẩm thực trong phát triển du lịch ĐBSCL...... 99
3.2.1. Các yếu tố thuận lợi .......................................................................................... 99
3.2.2. Các yếu tố khó khăn ........................................................................................ 100
3.3. Giải pháp khai thác văn hóa ẩm thực ĐBSCL trong phát triển du lịch ...... 101
3.3.1. Các giải pháp chung. ...................................................................................... 101
3.3.2. Các giải pháp cụ thể ........................................................................................ 104
TIỂU KẾT .................................................................................................................. 105
KẾT LUẬN ............................................................................................................... 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 109
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
 ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long.
 CSHT: Cơ sở hạ tầng.
 CSVCKT: Cơ sở vật chất kỹ thuật.
 DNTN: Doanh nghiệp tư nhân.
 TP.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh.
 UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (United
Nations Educational Scientific and Cultural Organization).
 VHAT: Văn hóa ẩm thực.

với yếu tố môi sinh tại chỗ đã tạo thành sắc thái văn hóa trong việc ăn uống vừa đa
dạng, phong phú vừa đặc thù ở vùng đất Nam Bộ. Bên cạnh đó, văn hóa ẩm thực cũng
là một trong những yếu tố quan trọng góp phần quảng bá hình ảnh ĐBSCL đến các
vùng khác trong nước và trên thế giới, góp phần phát triển du lịch trong vùng.
Theo xu hướng du lịch hiện nay, hầu hết các loại hình du lịch đều chú trọng đến
việc khai thác văn hóa ẩm thực như một nguồn tài nguyên du lịch nhân văn. Trong các
tour du lịch, ngoài việc tham quan các danh lam thắng cảnh, còn kết hợp với việc tìm
hiểu văn hóa ẩm thực của nơi đến thông qua các món ăn đặc sản. Tuy ĐBSCL đi vào
khai thác các hoạt động du lịch có phần trễ hơn so với các vùng khác trên đất nước
nhưng vùng cũng đã xây dựng khá thành công những loại hình du lịch phù hợp và đặc
trưng của vùng như: du lịch sinh thái, miệt vườn sông nước Cửu Long, du lịch văn
1


hóa… trong đó, hầu như loại hình du lịch nào cũng đều có sự kết hợp với văn hóa ẩm
thực – những món ăn dân dã mang đậm sắc thái địa phương đã thu hút một lượng khá
đông du khách đến với nơi đây. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hiện nay nguồn tài
nguyên du lịch này vẫn chưa được khai thác một cách hợp lý, các món ăn chỉ được đưa
vào thực đơn chứ chưa chú trọng đến giá trị văn hóa của nó, ẩm thực ĐBSCL đa phần
chỉ là những món ăn gắn liền với đời sống của người dân địa phương hơn là một sản
phẩm du lịch đúng nghĩa, chưa thể đáp ứng được các nhu cầu thị hiếu của các du
khách trong và ngoài nước đến với ĐBSCL. Đứng ở vai trò là học viên ngành Du lịch,
từ những nhận định trên, tôi đã quyết định chọn “Văn hóa ẩm thực ĐBSCL và vấn đề
khai thác trong du lịch” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1. Ý nghĩa khoa học
- Hệ thống hóa và áp dụng các cơ sở lý luận về phát triển du lịch để khai thác
tiềm năng ẩm thực vùng đồng bằng sông Cửu Long.
- Kinh nghiệm trong việc khai thác văn hóa ẩm thực để phát triển du lịch ở vùng
đồng bằng sông Cửu Long.

- Hệ thống hóa các vấn đề lí luận về ẩm thực, văn hóa ẩm thực, du lịch và quan
điểm khai thác văn hóa ẩm thực phục vụ du lịch.
- Đánh giá thực trạng văn hóa du lịch tại vùng ĐBSCL hiện nay và việc khai thác
ẩm thực phục vụ cho hoạt động du lịch.
- Bước đầu đưa ra một số định hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc
khai thác ẩm thực cho phát triển du lịch ở vùng ĐBSCL.
5. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Việt Nam có một văn hóa ẩm thực rất đặc sắc. Chính vì lý do đó, có nhiều công
trình nghiên cứu về ẩm thực nói riêng, văn hóa ẩm thực nói chung. Các định nghĩa về
“văn hóa ẩm thực” hầu hết đều có xuất hiện trong nhiều tài liệu điển hình như: Giáo
trình “Văn hóa ẩm thực” – Nguyễn Nguyệt Cầm, Nhà xuất bản Hà Nội (2008); Bộ
3


sách “Văn hóa ẩm thực Việt Nam” của tập thể tác giả Vũ Bằng, Băng Sơn, Mai Khôi,
Thượng Hồng – Nhà xuất bản Thanh niên (2001); “Bản sắc ẩm thực Việt Nam” – Viện
Nghiên cứu Ẩm thực Việt Nam (2009)… trong đó các công trình này đã nêu ra các
món ăn đặc trưng của từng vùng nhưng chỉ mới dừng lại ở việc giới thiệu các món ăn
và ý nghĩa của nó đối với văn hóa Việt Nam. Ở miền Nam, có một số bài viết nổi
tiếng: “Món lạ miền Nam” – Vũ Bằng, “Những món ăn miền Nam được ưa chuộng” –
Nguyễn Thị Diệu Thảo, “Thực chất và biến dạng của các món ăn Nam Bộ” – Sơn
Nam… nhưng chủ yếu cũng là giới thiệu món ăn như trên. Hay cuốn sách về “Nhà ở,
trang phục, ăn uống của các dân tộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long” (Phan Thị Yến
Tuyết, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội – 1993) nói rõ về vấn đề ăn uống trong
đời sống, trong các dịp lễ và văn hoá ăn uống trong giao tiếp của từng dân tộc ở
ĐBSCL từ cách chế biến đến thưởng thức (người Khmer, người Việt…). Bài nghiên
cứu của Huỳnh Phượng Loan là “Tìm hiểu về văn hóa ẩm thực các dân tộc ĐBSCL” –
2009, trong đó có chú trọng đến ý nghĩa của văn hóa ẩm thực ĐBSCL trong việc phát
triển du lịch của vùng, tuy nhiên, tác giả vẫn chưa đi sâu vào việc phân tích việc khai
thác giá trị ẩm thực đối với phát triển du lịch ở vùng này. Như vậy, hầu hết các sách,

nghiên cứu một cách trực tiếp, khách quan và chính xác. Cụ thể, tác giả đã đi thực tế
tại một số điểm như: địa bàn Thành phố Cần Thơ, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang,
Trà Vinh, Cà Mau.. nơi có những giá trị ẩm thực đặc trưng của vùng ĐBSCL.
6.3. Phƣơng pháp phỏng vấn sâu
Nhằm để đánh giá đúng thực trạng và thực tế, tác giả đã đi đến một số khu du
lịch trong vùng để phỏng vấn trực tiếp khách du lịch, lấy thông tin về ẩm thực vùng
một cách chính xác nhất. Trong đó tác giả đã chia thành nhiều thành phần, đối tượng
khách để phỏng vấn (Bắc – Trung – Nam, Nam – Nữ..).

5


7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung chính
của luận văn bao gồm 3 chương.
Chương 1.CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ẨM THỰC Ở ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
Chương 2. THỰC TRẠNG VĂN HÓA ẨM THỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU
LONG TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HIỆN NAY
Chương 3. GIẢI PHÁP KHAI THÁC VĂN HÓA ẨM THỰC ĐBSCL TRONG PHÁT
TRIỂN DU LỊCH

6


PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ẨM THỰC Ở ĐỒNG BẰNG
SÔNG CỬU LONG
Khái niệm Văn hóa, Văn hóa ẩm thực và Du lịch




1.1.3. Khái niệm du lịch
Du lịch là đi để vui chơi, giải trí hoặc nhằm mục đích kinh doanh; là việc thực
hiện chuyến đi khỏi nơi cư trú, có tiêu tiền, có lưu trú qua đêm và có sự trở về. Mục
đích của chuyến đi là giải trí, nghỉ dưỡng, thăm thân nhân, công tác, hội nghị khách
hàng hay du lịch khen thưởng, hoặc nhằm mục đích kinh doanh. Các Tổ chức Du lịch
Thế giới định nghĩa khách du lịch như những người "đi du lịch đến và ở lại ở những
nơi bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong hơn 24 giờ và không quá một năm
liên tiếp cho giải trí, kinh doanh và các mục đích khác không liên đến những nhân viên
hướng dẫn viên du lịch của tổ chức thực hiện việc du lịch đó."
1.2. Quan điểm về phát triển du lịch dựa vào ẩm thực
Đối với tất cả các loại hình du lịch, ăn uống lúc nào cũng đóng vai trò quan
trọng trong việc tác động tới cảm nhận của du khách về toàn bộ chuyến đi, là nhân tố
để du khách quyết định lựa chọn chương trình du lịch, các điểm đến. Chính vì vậy,
điểm đến có nền văn hóa ẩm thực càng phong phú, độc đáo bao nhiêu thì càng hấp dẫn
với du khách bấy nhiêu. Mức độ phong phú của một nền ẩm thực có thể là do sự hội tụ
của nhiều tộc người khác nhau với những sắc thái ẩm thực khác nhau trên cùng một
vùng, miền hoặc cũng có thể đó là nơi tập trung của nhiều làng nghề ẩm thực… Sự
phong phú của nền văn hóa ẩm thực sẽ mang đến cho du khách nhiều cơ hội khám
phá, học hỏi . Còn tính độc đáo được tạo nên bởi những đặc trưng của một nền ẩm
thực, nó tạo ra sự khác biệt với các nền văn hóa ẩm thực khác. Sự độc đáo có thể thể
hiện ở cách thức chế biến món ăn, mùi vị đặc trưng, lợi ích của món ăn hay ở kiến trúc
nhà hàng, quán ăn…Tuy nhiên, khi đưa vào để phát triển du lịch thì phải có sự tìm tòi,
học hỏi, sáng tạo nhưng không làm mất đi bản sắc riêng là yêu cầu không thể thiếu
trong việc phát triển du lịch nói chung, và phát triển du lịch dựa trên văn hóa ẩm thực
nói riêng. Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở vật chất, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, chế
biến thực phẩm, kinh doanh ăn uống phải được đầu tư, sửa chữa phù hợp và đủ điều

8



hóa giao tiếp cũng là cả một lĩnh vực tổ hợp của nhiều yếu tố: ăn, mặc, nói năng, ứng
xử… và ẩm thực được sử dụng như là một phương tiện để giao tiếp. Thông qua ẩm
thực, người ta có thể hiểu biết về cả một nền văn hóa, một lối sống cách ứng xử, ẩm
thực lúc đó không chỉ dừng lại ở nghệ thuật trình diễn các món ăn mà còn là nơi để hội
ngộ, giao lưu, là nơi để cộng cảm với nhau. Giao tiếp trong các bữa ăn có những đặc
trưng riêng khác với giao tiếp trong các buổi đón tiếp xã giao hay giao tiếp trong quá
trình tham quan hay giao tiếp ở những khung cảnh khác. Giao tiếp và ẩm thực có một
mối quan hệ ngầm, kín hơn. Người ta mượn ẩm thực để giao tiếp với nhau. Trong các
bữa ăn, ngôn ngữ và cử chỉ trong giao tiếp không còn đóng vai trò quan trọng nhất mà
lại là không khí của bữa ăn, cách sử dụng và thưởng thức các món ăn. Người ta không
cần dùng quá nhiều lời nói hay động tác mà chủ yếu du khách tự cảm nhận theo cách
riêng của mình. Cảm nhận theo cách nào lại phụ thuộc vào văn hóa của từng nơi và
tâm lý của từng đối tượng khách khác nhau. Trong du lịch, ăn uống là một hợp phần
không thể thiếu bên cạnh tham quan và giải trí. Cách ứng xử, phục vụ, văn hóa giao
tiếp tại điểm du lịch, đặc biệt là trong các bữa ăn tổ chức cho khách du lịch có thể tạo
ấn tượng tốt đẹp cho khách du lịch và thúc đẩy mong muốn của họ tiêu dùng thêm các
dịch vụ. Và ẩm thực chính là một hoạt động quan trọng trong lĩnh vực dịch vụ và du
lịch.
1.3.2.

Tầm quan trọng của văn hóa ẩm thực đến việc phát triển du lịch ĐBSCL

Trong những năm gần đây, với sự quan tâm của Chính quyền các cấp, nỗ lực của
các doanh nghiệp và người dân, du lịch ĐBSCL đã có những bước phát triển mạnh mẽ
trong thời gian qua. Đặc biệt, theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các
tỉnh (Bảng 2), tính đến cuối năm 2014, tổng doanh thu đạt được từ nguồn du lịch là
gần 2 tỷ đồng, trong đó tổng thu nhập từ dịch vụ “ăn uống” là gần 700 tỷ đồng, chiếm
khoảng 30% tổng doanh số, trong khi lưu trú chỉ khoảng 25%, mua sắm khoảng 10%...


An Giang

49,00

59,00

19,00

7,00

4,00

12,00

150,00

Bạc Liêu

23,32

33,08

8,95

7,17

38,11

5,58


4,66

53,17

Bến Tre

26,22

50,26

-

18,30

54,06

9,64

158,47

Hậu Giang

1,14

0,77

0,00

0,12


2,31

0,00

14,00

50,71

Tiền Giang

18,51

55,93

0,86

26,87

6,00

38,74

146,91

111,84

174,75

38,06


151,89

209,44

1.793,18

Kiên
Giang
Trà Vinh
Tổng

chuyển

Lữ hành

Mua

Tên tỉnh

sắm

Khác

Tổng

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các địa phương
Đây là một tỉ lệ không riêng gì ở vùng ĐBSCL mà ở hầu hết các nước trên thế
giới điều đã được thống kê kiểm chứng. Sự thật, ăn uống ngoài là nhu cầu thiết yếu
của con người ra, nó còn là cả một nghệ thuật, đặc biệt trong hoạt động du lịch thì

Có vị trí nằm liền kề vùng Đông Nam Bộ, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là
vịnh Thái Lan, phía Đông Nam là Biển Đông. Các điểm cực của đồng bằng trên đất
liền, điểm cực Tây 106°26´(xã Mĩ Đức, Thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang), cực Đông ở
106°48´(xã Tân Điền, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang), cực Bắc ở 11°1´B (xã
Lộc Giang, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An) cực Nam ở 8°33´B (huyện Đất Mũi, huyện

12


Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau). Ngoài ra còn có các đảo xa bờ của Việt Nam như đảo Phú
Quốc, quần đảo Thổ Chu, hòn Khoai.

Hình 1.1: Bản đồcác tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long
(Nguồn: />ĐBSCL nằm tiếp giáp với thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh vùng Đông Nam
Bộ (khu vực kinh tế năng động nhất Việt Nam), phía Tây giáp với biên giới
Campuchia, ba mặt Đông, Tây và Tây Nam có biển bao bọc. Vị thế nằm trong khu vực
có đường giao thông hàng hải và hàng không quốc tế quan trọng giữa Nam Á, Đông
Á, Châu Úc và rất gần các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Singapore, Malaysia,
Philipin,Indonesia...
Vùng ĐBSCL của Việt Nam được hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi
dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển; qua từng giai đoạn kéo theo sự
hình thành những giồng cát dọc theo bờ biển. Những hoạt động hỗn hợp của sông và
biển đã hình thành những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông lẫn dọc theo
một số giồng cát ven biển và đất phèn trên trầm tích đầm mặn trũng thấp như
13


vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên – Hà Tiên, tây nam sông Hậu và bán đảo
Cà Mau.
Với vị trí như vậy thì việc giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học


14


giờ nắng cũng như tần suất nắng không cao như các nước ở vùng nhiệt đới nên vào
mùa đông họ có xu hướng đi du lịch để tránh đông vì mùa đông bên Châu Âu rất lạnh.
- Sông ngòi: Toàn bộ vùng ĐBSCL bao gồm 2 hệ thống sông chính là: sông Tiền
và sông Hậu – phần hạ lưu của sông Mekong chảy vào Việt Nam. Hai dòng sông chính
này đổ ra Biển Đông qua 9 cửa sông tựa như chín con rồng nên vùng đất này vì vậy
mà có tên là Cửu Long. Trong quá trình đổ ra biển hai hệ thống sông này được nối với
nhau bằng nhiều kênh rạch tự nhiên và nhân tạo, làm nên một hệ thống kênh rạch
chằng chịt có tổng chiều dài lên tới 4.900 km, bồi đắp nên vùng đồng bằng châu thổ
phì nhiêu, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển giao thông đường thủy cũng như
việc phát triển “chợ nổi” – mua bán trên sông và phát triển loại hình du lịch “Miệt
vườn sông nước Cửu Long”.
- Sinh vật: dưới những ảnh hưởng của môi trường biển và sông, từ lâu ở ĐBSCL
đã hình thành và phát triển các hệ sinh thái tự nhiên rất độc đáo. Đó là hệ sinh thái
rừng ngập nước ngọt (Vườn quốc gia Tam Nông, rừng Trà Sư, vùng Đồng Tháp
Mười), hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển (Vườn quốc gia U Minh Thượng, Vườn
quốc Gia U Minh Hạ), hệ sinh thái nông nghiệp. Đặc biệt, hệ sinh thái rừng ngập mặn
ở các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre… có vai trò
cực kỳ quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ cân bằng môi trường sinh thái
toàn khu vực.
1.4.4.

Đặc điểm kinh tế – xã hội

Theo sự phân chia hành chính của nhà nước năm 2004, ĐBSCL gồm có 13 đơn
vị: 12 tỉnh và 1 thành phố trực thuộc trung ương: Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp
Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng,

và người Chăm ở Đồng bằng sông Cửu Long chỉ chiếm một số lượng nhỏ. Người Hoa
tập trung nhiều ở các tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng. Người Chăm sống chủ yếu ở
An Giang và Kiên Giang.
Thiên nhiên ưu đãi có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế nhất là nông

nghiệp

chủ yếu làm kinh tế nông nghiệp lúa nước, hoa màu, cây ăn trái, chăn nuôi.
Kinh tế đang phát triển với các khu công nghiệp mọc lên ngày cáng nhiều các chính
sách mở cửa khuyến khích đầu tư của nhà nước.
Khu vực dịch vụ của vùng ĐBSCL bao gồm các ngành chủ yếu xuất nhập khẩu,
vận tải thủy, du lịch. Xuất khẩu gạo chiếm 80% của cả nước, đồ đông lạnh và hoa quả.
Giao thông đường thủy giữ vai trò quan trọng nhất.
Du lịch bắt đầu khởi sắc như du lịch sinh thái, miệt vườn sông nước, du lịch biển đảo...
Tuy nhiên chất lượng và cạnh tranh của du lịch còn hạn chế. ĐBSCL đang được
đầu tư để nâng cao chất lượng tốt hơn và hiệu quả kinh tế trong khu vực.
1.4.5.

Tình hình phát triển du lịch ở đồng bằng sông Cửu Long
- Tình hình khách du lịch – doanh thu

ĐBSCL với đặc thù là vùng sinh quyển độc đáo trên thế giới, nơi đây sẽ là điểm
đến mới đối với du khách quốc tế. Địa hình của vùng rất đặc trưng với nhiều sông rạch

16


chằng chịt, hội đủ các yếu tố cho phát triển ngành du lịch như: rừng, núi, biển, hải
đảo... và nhiều địa danh nổi tiếng tại các vùng sinh thái đặc trưng đã tạo cho ĐBSCL
một sắc thái du lịch riêng biệt. ĐBSCL còn nổi tiếng với tên gọi Mekong Delta - nơi

tiết doanh thu và lượt khách thể hiện qua bảng sau:
BẢNG 2.1: Doanh thu và lượt khách đến ĐBSCL từ năm 2011-2012
Stt
1

2

Chỉ tiêu
Doanh

thu

(Triệu/người)
Tổng

lượt

khách (lượt)

Năm 2011

Năm 2012

Tăng trưởng (%)

2.376.060

2.870.630

20,81

Năm 2011

Doan
Stt

Tỉnh

h thu
(tổng
)

Tổng
lượt
khách

Năm 2012
Tổng lượt

Khách

thu

khách

quốc tế

Khác
h

Khách

2

3

4

5

6

150.3

573.20

647,6

27,4

879.8

0

0

00

0

0


350.00

12.00

338.00

385,5

20,4

423.0

0

0

0

0

0

7

00

Bạc

200,0


705.50

13.40

692.10

192,0

0

0

0

0

0

1.130.

14.80

1.115.

117,9

000

0



địa

ng

ng

508,0

Cần thơ

h nội





%

1

Khác

Tổng doanh

%

21, 165.5 10, 714.3
60


96

00

03

00

7,7 14.60 8,9 745.4
3

0

6

00

106, 1.184. 4,8 20.00 35, 1.164
28

500

2

0

14

.500


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status