Tư tưởng chính trị xã hội thời trần (1225 1400) (Tóm tắt, trích đoạn) - Pdf 42

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
======================

NGUYỄN THỊ THU HUYỀN

TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
THỜI TRẦN (1225-1400)

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học

Hà Nội - 2016


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
======================

NGUYỄN THỊ THU HUYỀN

TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
THỜI TRẦN (1225-1400)
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học

Mã số : 60220301

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thanh Bình

Hà Nội - 2016


KẾT LUẬN ........................................................................................................ 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................... 97
1


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chính trị là một phạm trù triết học và chính trị học dùng để chỉ công
việc cai trị, quản lý xã hội nhằm duy trì sự tồn tại xã hội trong vòng trật tự
và phát triển thông qua hoạt động của nhà nước và pháp luật. Chính trị mà
biểu hiện đặc biệt của nó là quyền lực nhà nước trực tiếp can thiệp và chi
phối các lĩnh vực khác nhau trong đời sống xã hội. Do đó, trong xã hội có
giai cấp, tư tưởng chính trị mà cấp độ cao là hệ tư tưởng chính trị là nền
tảng, là căn cứ lý luận, là nguyên tắc chủ đạo để giai cấp thống trị xây dựng
hệ thống quyền lực nhà nước của mình vì lợi ích giai cấp thống trị và lợi
ích dân tộc. Ở nước ta, đồng thời với phát triển kinh tế, xây dựng văn hóa,
phát triển khoa học công nghệ thì ổn định chính trị là điều kiện tiên quyết
để tiến hành các hoạt động khác trong xã hội.
Sau 30 năm đổi mới đất nước, trong bối cảnh hội nhập với nền kinh tế
khu vực và trên thế giới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Bên
cạnh những cơ hội phát triển mà quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế
đem lại thì quá trình này cũng dẫn đến những tranh chấp quyền lực, những
bất ổn về kinh tế chính trị, xã hội ở một số quốc gia trên thế giới, đặc biệt là
những quốc gia đang phát triển. Điển hình là các hoạt động tranh chấp,
xung đột cục bộ, hoạt động khủng bố quốc tế đang gây mất ổn định chính
trị ở khu vực và nhiều nơi trên thế giới như khủng bố ở Mỹ và các nước
phương Tây, khủng hoảng chính trị ở nhiều nước trên thế giới, tranh chấp
quyền lợi kinh tế và chính trị giữa các nước khu vực biển Đông… Do đó,
để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thành công, Đảng ta luôn khẳng
định, nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, còn nhiệm vụ ổn định chính

hệ thống pháp luật, quản lí và vận dụng sức mạnh của các tầng lớp trong xã
hội, khoan thư sức dân, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, tổ chức
quân sự và các chính sách ngoại giao trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

2


được thể hiện trong tư tưởng chính trị thời Trần đến nay vẫn có ý nghĩa và
giá trị nhất định trong đời sống chính trị đương đại. Để hoàn thiện và phát
huy hiệu quả vai trò của chính trị và hệ thống chính trị trong quá trình phát
triển đất nước hiện nay, việc tiếp thu, kế thừa tư tưởng chính trị của cha
ông ta trong lịch sử, đặc biệt là tư tưởng chính trị thời Trần là hết sức cần
thiết và bổ ích. Do vậy, luận văn chọn vấn đề “Tư tưởng chính trị - xã hội
Việt Nam thời Trần (1225 - 1400)” làm đề tài nghiên cứu của mình với
mong muốn làm sáng tỏ những điều kiện, tiền đề dẫn đến sự hình thành và
phát triển của tư tưởng chính trị thời Trần, những nội dung chủ yếu của tư
tưởng chính trị - xã hội thời Trần, từ đó nêu lên những giá trị cơ bản trong
tư tưởng chính trị thời Trần.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Từ trước tới nay, tìm hiểu tư tưởng chính trị thời Trần, đã có nhiều
công trình nghiên cứu, những bài viết dưới các phương diện, hình thức và
mức độ khác nhau. Liên quan đến đề tài luận văn có thể khái quát một số
công trình nghiên cứu tiêu biểu theo các hướng nghiên cứu sau:
Hướng thứ nhất: đó là các công trình nghiên cứu tư tưởng chính trị
thời Trần dưới góc độ lịch sử - xã hội, trước hết là những bộ sách sử lớn
hoặc viết về lịch sử Việt Nam thời Trần có giá trị về Khoa học lịch sử như:
- Việt Sử lược của Trần Quốc Vượng (Nxb.Văn Sử Địa, Hà Nội, 1960)
- Tìm hiểu xã hội Việt Nam thời Lý - Trần của Viện Sử học (Nxb.
Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981)
- Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1 và tập 2 (NXB. Khoa học xã hội, Hà

(Luận án tiến sĩ triết học của Vũ Văn Vinh, Viện Triết học, Hà Nội, năm 1999)
Hướng thứ ba: đó là các công trình nghiên cứu về tư tưởng chính trị
thời Trần dưới góc độ tư tưởng triết học.
- Lịch sử tư tưởng Việt Nam, (tập 1), do Nguyễn Tài Thư chủ biên,
Nbx. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993.

4


- Lịch sử tư tưởng Việt Nam của Nguyễn Đăng Thục (Nxb. Thành phố
Hồ Chí Minh, năm 1998)
- Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần của Trương
Văn Chung (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998)
- Đại cương lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, (tập 1), do Nguyễn
Hùng Hậu chủ biên (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002)
- Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam do Nguyễn Trọng Chuẩn chủ
biên (Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006)
- Tư tưởng Việt Nam thời Lý – Trần do Doãn Chính và Trương Văn
Chung chủ biên (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2008)
- Lịch sử tư tưởng chính trị - xã hội Việt Nam từ Bắc thuộc đến thời kỳ Lý
- Trần của Lê Văn Quán (Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2008)…
Kết quả của những công trình nghiên cứu kể trên là tài liệu khoa học
bổ ích cho tác giả trong việc nghiên cứu, kế thừa, phát triển những nội dung
cần trình bày trong luận văn của mình. Tuy nhiên, trong các công trình kể
trên, các tác giả chủ yếu tập trung phân tích khái quát các khía cạnh lịch sử,
văn hóa, tôn giáo, triết lý, tư tưởng của các nhà tư tưởng qua các triều đại
theo tiến trình lịch sử. Tiếp thu thành quả của các công trình trên, tác giả
luận văn cố gắng đi sâu vào nghiên cứu, trình bày những điều kiện, tiền đề
dẫn đến sự hình thành tư tưởng chính trị thời Trần cùng những nội dung tư
tưởng chính trị thời Trần một cách có hệ thống.

Việt Nam.
6. Kết cấu của luận văn
Với mục đích và nhiệm vụ trên, ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và
Danh mục tài liệu tham khảo, phần Nội dung của luận văn được kết cấu
thành 2 chương, 5 tiết.

6


PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI THỜI TRẦN
1.1. Bối cảnh xã hội hình thành tƣ tƣởng chính trị - xã hội thời Trần
1.1.1. Bối cảnh lịch sử, kinh tế, chính trị - xã hội Việt Nam thế kỷ
XIII - XIV
Về kinh tế và các hoạt động kinh tế thời Trần. Dựa trên các tài liệu
lịch sử, các nhà sử học đều thống nhất rằng, “cơ sở kinh tế của xã hội thời
Lý – Trần (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIII) về cơ bản là chế độ sở hữu nhà
nước về đất đai thông qua công xã nông thôn” [8, tr.14]. Dưới thời Trần,
kinh tế nông nghiệp nông thôn giữ vai trò chủ đạo, nổi bật là sự phát triển
mạnh mẽ của chế độ tư hữu về ruộng đất, dẫn đến sự xuất hiện tầng lớp địa
chủ, quí tộc nhà Trần. Do yêu cầu tăng cường sức mạnh của quốc gia và ổn
định xã hội, đời sống mà hàng năm, nhân dân và nhà nước thời kỳ này đều
chăm lo phát triển nông nghiệp. Bên cạnh đó, sự phát triển của nông nghiệp
cũng làm cho các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa ngày càng phát
triển, tiền tệ giữ vai trò quan trọng trong xã hội và việc mua bán ruộng đất
cũng dần được phổ biến hơn trong xã hội. Tất cả điều đó đã làm cho chế độ
ruộng đất nói chung và chế độ sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân về ruộng
đất nói riêng dưới thời Trần rất phát triển. Đồng thời, sự phát triển của nền
kinh tế cũng làm bộc lộ mầm mống của những mâu thuẫn mới trong quan

cho công thần của các vua Trần đã góp phần làm lộ diện mạnh mẽ hình
thức sở hữu tư nhân về ruộng đất dưới thời Trần…
Trên bước đường xây dựng một nhà nước ngày càng hoàn chỉnh, đến
thời nhà Trần, nhà nước định lệ cấp bổng cho các quan văn võ trong ngoài,
sử dụng ruộng đất công làng xã vào việc phong cấp cho quan lại, họ hàng,
cận thần và công thần của mình. Chính sách ban cấp ruộng đất và bổng lộc

8


của nhà Trần được thể hiện tiêu biểu nhất là thái ấp. Việc ban cấp thái ấp
chính là chính sách kinh tế quan trọng nhằm tạo ra cơ sở xã hội cho chính
quyền nhà Trần. Sử thần Ngô Sỹ Liên chép: “theo qui chế nhà Trần, các
vương hầu đều ở phủ đệ. Như Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp, Thủ Độ ở Quắc
Hương, Quốc Chẩn ở Chí Linh đều thế cả” [60, tr. 32]. Vua Trần Thái
Tông khi đỡ tội làm phản cho Trần Liễu, đã “lấy đất Yên Phụ, Yên Dưỡng,
Yên Sinh, Yên Hưng, Yên Bang cho Liễu làm ấp thang mộc” [60, tr. 16].
Thái ấp là tài sản riêng, thuộc sở hữu tư nhân của quí tộc, do đó sự tồn tại
của nó gắn chặt với triều đình, với dòng họ nhà Trần. Mặt khác, do nhu cầu
mở rộng diện tích canh tác và thực hiện chủ trương xây dựng, củng cố thế
lực của quí tộc nhà Trần, nhà nước chủ trương khai hoang, lập đồn điền ở
nơi đất hoang nhiều, dân cư thưa thớt. Chẳng hạn như vào tháng 10 năm
1266, nhà vua “xuống chiếu cho các vương hầu, công chúa, phò mã, cung
tần chiêu tập những người xiêu tán không có sản nghiệp làm nô tỳ để khai
khẩn ruộng hoang lập làm điền trang. Vương hầu có trang thực bắt đầu từ
đấy” [11, tr. 291]. Như vậy, người lao động chủ yếu trong các điền trang,
thái ấp là các nông nô, nô tỳ. Họ có thân phận khác nhau, có người là nô tỳ,
có người là nông dân bị lệ thuộc, hoặc là những người nô tỳ sau khi khai
khẩn đất hoang thành ruộng thì cho lấy nhau mà ở ngay đấy. Việc thực hiện
định lệ lập điền trang đã đẩy mạnh sự phát triển sở hữu lớn của quí tộc nhà

dựng các công trình thủy lợi, trị thủy, xây dựng hệ thống đê điều dọc sông
Hồng và các sông vùng đồng bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ. Như vào tháng
2 năm 1255, vua Trần Thái Tông đã “sai Lưu Miễn bồi đắp đê sông các xứ
ở Thanh Hóa” [11, tr. 282], đồng thời cho nạo vét kênh ngòi tạo điều kiện
thuận lợi để sản xuất, bảo vệ mùa màng, khắc phục thiên tai, phát triển
nông nghiệp. Sách Đại Việt sử ký toàn thư còn chép rằng: “Mùa xuân,
tháng giêng năm 1231, sai Nội minh tự Nguyễn Bang Cốc (hoạn quan) chỉ
huy binh lính phủ mình đào vét kênh Trầm và kênh Hào từ phủ Thanh Hóa

10


đến địa giới phía nam Diễn Châu” [60, tr. 13], vào tháng 3 năm 1248, vua
Trần Thái Tông “sai các lộ đắp đê giữ nước sông, gọi là đê đỉnh nhĩ (quai
vạc), đắp suốt từ đầu nguồn cho đến bờ biển để giữ nước lụt tràn ngập. Đặt
chức Hà đê chính phó sứ để trông coi. Chỗ đắp thì đo xem đắp vào mất bao
nhiêu ruộng đất của dân, theo giá trả lại tiền. Đắp đê đỉnh nhĩ (hình giống
cái quai vạc quai xanh) bắt đầu từ đấy” [11, tr. 278], tháng 2 năm 1284, vua
Trần Nhân Tông cho “vét sông Tô Lịch” [11, tr. 302] nhằm đảm bảo giao
thông và tưới tiêu cho các vùng xung quanh kinh thành. Hoặc như vào
tháng 6 năm 1248, vua Trần Thái Tông “Sai những nhà phong thủy đi xem
khắp các núi sông trong nước, chỗ nào có vượng khí thì dùng phép thuật để
trấn áp, như là đào sông Bà Mã (tức sông Mã ở tỉnh Thanh Hóa), sông Lễ
(sông Chu ở Thanh Hóa), đục núi Chiếu Bạc (thuộc huyện Hà Trung,
Thanh Hóa ngày nay) ở Thanh Hóa,v.v... còn lấp các khe kênh mở đường
ngang dọc thì nhiều không kể xiết. Đó là theo lời của Trần Thủ Độ” [11, tr.
278]. Như vậy, bên cạnh việc xây dựng và củng cố chính quyền, nhà Trần
có biện pháp nhanh chóng phục hồi sản xuất nông nghiệp, mở rộng thêm
diện tích canh tác thì một biện pháp khuyến khích nông nghiệp, phát triển
kinh tế được nhà Trần hết sức chú trọng đó là tổ chức làm thủy lợi trên

nhà nước nhiều lần xuống chiếu quy định việc thu thuế, thưởng phạt bằng
tiền. Trước sự phát triển mạnh mẽ của thủ công nghiệp và thương nghiệp
thời bấy giờ, nhà nước đã đặt ra các chính sách thu thuế theo sản phẩm, đặt
ty phụ trách kho lúa để thu mua thóc lúa của nhân dân, nghiêm trị những
người thu thêm thuế lụa, trả công thợ bằng tiền, thống nhất các đơn vị đo
lường, cho đào vét sông ngòi, đắp đường, làm cầu cống, xây dựng hệ thống
giao thông đường bộ và đường thủy để dễ dàng giao lưu, buôn bán. Nhà
Trần cũng rất chú trọng xây dựng mạng lưới thương nghiệp và thành thị,
xây dựng hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy, đồng thời với việc
phát triển các phủ lộ ở đồng bằng sông Hồng, như phố Luy Lâu bên bờ
sông Dâu (Bắc Ninh), phố Lố bên bờ sông Nghĩa Trụ (Hưng Yên). Đặc biệt

12


với vị trí trung tâm rất thuận lợi cho giao lưu buôn bán, Thăng Long đã
phát triển rất sầm uất. Tận dụng những cơ sở có từ thời Lý, nhà Trần đã tu
bổ thêm và phát triển đô thành Thăng Long trở thành một trung tâm kinh tế,
chính trị, văn hóa lớn nhất của Đại Việt thời bấy giờ. Sự phát triển của
Thăng Long đã có những ảnh hưởng, tác động đến các vùng ven, tạo sợi
dây liên kết về kinh tế, văn hóa giữa các vùng trong cả nước. Bên cạnh đó,
tận dụng mạng lưới sông ngòi dày đặc, đường bờ biển dài là mạch nối giữa
Đại Việt với các nước xung quanh và truyền thống giao thông vận tải bằng
thuyền trên sông nước của người Việt mà nhà Trần còn chú ý đến việc phát
triển các tuyến giao thông đường biển và các cảng biển như cảng Vân Đồn
(Quảng Ninh), các cảng biển ở Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa. Tất cả đã tạo những
điều kiện thuận lợi, ổn định để phát triển thương nghiệp và những ngành
nghề thủ công truyền thống thời bấy giờ.
Tóm lại, việc duy trì sự tồn tại song song hình thức công hữu (công
điền) và tư hữu (tư điền) đã giúp nhà Trần tập trung được toàn bộ của cải

vua Lý Anh Tông rằng: “Trong việc bỏ con nọ lập con kia, vua không mê
hoặc lời nói của đàn bà, ký thác được người phụ chính hiền tài, có thể gọi
là không thẹn với việc gánh vác. Song không phân biệt được kẻ gian tà,
không sáng suốt trong việc hình phạt, cho nên trời xuống tai biến để răn,
giặc cướp nổi lên, giềng mối rối loạn, không thể nói xiết” [11, tr. 232]. Các
vua lên ngôi đều nhỏ tuổi, chết yểu, ham thích tiền của, như vua Lý Cao
Tông “xây dựng không ngớt, ngao du không chừng mực, hàng ngày cùng
cung nữ dạo chơi làm vui, nghe ngoài thành có trộm cướp giả cách không
biết” [11, tr. 254], quyền hành triều chính dần dần nằm trong tay bọn quan
lại, mọt nước, hại dân. Trong khi “Người Tống sang cướp biên giới, dân ta
khó nhọc đối phó, giặc cướp dần nổi”, thì “Vua thì thích làm tiền, các quan
phần nhiều bán quan chức buôn hình ngục” [11, tr. 254]. Cùng với sự
khủng hoảng trầm trọng của đất nước và sự suy yếu của chính quyền trung

14


ương, là sự đói khổ, lầm than của đông đảo quần chúng nhân dân, những
người đang cam chịu sự bóc lột nặng nề nhằm phục vụ cho sự ăn chơi xa xỉ
của giai cấp thống trị; cam chịu nạn mất mùa, thiên tai liên tiếp xảy ra, năm
1156 “năm ấy đói to, một thăng gạo giá 70 đồng tiền” [11, tr. 243], năm
1208, dưới thời vua Lý Cao Tông trị vì (1176 – 1210) xảy ra hiện tượng
“Đói to, xác người chết đói nằm gối lên nhau” [11, tr. 255]. Bên cạnh đó,
các thế lực phong kiến nổi lên chống lại triều đình, chém giết lẫn nhau
hòng chia sẻ quyền lực, đất đai, chẳng hạn như vào tháng 2 năm 1212, lợi
dụng việc nhà vua Lý Huệ Tông sai đi chiêu mộ dân Châu Hồng để bắt
giặc cướp, Đoàn Thượng ( cùng vú nuôi với nhà vua) và là một hào trưởng
lớn, trấn giữ đất Hồng Châu (vùng Hải Dương – Hải Phòng) và nhân “thế
nước suy nhược, triều đình không có chính sách hay, mất mùa đói kém
luôn, nhân dân cùng khổ” đã tự tiện làm oai làm phúc,… nhóm họp bè

chính, đó là đẳng cấp quí tộc, tôn thất, quan lại trong chính quyền quân chủ;
đẳng cấp những người bình dân và đẳng cấp nô tỳ. Trong giai đoạn phồn thịnh
của nhà Trần, sự phân tầng xã hội là tương đối ổn định, nhưng càng về sau, do
những tác động, ảnh hưởng của các yếu tố chính trị, kinh tế, cũng như sự phát
triển tất yếu của lịch sử, mà những biến động, sự chuyển dịch và phân hóa các
giai tầng xã hội càng thể hiện rõ. Sở dĩ như vậy bởi vì, mỗi một tầng lớp tồn
tại trong xã hội đều mang những đặc điểm riêng, được qui định bởi các nhân
tố như: nguồn gốc xuất thân, địa vị chính trị trong xã hội, quyền lợi kinh tế và
mức độ hưởng thụ của cải xã hội… Đặc biệt, “một điều đáng lưu ý hơn nữa là
mỗi tầng lớp xã hội thời Trần đều mang đậm dấu ấn thời đại cùng với những
đặc điểm khác biệt, không hoàn toàn giống những người cùng giai tầng xã hội
với họ ở những thời đại trước hoặc sau đó” [48, tr.102].
Trước hết, trong nội bộ giai cấp thống trị đã phân hóa thành hai tầng
lớp, đó là tầng lớp quý tộc tôn thất nhà Trần và tầng lớp địa chủ quan liêu,

16


mà cụ thể là các nho sĩ trong bộ máy quản lí (nho quan) của nhà Trần. Đây
là hai tầng lớp có sự khác nhau về kinh tế và địa vị xã hội, bao gồm nhà
vua, các vương hầu quý tộc và quan lại các cấp. Trong kết cấu đẳng cấp,
nhà vua giữ vai trò đặc biệt, là người đứng ở vị trí trung tâm cộng đồng, có
quyền sở hữu tối cao về danh nghĩa đối với toàn bộ ruộng đất, tài sản của
đất nước; lãnh đạo và điều hành mọi công việc của nhà nước, từ kinh tế,
chính trị đến văn hóa, quân sự… Đặc biệt, ở thời Trần, vị trí độc tôn này cùng
do vua và Thái thượng hoàng nắm giữ. Tất cả các vua chỉ ở ngôi một số năm
rồi nhường ngôi cho con và lên làm Thái thượng hoàng. Việc làm này nhằm
đảm bảo vững chắc vị trí và khả năng nắm giữ chính quyền của dòng họ nhà
Trần, tránh những vụ tranh chấp ngai vàng trong hoàng tộc, đồng thời tập sự
cho vua trẻ điều hành việc triều chính. Trên danh nghĩa, họ giữ vai trò “cố

thượng phẩm, tước y theo bản đồ năm bậc tang (3 năm, 1 năm, 9 tháng)”
[11, tr. 292]. Và rút kinh nghiệm từ triều Lý, để đề phòng nạn ngoại thích,
nhà Trần đã cho thi hành chế độ hôn nhân đồng tộc có một không hai trong
lịch sử, nhằm củng cố chặt chẽ mối liên hệ huyết thống, biến nó thành một
tập đoàn thống trị độc quyền gia đình trị có cùng chung một lợi ích, gắn bó
mật thiết cùng nhau. Về vấn đề này, như vào tháng 1 năm 1268, vua Trần
Thánh Tông đã từng nói với người tôn thất rằng: “Thiên hạ là thiên hạ của
tổ tông, người nối nghiệp tổ tông nên cùng với anh em trong họ hưởng phú
quý; tuy bên ngoài thì là cả thiên hạ phụng sự một người tôn quý, nhưng
bên trong thì ta cùng với các khanh là đồng bào ruột thịt, lo thì cùng lo, vui
thì cùng vui, các khanh nên lấy câu nói ấy mà truyền cho con cháu để nhớ
lâu đừng quên, thế là phúc muôn năm của tôn miếu, xã tắc vậy” [11, tr.
292]. Như vậy, có thể nói, dưới thời Trần, tầng lớp quí tộc tôn thất đã giữ
một vai trò quan trọng, cùng với vua điều hành đất nước, tạo nên phương
thức cai trị chuyên chế dòng họ điển hình. Phương thức này thích ứng trong
một cơ chế phong kiến tập quyền mới được thành lập, tạo nên một thế lực

18


trung thành vừa được gắn bó bởi quan hệ huyết thống, vừa bị ràng buộc bởi
quan hệ vua tôi trong bộ máy chính quyền phong kiến quan liêu. Tuy vậy,
khi đất nước đi vào sự ổn định, phát triển thì đòi hỏi nhà Trần phải có một
sự quản lí, điều hành những công việc của đất nước một cách qui mô, toàn
diện hơn, nhất là về mặt hành chính và chuyên môn. Do đó, hệ thống quan
liêu cũng phải không ngừng được mở rộng, tầng lớp quý tộc quan liêu phải
được ra đời nhằm đáp ứng hiệu quả những nhu cầu mới của đất nước. Họ
chủ yếu là các nho sĩ và quan lại không thuộc dòng họ nhà Trần, không
được phong cấp đất đai và cũng không có nô tỳ. Họ được tuyển chọn chủ
yếu thông qua chế độ khoa cử Nho học. Các vua nhà Trần “chọn những

đặc quyền, đặc lợi của một đẳng cấp thống trị phong kiến bóc lột, có một
lối sống khác biệt về cơ bản với đông đảo quần chúng nhân dân. Mặc dù
vậy, dưới thời Trần, tầng lớp quí tộc quan liêu vẫn chưa hoàn toàn thoái
hóa, họ vẫn đóng vai trò nhất định, quan trọng trong công cuộc bảo vệ, xây
dựng đất nước. Tuy nhiên, do sự khác nhau về kinh tế và địa vị xã hội như
đã đề cập ở trên, do sự khác nhau về những ràng buộc với triều đình, cũng
như những mâu thuẫn về tư tưởng dần nảy sinh trong quá trình phát triển;
hai tầng lớp quí tộc tôn thất và địa chủ quan liêu cũng đòi hỏi ở nhà Trần
một lý luận chính trị để liên kết họ thành một khối vững chắc, để có thể sử
dụng được tài năng trí tuệ của họ, đồng thời củng cố, bảo vệ được ngai
vàng của dòng họ mình.
Xã hội Đại Việt dưới thời Trần, bên cạnh sự hình thành tầng lớp quí
tộc tôn thất, quan liêu là sự mở rộng tầng lớp bình dân bao gồm ngoài đông
đảo những người nông dân sống trong các làng xã, là thợ thủ công và
thương nhân sống chủ yếu ở các đô thị hay các làng nghề truyền thống, là
các nho sĩ, sư tăng hay đạo sĩ… Phần lớn các tầng lớp này là lực lượng sản
xuất chính làm ra của cải vật chất cho xã hội, đồng thời gánh vác hầu hết
các nghĩa vụ xã hội như: nộp tô thuế cho nhà nước, đắp đê chống lụt, tham

20


gia quân đội… Từ thế kỷ XIV trở đi, cùng với quá trình phát triển thì sự
phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc trong xã hội, xuất hiện việc chiếm
đoạt ruộng đất nông dân của quý tộc như “Trần Thị Thái Bình là cung tần
của Thượng hoàng, tính tham lam, thường chiếm đoạt ruộng đất của nhân
dân” [60, tr. 102], sự kiệt quệ của quốc khố do mất mùa, thiên tai và chiến
tranh thuế má tăng cao mà nhiều nông dân bị bần cùng hóa. Trong những
năm đói kém, họ nổi lên cướp bóc, năm 1317 “bấy giờ trộm cướp bắt đầu
nổi lên” [60, tr. 102], và trở thành những người xiêu tán, khiến cho cộng

kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp cùng với sự phân
hóa tương đối ổn định về kết cấu giai cấp trên bình diện xã hội đã tạo
cho nước Đại Việt thời Trần một thế nước vững mạnh. Sự hưng thịnh
ấy một mặt đã được thể hiện đậm nét trong đường lối trị nước của các
vua Trần; mặt khác, nhà nước và nhân dân thời kỳ này cần đến một lý
luận chính trị mới được xây dựng vừa dựa trên nhu cầu củng cố, khôi
phục và phát triển kinh tế, ổn định trật tự xã hội, vừa dựa trên những
chuẩn mực đạo đức của giai cấp thống trị, lấy quan hệ gần gũi, chan
hòa thân tình giữa nhân dân và vua quan làm cơ sở để đề ra những chủ
trương, chính sách kinh tế - xã hội phù hợp với tình hình phát triển và
để dưới nền tảng lý luận ấy, các tầng lớp nhân dân đều có thể cống hiến
hết sức lực, tài năng cho sự nghiệp xây dựng đất nước và để các vua
Trần có thể phát huy được sức mạnh tổng hợp của dân tộc với tinh thần
“vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, nước nhà góp sức, giặc tự bị bắt”
[11, tr. 330], tạo thành một khối vững chắc làm nên sự ổn định và đạt
nhiều thành tựu của xã hội Đại Việt trên tất cả các lĩnh vực kinh tế,
chính trị, văn hóa… và đặc biệt là ba lần đại thắng kẻ thù hung bạo, tô
đậm nét vàng son cho đất nước.
Cũng như nhà Lý trước kia, sau một thời kỳ thịnh trị, cuối nhà Trần
mà rõ nhất là từ thời vua Trần Dụ Tông trị vì (1341 – 1369) trở đi, thế chao

22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status