ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------o0o-----------
NGUYỄN MINH HẢI
HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN
CỦA NGƢỜI CAO TUỔI Ở TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Tâm lý học
HÀ NỘI – 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------
NGUYỄN MINH HẢI
HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM THẦN
CỦA NGƢỜI CAO TUỔI Ở TỈNH THANH HÓA
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tâm Lý Học
Mã số : 60310401
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Mộc Lan
Hà Nội - 2016
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
STT
Chữ viết tắt
Nội dung chữ viết tắt
1
NCT
Ngƣời cao tuổi
2
SKTT
Sức khỏe tâm thần
3
CSSKTT
4
TCSSKTT
5
r
Hệ số tƣơng quan
11
ĐTB
Điểm trung bình
12
ĐLC
Độ lệch chuẩn
Chăm sóc sức khỏe tâm thần
Tự chăm sóc sức khỏe tâm thần
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1. Đặc điểm của khách thể nghiên cứu ( Vẽ lại theo thông tin về bản
thân ngƣời đƣợc hỏi) ....................................................................................... 41
Bảng 3.1 Nhận thức về sự cần thiết tự CSSKTT của NCT ............................ 52
Bảng 3.2: Quan tâm đến các mối liên hệ xã hội mang tính tích cực .............. 55
Bảng 3.2 Quan tâm đến các mối liên hệ xã hội mang tính tiêu cực của ngƣời
cao tuổi ............................................................................................................ 56
Bảng 3.3 Làm việc, thể thao, giải trí phù hợp với sức khỏe và khả năng của
ngƣời cao tuổi .................................................................................................. 57
tuổi ............................................................................................................. 20
1.2.1. Khái niệm hành vi .......................................................................... 18
1.2.2 Khái niệm tự chăm sóc ................................................................... 22
1.2.3 Khái niệm về ngƣời cao tuổi............................................................ 23
1.2.4 Khái niệm về sức khỏe tâm thần..................................................... 26
1.2.5 Khái niệm hành vi tự chăm sóc sức khỏe tâm thần ........................ 27
1.2.6 Vài nét về đặc điểm sức khỏe tâm thần ở ngƣời cao tuổi ................ 35
CHƢƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................. 41
2.1 Tổ chức nghiên cứu................................................................................ 41
2.1.1 Một vài nét về khách thể nghiên cứu ............................................... 41
2.1.2. Tổ chức nghiên cứu ........................................................................ 42
2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu ....................................................................... 43
2.2.1. Nghiên cứu lý luận .......................................................................... 43
2.2.2 Khách thể nghiên cứu của đề tài và chọn mẫu: ............................... 45
2.2.3 Các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể................................................ 45
2.4. Tiêu chí và thang đo .............................................................................. 49
CHƢƠNG 3: THƢC TRẠNG HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC SỨC KHỎE TÂM
THẦN CỦA NGƢỜI CAO TUỔI .................................................................. 52
3.1. Nhận thức về sự cần thiết tự chăm sóc sức khỏe tâm thần của ngƣời cao
tuổi ............................................................................................................. 52
3.2 Cách thức tự chăm sóc sức khỏe tâm thần của ngƣời cao tuổi .............. 53
3.2.1. Quan tâm đến các mối liên hệ xã hội.............................................. 53
3.2.2 Làm việc, thể thao, giải trí phù hợp với sức khỏe và khả năng của
ngƣời cao tuổi ........................................................................................... 57
3.2.3 Tham gia hoạt động xã hội, cộng đồng của ngƣời cao tuổi............. 61
3.2.4 Hợp tác với chuyên gia chăm sóc sức khỏe tâm thần của ngƣời cao
tuổi ............................................................................................................ 63
3.3 Các yếu tố ảnh hƣởng đến hành vi chăm sóc sức khỏe tâm thần của
mỗi quốc gia trên các mặt xã hội, kinh tế và phục vụ y tế. Việt Nam là một
trong số những quốc gia già hóa dân số nhanh nhất trong khu vực. Trong
năm 2013 tỷ lệ ngƣời cao tuổi (NCT) đã lên tới 10,5% tổng dân số. Với tỷ lệ
này, Việt Nam đƣợc đánh giá là một trong 10 nƣớc có tốc độ già hóa dân số
nhanh nhất thế giới. Ngƣời cao tuổi phải đối mặt với những thách thức sức
khỏe thể chất và tâm thần. Hiện nay, các hành vi chăm sóc sức khỏe cho
ngƣời cao tuổi tại cộng đồng còn ít. Tại nhiều địa phƣơng, các hành vi này
chủ yếu mang tính đơn lẻ, tự phát. Việc tổ chức các câu lạc bộ ngƣời cao
tuổi, câu lạc bộ dƣỡng sinh…sẽ rất có ích cho sức khỏe của ngƣời cao tuổi,
song hình thức này còn nhiều hạn chế và bị chi phối bởi kinh phí hạn hẹp và
đối tƣợng tổ chức. Công tác khám, chữa bệnh cho ngƣời cao tuổi vẫn chƣa
đƣợc quan tâm đúng mức, tình trạng ngƣời phải tự bỏ tiền để khám chữa
bệnh vẫn còn phổ biến. Do vậy chi phí khám chữa bệnh đã, đang là một
gánh nặng cho ngƣời cao tuổi và gia đình. Đặc biệt công tác chăm sóc, trợ
giúp về tâm thần cho ngƣời cao tuổi lại càng hiếm hoi. Ngƣời cao tuổi chƣa
đƣợc quan tâm một cách đúng mức cả về thể chất và tinh thần. Mỗi ngƣời
cao tuổi cũng tự ý thức và có những hành động chăm sóc bản thân cả về thể
chất và tinh thần, tuy nhiên những việc này chƣa phổ biến và đồng bộ do
nhiều nguyên nhân khác nhau.
1
Nhu cầu về chăm sóc sức khỏe tăng lên cùng với quá trình lão hóa,
trong đó tự chăm sóc sức khỏe tâm thần đóng một vai trò quan trọng bởi 2 lý
do chính. Thứ nhất, khả năng tự chăm sóc và tiếp tục tự chăm sóc sức khỏe ở
gia đình ngay cả trong tuổi già là một khía cạnh rất quan trọng trong chăm sóc
sức khỏe tâm thần. Tự chăm sóc sức khỏe tại nhà đƣợc cho là giúp cải thiện
chất lƣợng công cuộc tự chăm sóc sức khỏe của NCT. Thứ hai, việc tự chăm
sóc cũng nhƣ chăm sóc ở gia đình ít tốn kém hơn so với chăm sóc tại bệnh
hệ xã hội và lựa chọn việc làm phù hợp sức khỏe bản thân.
- Mức độ hài lòng với cuộc sống của NCT là yếu tố ảnh hƣởng mạnh
nhất đến CSSKTT của họ, sau đó là Sức khỏe thể chất.
- Những căng thẳng, lo âu ít ảnh hƣởng đến hành vi CSSKTT của NCT.
6. Nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu một số vấn đề lí luận về hành vi tự chăm sóc sức khỏe
tâm thần của ngƣời cao tuổi.
- Nghiên cứu thực trạng mức độ và biểu hiện của hành vi tự chăm sóc
sức khỏe tâm thần của ngƣời cao tuổi
- Đề xuất một số kiến nghị nâng cao hiệu quả hành vi tự chăm sóc sức
khỏe tâm thần để ngƣời cao tuổi tự chăm sóc sức tâm thần tốt hơn.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu
- Phƣơng pháp chuyên gia
- Phƣơng pháp quan sát
- Phƣơng pháp phỏng vấn sâu
- Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Phƣơng pháp trắc nghiệm
- Phƣơng pháp xử lý thông tin bằng thống kê toán học
3
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI TỰ CHĂM SÓC SỨC
KHỎE TÂM THẦN CỦA NGƢỜI CAO TUỔI
Vài nét về nghiên cứu hành vi tự chăm sóc sức khỏe tâm thần của ngƣời
cao tuổi
Nghiên cứu ở nƣớc ngoài
Trong thời kỳ phát triển của tâm lý học (cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ
XX) sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên tạo điều kiện cho các thực
đắp cho suy giảm thể chất, chức năng nhận thức hoặc tâm thần có thể làm
giảm chất lƣợng của công cuộc tự chăm sóc sức khỏe (sử dụng các thiết bị hỗ
trợ, một số thay đổi hệ thống của môi trƣờng tự chăm sóc sức khỏe của cá
nhân, hành vi thích nghi tâm lý xã hội). Tập trung chủ yếu thứ hai của cuộc
điều tra quốc gia về tự chăm sóc sức khỏe và tuổi già là các loại hành vi hạn
chế suy giảm sức khỏe, phòng ngừa và tăng cƣờng sức khỏe, thực hành lối tự
chăm sóc sức khỏe lành mạnh. Một trong những tính năng độc đáo của nghiên
cứu quốc gia này là các hạng mục mô tả mô hình hành động tự chăm sóc sức
khỏe. Một số nghiên cứu về tự chăm sóc sức khỏe của ngƣời cao tuổi khác
nhƣ nghiên cứu về vai trò sức khỏe trong việc duy trì tự chăm sóc ở những
ngƣời cao tuổi (Smits và Kee 1992), các chiến lƣợc đối phó (Burke &
Flaherty 1993) và sức chịu đựng (Nicholas 1993). Niềm tin và suy nghĩ của
ngƣời cao tuổi về sức khỏe của họ, sự quan tâm đến bản thân có ảnh hƣởng
đến các dịch vụ y tế họ sử dụng, góp phần vào hành vi của tự chăm sóc
((Strain 1991, Orem 2001). Backman năm 2001 nghiên cứu về mối liên hệ
giữa khả năng chức năng và hành vi tự chăm sóc sức khỏe. Ông đƣa ra hai xu
hƣớng chính của tự chăm sóc sức khỏe là tự chăm sóc rõ ràng, bản chất
(internal, unambiguous self-care) và tự chăm sóc mơ hồ bề ngoài (external,
ambiguous self-care). Các kiểu tự chăm sóc sức khỏe có trách nhiệm và độc
lập đại diện cho tự chăm sóc rõ ràng bản chất. Các loại tự chăm sóc sức khỏe
có hƣớng dẫn (chính thức) và bỏ mặc đại diện cho tự chăm sóc mơ hồ bề
5
ngoài (Backman & Hentinen 1999). Theo Backman & Hentinen (1999), tự
chăm sóc có trách nhiệm (responsible self-care) bao hàm sự thực hiện và
trách nhiệm trong tất cả các hành vi của công cuộc tự chăm sóc sức khỏe hàng
ngày cũng nhƣ chăm sóc sức khỏe và bệnh tật. Tự chăm sóc có hƣớng dẫn
(chính thức) (formally guided self-care) bao gồm việc thực hiện thƣờng xuyên
chỉ ra rằng tần số của trầm cảm nhẹ tăng theo tuổi trong một kiểu đƣờng
cong: giảm ở tuổi trung niên, gia tăng ổn định trong tuổi già và gia tăng rất
nhanh ở những ngƣời trên 80 tuổi (Snowdon và cs. năm 1996, Sesso và cs.
1998). Trầm cảm nhẹ thƣờng là một phản ứng đối với sự trải nghiệm căng
thẳng thƣờng có trong tuổi già và thƣờng liên quan đến sức khỏe thể chất
(Beekman và cs. 1997, Tannock & Katona 1995). Mendes de Leon và cs.
(1998) phát hiện ra rằng trầm cảm có thể làm gia tăng các yếu tố nguy cơ ở
phụ nữ lớn tuổi tƣơng đối khỏe mạnh, nhƣng nó không phải là một yếu tố
nguy cơ độc lập trong những ngƣời cao tuổi nói chung. Tỷ lệ cao hơn của
trầm cảm ở phụ nữ vẫn có thể có nghĩa rằng tác động của trầm cảm là quan
trọng hơn đối với họ (DeFriese & Gordon 1993, Jorm 1995, Johnson &
Wolinsky 1993, Johnson và cs. 2000, Selb-Šemrl và cs. 2004). Kempen và cs.
(2006), khẳng định rằng các vấn đề của ngƣời cao tuổi trở nên phổ biến hơn
cùng với sự lão hóa của dân số. Sự xuất hiện của các suy nhƣợc ốm yếu và
ảnh hƣởng của nó đến việc tự chăm sóc sức khỏe là hai trong số những yếu tố
chính quyết định chất lƣợng công cuộc tự chăm sóc sức khỏe của ngƣời cao
tuổi (Wenger & Burholt 2003). Điều quan trọng là những gì ngƣời cao tuổi có
thể nhìn nhận về sức khỏe vì sức khỏe là một trong những yếu tố quan trọng
nhất đối với tự chăm sóc (Ferraro 1980, Kaplan & Camacho 1983, Svanborg
và cs. 1988, Idler & Angel 1990, Petek-Stern & Kersnik 2004). Các nghiên
cứu cho thấy, khả năng chức năng, nhận thức về sức khỏe, các điều kiện nhà ở
tốt, một phong cách tự chăm sóc sức khỏe tích cực, và các mối quan hệ xã hội
tốt là một trong những yếu tố giải thích sự hài lòng với công cuộc tự chăm sóc
7
sức khỏe và chất lƣợng chăm sóc sức khỏe (McKevitt và cs. 2003, Kamper và
cs. 2005, Ozcan và cs. 2005, Ramovš 2003). Định nghĩa sức khỏe của WHO
là phổ quát và toàn thể đồng thời tập trung vào các lĩnh vực hành vi xã hội khi
Tobin, 1968; Lemon, Bengtson, và Peterson, 1972, Neugarten và Gutman
1950, Veroff, Reuman & Feld (1957, 1976), B.G. Ananhiev (1969),
A.X.Averbukh (1969) nghiên cứu về hành vi của ngƣời cao tuổi cho rằng,
hành vi là cơ sở cho việc bảo vệ và duy trì sức khỏe thể chất và tinh thần của
ngƣời cao tuổi. Thái độ tích cực có hiệu quả đối với công cuộc tự chăm sóc
sức khỏe có thể tạo ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát huy tính năng
động của bản thân mình để tạo ra sự cân bằng về tâm lý, ứng phó với những
thay đổi của tuổi già. Trong giai đoạn tuổi già nhu cầu nghỉ ngơi, chăm sóc
sức khỏe nổi lên hàng đầu và tƣơng ứng với các nhu cầu đó là các hành vi chủ
đạo nghỉ ngơi và chăm sóc sức khỏe đƣợc định hình rõ ràng. Trong những
thập kỷ gần đây, Rowe và Kahn (1987) và mô hình sự lão hóa tối ƣu của
Baltes (1990) đã nghiên cứu sự lão hóa trong một bối cảnh tích cực nhƣ mô
hình sự lão hóa thành công. Nghiên cứu của Dubbert (1992) cho thấy, các
hành vi hỗ trợ tâm lý và chăm sóc sức khoẻ tâm thần cho ngƣời cao tuổi ở gia
đình, xã hội, cộng đồng nhƣ chăm sóc ngƣời cao tuổi ốm đau bị hoảng loạn về
tinh thần: giúp họ đoàn tụ trong tình yêu thƣơng, tăng hành vi thể chất và
nhận thức và tối ƣu hóa hạnh phúc, phát hiện và xử lý các triệu chứng hành vi
(challenging behavioural) và khó khăn tâm lý; cung cấp thông tin, hỗ trợ lâu
dài tới ngƣời chăm sóc ngƣời cao tuổi và ngƣời cao tuổi tự chăm sóc sức khỏe
tâm thần giúp duy trì sức khỏe thể chất và tinh thần của ngƣời cao tuổi. Chăm
sóc hiệu quả sức khỏe tâm thần ban đầu ở mức cộng đồng (community-level
primary mental health care) cho ngƣời cao tuổi rất quan trọng là các hành vi
tự chăm sóc sức khỏe, đồng thời cộng đồng tập trung vào việc chăm sóc lâu
dài cho ngƣời cao tuổi bị rối loạn tâm thần cũng nhƣ cung cấp cho ngƣời
chăm sóc kiến thức và hỗ trợ chăm sóc sức khỏe tâm thần cho ngƣời cao tuổi.
9
Sức khỏe tâm thần của những ngƣời cao tuổi có thể đƣợc cải thiện thông qua
chăm sóc sức khỏe của ngƣời cao tuổi ở quận Hai Bà Trƣng – Hà Nội cho
thấy: khoảng 80% ngƣời cao tuổi băn khoăn nhiều về vấn đề làm sao để dễ
hòa nhập với môi trƣờng mới? Làm gì đề có thu nhập? Nền kinh tế thị trƣờng
gây nhiều khó khăn đối với ngƣời cao tuổi, nhất là những ngƣời cô đơn.
Ngƣời nghỉ hƣu có nguyện vọng đƣợc làm việc, đƣợc tiếp tục cống hiến cho
xã hội phù hợp với hoàn cảnh và khả năng của mình.
Năm 1990, Viện Khoa học Lao động và các vấn đề xã hội, Bộ Lao động
– Thƣơng binh và Xã hội đã thực hiện một cuộc khảo sát trên 250 ngƣời nghỉ
hƣu tại Hà Nội và 100 ngƣời nghỉ hƣu tại Hà Bắc (cũ). Năm 1992, Vụ Bảo trợ
xã hội, Bộ lao động – Thƣơng binh và Xã hội thực hiện một phân tích thống kê
nhóm ngƣời nghỉ hƣu ở Việt Nam. Nội dung của các nghiên cứu trên chủ yếu
tập trung vào vấn đề cơ cấu, sự phân bố, thực trạng đời sống và việc tự chăm
sóc sức khỏe và các chính sách xã hội có liên quan đến ngƣời nghỉ hƣu.
Năm 1991, Viện Xã hội học thực hiện một nghiên cứu về ngƣời cao
tuổi ở An Điền (Hải Hƣng). Mục đích của nghiên cứu quan tâm đến các đặc
trƣng dân số học và xã hội học của nhóm ngƣời cao tuổi (cấu trúc lớp tuổi và
giới tính, trạng thái sức khỏe và bệnh tật, địa vị kinh tế và nghề nghiệp, định
hƣớng giá trị và tâm trạng, vai trò của ngƣời cao tuổi trong gia đình, cộng
đồng và xã hội, hệ thống an sinh xã hội và tác động của hệ thống đó vào hoàn
cảnh tự chăm sóc sức khỏe của ngƣời cao tuổi). Nghiên cứu cho thấy, về tinh
thần 40% ngƣời cao tuổi cho rằng,công cuộc tự chăm sóc sức khỏe tinh thần
sau khi nghỉ hƣu kém đi. Một số ngƣời nhất là những ngƣời có lƣơng hƣu
cao, có chức vụ khi tại chức, cảm thấy công cuộc tự chăm sóc sức khỏe hƣu
trí cô đơn, buồn tẻ. Nghiên cứu cho thấy, vai trò và vị thế của ngƣời cao tuổi
trong cộng đồng và gia đình giảm đáng kể so với trƣớc đây.
Trong hai năm 1991 đến 1992, Viện Xã hội học đã triển khai đề tài
“Ngƣời cao tuổi và an sinh xã hội” nghiên cứu khá công phu về đời sống và
11
đến sự tham gia hành vi xã hội của ngƣời cao tuổi ở vùng đồng bằng sông
Hồng. Kết quả cho thấy: tỷ lệ ngƣời cao tuổi tham gia vào các hành vi xã hội
ở các tổ chức phi chính thức cao hơn rất nhiều so với các tổ chức chính thức.
Các yếu tố nhƣ khu vực cƣ trú, giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, nghề
nghiệp, hoàn cảnh và điều kiện tự chăm sóc sức khỏe, tình trạng sức
khỏe...đều có ảnh hƣởng đến giao tiếp của ngƣời cao tuổi. Cụ thể, ngƣời cao
tuổi ở khu vực đô thị thƣờng có tỷ lệ tham gia các hành vi xã hội cao hơn
ngƣời cao tuổi ở nông thôn trong hầu hết các tổ chức chính thức nhƣ Đảng,
Chính quyền, Hội thọ, Hội Cựu chiến binh... Ngƣợc lại, trong những hình
thức tổ chức phi chính thức nhƣ đám cƣới, hỏi, đám tang, đám giỗ, lễ chùa, lễ
mừng thọ và các hình thức giao tiếp các hội tại cộng đồng nhƣ thăm hỏi hàng
xóm, bạn bè... thì ngƣời cao tuổi nông thôn lại có tỷ lệ tham gia cao hơn
ngƣời cao tuổi ở đô thị. Ngƣời cao tuổi là nam giới thƣờng tham gia vào các
hành vi xã hội nhiều hơn ngƣời cao tuổi là nữ giới. Nghiên cứu cũng cho thấy,
ngƣời cao tuổi có đời sống và tự chăm sóc sức khỏe và thu nhập cao thƣờng
có tỷ lệ tham gia các hành vi xã hội cao hơn ngƣời cao tuổi có đời sống và tự
chăm sóc sức khỏe và thu nhập thấp hơn. Ngƣời cao tuổi có mức độ học vấn
cao hơn có tỷ lệ tham gia các hành vi xã hội cao hơn ngƣời cao tuổi có trình
độ học vấn thấp, tình trạng sức khỏe kém.
Nghiên cứu của Nguyễn Hải Hữu (1999) cho thấy đa số ngƣời nghỉ hƣu
cảm thấy việc tự chăm sóc sức tinh thần thoải mái hơn khi làm việc, chỉ có 20%
cảm thấy việc tự chăm sóc sức khỏe nghèo nàn hơn so với trƣớc. Nghiên cứu cũng
cho thấy, hành vi xã hội của ngƣời cao tuổi hiện nay co lại trong phạm vi gia đình,
thân tộc nhiều hơn. Các hành vi xã hội rộng lớn, mang tính cộng đồng, làng, xã
còn rất nghèo nàn.
Nghiên cứu của Nguyễn Phƣơng Lan (2000) về “Tiếp cận văn hóa ngƣời
cao tuổi” đã đề cập đến việc tự chăm sóc sức khỏe và hành vi văn hóa tinh thần
14
Nghiên cứu của Hoàng Mộc Lan trong đề tài nghiên cứu “ Những vấn
đề tâm lý – xã hội của ngƣời cao tuổi Việt nam: thực trạng- giải pháp trợ giúp,
phát huy vai trò ngƣời cao tuổi tại cộng đồng” (2015), đã cho thấy, đa số
ngƣời cao tuổi tự nhận thức về bản thân hƣớng về quá khứ, đánh giá cao các
đặc điểm nhân cách tích cực của bản thân, biểu hiện rõ nhất là tình yêu quê
hƣơng, đất nƣớc, phẩm chất trong lao động. Ngƣời cao tuổi tiếp tục tham gia
lao động chiếm tỷ lệ hơn 60% và tham gia các hành vi xã hội, sinh hoạt thể
dục thể thao chăm sóc sức khỏe. Giao tiếp của ngƣời cao tuổi chủ yếu với
ngƣời thân và bạn bè gần gũi. Trong việc tự chăm sóc sức khỏe ngƣời cao
tuổi hài lòng nhất với các mối quan hệ gia đình, đƣợc ngƣời thân quan tâm
chăm sóc, đƣợc giao tiếp với mọi ngƣời và tiếp nhận thông tin và không hài
lòng nhất với việc đƣợc đảm bảo và chăm sóc sức khỏe ở các cơ sở y tế và hỗ
trợ xã hội. Kết quả nghiên cứu của tác giả cũng đã chỉ ra thực trạng trợ giúp
xã hội và phát huy vai trò ngƣời cao tuổi tại cộng đồng còn chƣa tốt, chƣa đáp
ứng đƣợc nhu cầu, nguyện vọng của ngƣời cao tuổi.
Nghiên cứu của Đặng Vũ Cảnh Linh (2009): “Ngƣời cao tuổi và các mô
hình chăm sóc ngƣời cao tuổi ở Việt Nam” đƣợc tiến hành tại ba thành phố Hà
Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh với mục đích tìm hiểu thực trạng và
hiệu quả hành vi của các loại hình dịch vụ chăm sóc ngƣời cao tuổi ở Việt Nam
đã đề cập đến các mối liên hệ xã hội cũng nhƣ quan hệ gia đình của ngƣời cao
tuổi Việt Nam hiện nay. Kết quả nghiên cứu cho thấy: về quan hệ xã hội, ngƣời
cao tuổi nghỉ hƣu hiện nay thƣờng xuyên tiếp cận với các phƣơng tiện thông tin
đại chúng (trên 80% ngƣời cao tuổi thƣờng xuyên đọc sách báo, xem tivi, nghe
đài). Đây là một hình thức duy trì sự giao tiếp với xã hội của đa số ngƣời cao
tuổi hiện nay. Có rất ít ngƣời cao tuổi tham gia các hình thức tham quan, du
lịch, đi chơi với bạn bè…Có một tỷ lệ khá cao ngƣời cao tuổi tham gia các câu
lạc bộ hƣu trí, ngƣời cao tuổi (60,6%) và trực tiếp tham gia các công tác xã hội
cao tuổi Việt Nam hiện nay” đã phân tích về những khó khăn và nhu cầu thực
16
tế của ngƣời cao tuổi về kinh tế, sự tham gia xã hội và trên hết là vấn đề chăm
sóc sức khỏe. Việc có thêm thu nhập, cùng với mở rộng các loại hình và quy
mô bao phủ về Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm y tế của Nhà nƣớc, cơ hội tham
gia các hành vi xã hội, cơ hội đƣợc chia sẻ kinh nghiệm trong công cuộc tự
chăm sóc khỏe sức làm phong phú thêm việc tự chăm sóc sức khỏe, lấp đầy
các khoảng trống tinh thần và tạo sự ổn định về trạng thái tâm lý vốn rất dễ
dao động của ngƣời cao tuổi. Tác giả đã chỉ ra các sự kiện về việc ngƣời cao
tuổi đã cống hiến sức lực, trí tuệ, kỹ năng cho xây dựng và phát triển đất
nƣớc, tình đoàn kết, đạo lý “uống nƣớc nhớ nguồn”, sự quan tâm của xã hội,
phƣơng thức hành vi hiệu quả của Hội Ngƣời cao tuổi và các Hội mà ngƣời
cao tuổi tham gia. Để đảm bảo chất lƣợng việc tự chăm sóc sức khỏe của
ngƣời cao tuổi theo phƣơng châm “ tự chăm sóc sức khỏe vui, tự chăm sóc
sức khỏe khỏe, tự chăm sóc sức khỏe có ích” tác giả đƣa ra kiến nghị về sự hỗ
trợ và chăm sóc từ gia đình và cộng đồng cho ngƣời cao tuổi.
Trong y học gần đây có nhiều tác giả nghiên cứu về sức khỏe tâm thần
ngƣời cao tuổi với các đề tài khác nhau nhƣ Phạm Khuê (2000) nghiên cứu
bệnh học tuổi già [16]. Trần Hữu Bình (2003) nghiên cứu rối loạn trầm cảm ở
những ngƣời có bệnh lý dạ dày - ruột thực thể và chức năng [3]. Nguyễn Kim
Việt (2006, 2008) nghiên cứu đặc điểm các biểu hiện loạn thần trong rối loạn
trầm cảm, điều trị trầm cảm và rối loạn lo âu ở ngƣời cao tuổi [32]. Nguyễn
Thị Minh Hƣơng (2013) nghiên cứu các yếu tố liên quan đến phát sinh trầm
cảm ở ngƣời cao tuổi [15]. Nguyễn văn Dũng (2014) nghiên cứu đặc điểm
lâm sàng của rối loạn trầm cảm ở bệnh nhân cao tuổi và các biện pháp điều
trị. Nguyễn Ngọc Huyền và Nguyễn Tiến Dũng (2014) nghiên cứu các yếu tố
liên quan đến hành vi tự chăm sóc của ngƣời cao tuổi suy tim tại BV Đa khoa