VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ HỒNG NHUNG
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI TÀI NGUYÊN VÙNG BỜ
BIỂN CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội.
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN LÊ TUẤN
Phản biện 1: PGS.TS. Bùi Văn Huyền
Phản biện 2: TS. Lê Anh Vũ
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại: Học viện Khoa học Xã hội vào lúc:
9 giờ, ngày 13 tháng 4 năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
Thư viện Học viện khoa học xã hội
khoảng 30 km, có vịnh Đà Nẵng rộng 11.600 ha nằm chắn bởi sườn núi Hải
Vân và Sơn Trà, và nằm trên các tuyến đường biển quốc tế. Và Đà Nẵng có
ngư trường rộng 15.000 km2, có huyện đảo Hoàng Sa với diện tích hơn
30.500 ha. Thành phố Đà Nẵng là cửa ngõ thông ra biển của miền Trung và
Tây Nguyên (UBND Đà Nẵng, 2014).
1
Vùng biển Đà Nẵng có các nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú, mang
tính đặc thù, có giá trị kinh tế lớn. QLTN, môi trường biển ở thành phố Đà
Nẵng trong những năm gần đây đã có nhiều tiến bộ. Thành phố đã xây dựng
và tổ chức thực hiện nhiều chương trình, đề án QLTN biển. Song, quá trình
thực hành quản lý cũng đã bộc lộ một số hạn chế như hiệu lực quản lý chưa
đủ mạnh, chưa xây dựng và đề xuất đầy đủ các căn cứ có tính chiến lược
phục vụ các quy hoạch phát triển liên quan đến biển, quản lý quá trình phát
triển kinh tế biển và vùng bờ còn chịu ảnh hưởng của cách tiếp cận đơn
ngành, coi trọng lợi ích trước mắt, chưa coi trọng lợi ích lâu dài.
Muốn quản lý tài nguyên biển để có thể khai thác một cách hiệu quả,
bền vững phải nghiên cứu, chuẩn bị về cơ sở khoa học, khảo sát cẩn thận
thực tế. Với mong muốn đóng góp phần nhỏ bé vào quá trình nghiên cứu
đó, Luận văn “Quản lý nhà nước đối với tài nguyên vùng bờ biển của
thành phố Đà Nẵng” được chọn làm đối tượng nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu liên đề tài
Liên quan đến QLTN biển đã có khá nhiều bài báo, luận văn thạc sĩ, tiến
sĩ, công trình nghiên cứu được công bố. Số lớn trong những công trình đó tiến
hành nghiên cứu về tài nguyên và quản lý phát triển, bảo vệ tài nguyên môi
trường biển, đảo và vùng bờ của Việt Nam nói chung, thành phố Đà Nẵng nói
riêng. Và có một số báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học có đề cập đến quản
lý, khai thác vùng bờ của thành phố Đà Nẵng Có thể điểm qua một số công
phương tương đồng và rút ra những bài học kinh nghiệm cho Đà Nẵng.
- Phân tích, đánh giá thực trạng tài nguyên, QLNN đối với tài nguyên
vùng bờ ở Đà Nẵng trong những năm gần đây.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường QLNN đối với tài nguyên
vùng bờ tại Đà Nẵng trong những năm tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đó là các hoạt động QLNN về bảo vệ, khai thác
tài nguyên, môi trường vùng bờ phân cấp cho thành phố Đà Nẵng.
Phạm vi khảo sát là các Sở, ngành có liên quan đến QLNN về bảo vệ,
khai thác tài nguyên vùng bờ của thành phố Đà Nẵng.
Về thời gian, nghiên cứu thực trạng được thực hiện trong giai đoạn 05
năm tính đến 2016, các đề xuất cho giai đoạn 2017 - 2020.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Quá trình triển khai nghiên cứu đề tài dựa trên khung lý thuyết sau:
Mục tiêu QLNN đối với tài nguyên, môi trường vùng bờ biển là xây
dựng và thực hiện các cơ chế, chính sách, công cụ nhằm QLTH tài nguyên,
điều hòa, cân bằng giữa phát triển kinh tế với các vấn đề xã hội, bảo vệ tài
nguyên môi trường, bảo vệ an ninh, quốc phòng trên cơ sở giải quyết có
hiệu quả các vấn đề liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên, phòng
ngừa thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu (BDKH), bảo vệ, duy trì
những chức năng của đới bờ biển, góp phấn kiến tạo phát triển. Tuy nhiên,
trong thực tế quản lý chưa đạt được mục tiêu đó nên phải tìm kiếm giải
pháp theo các hướng:
- Nhận thức đúng về nội dung, bộ máy, phương thức QLTN, bảo vệ
môi trường biển, đảo và vùng bờ.
3
- Học hỏi kinh nghiệm ở trong và ngoài nước.
1.1.1. Khái quát về tài nguyên vùng bờ
1.1.1.1. Khái niệm tài nguyên vùng bờ
- Khái niệm vùng bờ
Theo Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 2015, vùng bờ là
khu vực chuyển tiếp giữa đất liền hoặc đảo với biển, bao gồm vùng biển
ven bờ và vùng đất ven biển. Vùng bờ là nơi các quá trình sinh thái phụ
thuộc vào sự tác động lẫn nhau giữa đất liền và biển, các tác động này diễn
ra khá phức tạp và nhạy cảm. Vùng ven bờ thường được hiểu như là nơi
tương tác giữa đất và biển, bao gồm các môi trường ven bờ cũng như vùng
nước kế cận. Vùng bờ là trung tâm kinh tế quốc gia, là nơi mà phần lớn các
hoạt động về kinh tế, xã hội diễn ra và cũng là nơi chịu tác động của các
hoạt động này nhiều nhất.
Cho đến nay, chưa có một định nghĩa nào được chấp nhận rộng rãi về
vùng bờ. Thay vào đó, nhiều định nghĩa được xây dựng cho những mục
đích quản lý khác nhau, trong đó vấn đề ranh giới cần được xem xét. Đối
với giới hạn về phía biển, vùng ven bờ có thể mở rộng ra tới vùng lãnh hải,
một số nước khác thì lấy đường đẳng sâu làm giới hạn. Còn về ranh giới đất
liền thì cũng rất mơ hồ do tác động của biển vào khí hậu có thể vào đến
vùng nội địa bên trong cũng như vùng đồng bằng ngập lụt rộng lớn. Tùy
thuộc vào mục đích phát triển và quản lý, ranh giới vùng ven bờ có thể
được xác định một cách thực tế hơn.
1.1.1.2. Phân loại tài nguyên vùng bờ
- Phân loại theo tính chất, tài nguyên vùng bờ: được chia thành tài
nguyên sinh vật và phi sinh vật, tiềm năng vị thế,...
- Phân loại theo mức độ tái tạo: tài nguyên tái tạo và không tái tạo.
- Phân loại theo giá trị kinh tế: Tài nguyên hữu hình và Tài nguyên vô
hình.
- Phân loại theo nguồn gốc: Tài nguyên thiên nhiên và Tài nguyên
nhân tạo.
1.1.1.3. Ý nghĩa của khai thác và bảo vệ tài nguyên vùng bờ trong phát
tham mưu và các bộ phận cấp dưới.
(5) Tổng hợp tình hình khai thác, bảo vệ và phục hồi tài nguyên trên
phạm vi tỉnh, trên cơ sở đó xây dựng và thực thi quy hoạch QLTN nguồn
lợi của tỉnh vì mục tiêu quản lý thống nhất và PTBV.
Tại Điều 74 của Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo: Trách
nhiệm QLTH tài nguyên và bảo vệ môi trường biển và hải đảo của UBND
các cấp để thấy rõ hơn.
1.1.2.3. Vai trò của QLNN cấp tỉnh đối với tài nguyên vùng bờ
Được thể hiện trong việc chỉ đạo tổ chức bảo vệ tài nguyên vùng bờ và
phân phối lợi ích sử dụng tài nguyên giữa chủ thể quản lý tài sản và xã hội.
Tổ chức khai thác và sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên VB quốc gia.
6
Ngoài ra, nhà nước cấp tỉnh còn có thể phối hợp với quốc tế thực hiện vai
trò QLNN về tài nguyên trên địa bàn của tỉnh mình quản lý.
1.1.3. Mục tiêu QLNN đối với tài nguyên vùng bờ
Mục tiêu tổng quát: Thực hiện QLNN nhằm đánh giá, thống kê, bảo
vệ, phục hồi và khai thác, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên vùng biển
theo hướng bền vững, đảm bảo sự cân bằng giữa phát triển KT-XH.
- Mục tiêu KT - XH: QLNN đối với tài nguyên vùng bờ nhằm (1) đảm
bảo nguồn lợi tài nguyên không cạn kiệt; (2) Tăng cường công tác nghiên
cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu; (3) Xây dựng các chính sách ưu đãi; (4) Hoàn
chỉnh hệ thống văn bản luật pháp bảo vệ môi trường, ban hành các chính
sách phát triển KT-XH.
- Mục tiêu môi trường: nhằm hạn chế tác động tiêu cực của phát triển
kinh tế xã hội, của việc sử dụng và khai thác tài nguyên đến suy thoái chất
lượng và làm ô nhiễm môi trường.
- Mục tiêu an ninh, quốc phòng: Nhằm đáp ứng được nhu cầu khẳng
triển khai quy hoạch xuống các cấp dưới thì hình thức chỉ đạo trực tiếp.
- Các sở, ban ngành có liên quan: Theo phân cấp nhà nước, các Sở ban
ngành liên quan đến quản lý vùng bờ bao gồm Sở Tài nguyên và Môi
trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
Ngoài ra, một dạng cơ quan quan trọng khác có liên quan đến chương
trình QLTN là các trường đại học, trung tâm và viện nghiên cứu. Những tổ
chức này có đóng góp rất lớn vào hoạt động QLNN đối với tài nguyên
thông qua các hoạt động như lập các báo cáo đánh giá tác động môi trường,
nghiên cứu các luận cứ khoa học để xây dựng chiến lược, chính sách, quy
chế và pháp quy liên quan đến bảo vệ tài nguyên vùng bờ.
1.2.2.2. Cán bộ quản lý tài nguyên vùng bờ cấp tỉnh
- Yêu cầu đặc thù đối với cán bộ QLTN vùng bờ: là phải có năng lực
và hiểu biết về QLTN, nắm bắt được phương pháp QLTN phục vụ QLNN,
hiểu được tình hình KT - XH, chính trị và văn hóa khu vực, đồng thời biết
cách liên hệ những ưu nhược điểm của tình hình tại địa phương trong việc
quản lý tài nguyên; nắm bắt được hệ thống pháp luật của nhà nước và các
quy định của địa phương về QLTN. Riêng đối với vùng bờ, cán bộ QLTN
phải có kinh nghiệm QLTH về tài nguyên đất, tài nguyên nước và tài
nguyên sinh vật.
- Nhiệm vụ của cán bộ quản lý tài nguyên vùng bờ:
+ Tiến hành thực hiện các biện pháp hành chính trong QLNN đối với
tài nguyên vùng bờ;
+ Tìm hiểu đặc điểm về hiện trại của tất các các loại tài nguyên vùng
bờ tại địa bàn mình quản lý;
+ Tìm hiểu tính hình KT - XH, chính trị và văn hóa của địa phương
mình quản lý;
+ Xác định những vấn đề cần phải thực hiện trong QLTN, tham mưu
cho cấp trên để ra quyết định quản lý phù hợp với thực tế của địa bàn QL;
+ Thực hiện các biện pháp QLNN đối với tài nguyên VB trong khu
vực và lĩnh vực mình phụ trách;
- Kinh nghiệm của Busan, Hàn Quốc (PEMSEA, 2003).
Quá trình QLTH VB ở Busan (Hàn Quốc) được thực hiện theo mô
hình của PEMSEA. Chương trình QLTHVB của Busan được triển khai
trong bối cảnh chính quyền địa phương phải đối mặt với những vấn đề nan
giải như tính phức tạp của chính sách, pháp luật; sự cạn kiệt về tài nguyên
và nguồn lợi; quá trình quy hoạch phát triển không thể thực.
Quá trình xây dựng kế hoạch hành động QLTHVB cho Busan làm một
bước triển khai chiến lược quốc gia về QLTHVB của Hàn quốc.
- Kinh nghiệm của Penang, Sarawak và Sabah, Malaysia (Siry,
2006)
Chính phủ Malaysia coi trọng QLTHVB như là một giải pháp hữu hiệu
9
để phát triển bền vững vùng bờ.
Về cơ cấu tổ chức nhà nước, đã hình thành Ủy ban điều hành quốc gia
EPU & DANCED, trong đó có Nhóm Quản lý dự án Tổ chức Liên bang
giúp việc. Dưới sự điều hành của Ủy ban này có 4 ban QLTHVB.
Tại Sabah, việc thực hiện dự án tiến hành theo 3 pha của QLTHVB.
Pha khởi đầu nhằm xây dựng nhiệm vụ chi tiết, đồng thuận tham gia, liên
kết xây dựng ban kỹ thuật.
1.3.2. Kinh nghiệm trong nước
QLTHVB mới chỉ được giới thiệu ở thập kỷ 90 của thế kỷ trước, khi
Việt Nam tham gia Chương trình Khu vực về ngăn ngừa và quản lý ô nhiễm
môi trường các biển Đông Á (GEF/UNDP/IMO/MPP-EAS). Theo thời
gian, trên cơ sở học tập kinh nghiệm một số quốc gia, tranh thủ sự giúp đỡ
của các tổ chức quốc tế, Việt Nam đã từng bước tiến hành nhiều hoạt động
nhằm đưa mô hình QLTHVB áp dụng vào thực tiễn quản lý thông qua một
số dự án. Trong số đó phải kể đến dự án VVA do Vương quốc Hà Lan hỗ
Trang, Cam Ranh.
- Kinh nghiệm của Quảng Nam
Quảng Nam là dự án trình diễn đầu tiên về QLTHVB do các nhà khoa
học và chuyên gia Việt Nam tự thực hiện theo mô hình PEMSEA. Mô hình
QLTHVB 5 bước được triển khai với 2 dự án khác nhau, bước 1 và 2 được
thực hiện bởi Cục Môi trường, bước 3, 4, 5 được thực hiện do Viện Hải
dương học.
Với nhận định vùng bờ Quảng Nam là một hệ thống phức tạp của các
hệ sinh thái nhạy cảm, đan xen về các nguồn tài nguyên có tầm quan trọng
chiến lược đối với lợi ích kinh tế, xã hội của tỉnh, nếu áp dụng đồng bộ và
đúng thời điểm, QLTH đới bờ sẽ giúp cho việc đầu tư hợp lý và sử dụng lâu
bền đới bờ và các hệ tài nguyên thiên nhiên ở địa phương.
1.3.3. Bài học rút ra cho Đà Nẵng
- Bài học về nhận thức, tầm nhìn.
- Bài học về tạo dựng năng lực quản lý.
- Bài học về điều phối liên ngành.
- Bài học về huy động nguồn lực phục vụ quản lý.
- Bài học quý giá nhất trong việc QLTN VB là phát hiện và bồi dưỡng
nhân tố tích cực làm hạt nhân trong việc tuyên truyền, mở rộng và nâng cao
hiệu quả quản lý và khai thác tài nguyên.
Tóm lại, QLNN đối với tài nguyên VB nói chung, quản QLTH vùng
ven bờ nói riêng, được thực hiện bởi chủ thể quản lý là nhà nước bằng các
biện pháp luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật và công cụ bỗ trợ thích
hợp kết hợp với sự tham mưu/tham vấn của các bộ phận kỹ thuật nhằm khai
thác nguồn lợi, tài nguyên VB một cách hợp lý và đảm bảo PTBV. Đối với
trường hợp cụ thể là TP Đà Nẵng, việc triển khai các biện pháp QLNN đối
với TN VB không phải là áp dụng nguyên bản những mô hình thành công
về QLNN về TN trên thế giới và các địa phương khác trong nước, mà phải
đánh giá một cách chi tiết đặc điểm cụ thể của mình để có thể xây dựng
nguồn nhân lực phù hợp, triển khai các biện pháp kỹ thuật hợp lý trong bảo
Hoạt động khai thác khoáng sản, phát triển công nghiệp đóng tàu, nuôi
trồng, khai thác, chế biến hải sản, xây dựng các khu kinh tế tập trung, khu
công nghiệp và khu chế xuất ven biển cũng góp phần thúc đẩy cho sự phát
triển kinh tế của Đà Nẵng.
Ngoài ra theo các kết quả nghiên cứu gần đây, vùng biển Đà Nẵng còn
có tiềm năng lớn để phát triển khai thác hải sản và dầu khí (Lê Anh Thắng,
2009).
2.1.3.2. Tầm quan trọng về an ninh, quốc phòng
Đà Nẵng có vị trí chiến lược quan trọng về quân sự, là điểm tựa chính
cho các tuyến phòng thủ bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam. Do đó,
12
vịnh Đà Nẵng được định hướng vừa là trọng tâm phát triển KT- XH, đảm
bảo an ninh quốc phòng của địa phương, các vùng lân cận trong nước và
với các nước trong khu vực (Lê Anh Thắng, 2009).
Vịnh Đà Nẵng là vịnh lớn (tổng diện tích 116km2) với độ sâu trung
bình 15m, cấu tạo bờ là cát và đá gốc rắn chắc nên có tầm chi phối đối với
biển Đông rất lớn (Lê Anh Thắng 2009). Chính vì những lí do trên mà Đà
Nẵng được xếp vào vịnh có vị trí chiến lược cấp I (có thể đặt các căn cứ hải
quân lớn) tương đương với các vịnh Bái Tử Long, Hạ Long, Cam Ranh.
2.1.3.3. Tầm quan trọng về chính trị - xã hội
Với những nguồn tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên vị thế của mình,
thành phố Đà Nẵng đang dần trở thành trung tâm hành chính – chính trị
trọng điểm của khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Đà Nẵng được công
nhận là đô thị trực thuộc quốc gia của Việt Nam.
Nguồn lợi từ việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên ven bờ
Đà Nẵng đã trở thành nguồn thu nhập cho dân cư tại đây. Do đó đã nâng
cao thu nhập đời sống vật chất, góp phần xóa đói giảm nghèo cho người
- Khu vực đô thị cũ
- Khu ven biển Tây Bắc
- Khu ven biển phía Đông
- Khu vực phía Tây
- Khu vực bán đảo Sơn Trà
- Khu vực phía Nam
- Khu vực đồi núi phía Tây và huyện đảo Hoàng Sa
2.2.2. Thực trạng tổ chức bảo vệ các tài nguyên vùng bờ của Đà Nẵng
2.2.2.1. Thực trạng bảo vệ các hệ sinh thái ven biển và nguồn lợi thuỷ
sản.
2.2.2.2. Tăng cường chức năng QLTN tại các khu bảo tồn thiên nhiên
2.2.2.3. Thực trạng xác định các vùng dễ tổn thương và đe dọa bởi thảm
họa
2.2.2.4. Thực trạng thực hiện các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu tác
hại do thảm họa
2.2.2.5. Thực trạng bảo tồn các giá trị quan trọng về xã hội, văn hoá và
lịch sử ở vùng bờ
2.2.2.6. Thực trạng xây dựng và triển khai các giải pháp tổng thể phục
hồi các hệ sinh thái đặc thù ở vùng bờ
2.2.2.7. Mức độ hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật phục vụ QLNN về
tài nguyên vùng bờ
Quản lý các ngành kinh tế biển là vấn đề mang tính liên ngành, liên
vùng và trên thực tế đã được lồng ghép trong nhiều văn bản quy phạm pháp
luật có liên quan. Tuy nhiên, đến nay nước ta vẫn chưa có một hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật riêng đầy đủ về vấn đề QLTN - môi trường biển,
quản lý phát triển kinh tế biển.
Với vị thế địa phương có biển, Thành phố Đà Nẵng đã không ngừng
tập trung phát triển các ngành kinh tế biển và đã hình thành được qui mô
kinh tế biển nhất định, góp phần trong tổng thể phát triển chung nền kinh tế
thành phố. Trong bối cảnh này các nhà quản lý đều mong muốn xây dựng
- Thực trạng giám sát thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch
khai thác và bảo vệ tài nguyên vùng bờ.
- Thực trạng kiểm soát, quản lý các nguồn thải gây ô nhiễm, bảo
vệ tài nguyên và môi trường nước ngầm, nước sông, nước biển ven
bờ.
- Thực trạng xử lý vi phạm và khiếu nại về khai thác và bảo vệ
tài nguyên vùng bờ.
2.2.5. Thực trạng bộ máy và cán bộ QLTN VB của Đà Nẵng
2.2.5.1. Thực trạng bộ máy QLTN vùng bờ của Đà Nẵng
15
Sở TN&MT
Phòng QL
KS&TNN
Chi cục
BVMT
Thanh
tra Sở
UBND
tỉnh
UBND
quận/huyện
Phòng
Tham mưu
Phân cấp QLNN về tài nguyên vùng bờ Đà Nẵng
2.2.5.2. Thực trạng cán bộ QLTN vùng bờ của Đà Nẵng
Đội ngũ cán bộ QLTN vùng bờ của Đà Nẵng hiện nay khoảng 300 cán
bộ chuyên trách và kiêm nhiệm phân bổ tại UBND tỉnh, các sở TN&MT, sở
NN&PTNT, các chi cục, BQL các khu bảo tồn, BQL các khu công nghiệp,
UBND quận/huyện, các phòng ban trực thuộc và UBND cấp xã.
Như vậy, việc QLNN về tài nguyên được thực hiện chặt chẽ từ cấp
thành phố ñến phường xã, có sự tham gia đồng thời của nhiều ban ngành,
tạo điều kiện thuận lợi cho công tác QLTN được sâu sát với từng ngành,
từng địa phương. Tuy nhiên, cơ sở vật chất phục vụ công tác QLNN về tài
nguyên chưa được hoàn thiện, trình độ năng lực hạn chế, số lượng cán bộ
còn khá mỏng sẽ dẫn đến kết quả là hoạt động này sẽ không thống nhất và
mang tính lệ thuộc.
2.3. Đánh giá chung về QLNN đối với tài nguyên VB của Đà Nẵng
2.3.1. Thành công trong QLNN đối với tài nguyên VB của Đà Nẵng
Tại Đà Nẵng, triển khai chương trình QLTH vùng ven bờ đã tạo được
cơ chế phối hợp đa ngành để QLTN và môi trường vùng bờ: phân loại rác
thải tại nguồn; nâng cao nhận thức cộng đồng về làm sạch bãi biển; quan
trắc môi trường; điều tra khảo sát các nguồn tài nguyên biển; lập dự án
16
thành lập khu bảo tồn rạn san hô tại khu vực Nam bán đảo Sơn Trà; ngăn
ngừa và giảm ô nhiễm rác thải…
Từ đó, Đà Nẵng đã dần hình thành một nhận thức mới trong cộng đồng
về vấn đề bảo vệ TNMT; xây dựng hồ sơ môi trường vùng bờ thành phố, hệ
thống quản lý thông tin tổng hợp, đánh giá rủi ro môi trường; xây dựng cơ
17
2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế trong QLNN đối với tài nguyên vùng
bờ của Đà Nẵng
Trình độ và nhận thức của cán bộ QLNN với tài nguyên VB..
Phương thức đào tạo..
Trình độ và nhận thức của người dân và các chủ thể khai thác và sử
dụng tài nguyên vùng bờ.
Tóm lại, với mục tiêu “Phát triển thành phố Đà Nẵng trở thành thành
phố cấp quốc gia, hiện đại; là đô thị trung tâm góp phần thúc đẩy phát triển
KT XH vùng miền Trung và Tây Nguyên”, Đà Nẵng có nhiều điều kiện tự
nhiên, tài nguyên và nguồn lợi phục vụ cho việc phát triển kinh tế đa ngành.
Tuy nhiên, nguồn tài nguyên này đa dạng về chuẩn loại và thiếu về số
lượng. Hơn nữa, trong những năm qua, do quá trình khai thác không vì mục
tiêu bền vững, một số loại tài nguyên tự nhiên và nhân tạo đang bị suy giảm
cả chất lượng lẫn số lượng. Bên cạnh đó, do chức năng quản lý của các cơ
quan chồng chéo hoặc lĩnh vực quản lý quá rộng, do lực lượng quản lý yếu
(chuyên môn và kinh nghiệm) và mỏng, cơ chế và chế tài pháp lý chưa hợp
lý, dẫn đến công tác quản lý chưa được thực hiện một cách liên tục và hiệu
quả chưa cao. Thêm vào đó, trình độ người dân địa phương vùng bờ chưa
cao, và với việc chạy theo lợi ích kinh tế trong khai thác và sử dụng tài
nguyên mà không chú ý đến việc bảo vệ và phục hồi nguồn lợi. Điều này là
nguyên nhân chính yếu dẫn đến cạn kiệt tài nguyên và gây ô nhiễm môi
trường vùng bờ.
Tuy nhiên, với năng lực và công cụ hỗ trợ hiện có, lực lượng cán bộ
QLNN trong những năm qua đã đạt được những kết quả đánh khích lệ, như
tuyên truyền và vận động người dân tham gia QLTN; giám sát, quan trắc và
cảnh báo ô nhiễm môi trường; phân vùng quy hoạch sử dụng tài nguyên đất,
quả tiêu cực. Thêm vào đó, tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ tạo điều kiện và
phương tiện phù hợp để nâng cao chất lượng môi trường sống. Đây là điều
kiện cần và đủ để vừa khai thác tài nguyên vùng bờ, vừa bảo vệ tài nguyên
vì mục đích PTBV.
3.1.2. Phƣơng hƣớng tăng cƣờng QLNN đối với tài nguyên vùng bờ của
Đà Nẵng
3.1.2.1. Hoàn thiện văn bản hướng dẫn người dân khai thác và bảo vệ tài
nguyên vùng bờ
3.1.2.2. Hoàn thiện bộ máy và cán bộ QLTN VB
3.1.2.3. Nâng cao nhận thức của người dân về trách nhiệm bảo vệ TNVB.
19
3.2. Giải pháp hoàn thiện QLNN với tài nguyên vùng bờ của Đà Nẵng
3.2.1. Cơ sở khoa học của các giải pháp QLNN đối với tài nguyên VB
Thách thức lớn nhất và quan trọng nhất trong quá trình quản lý và phát
triển kinh tế biển là tác động tiêu cực đến môi trường và nguồn lợi thủy
sinh.
Do đó, trong quá trình thực hiện quản lý, chiến lược quản lý và giải
pháp thực hiện cần phải triển khai trên quan điểm PTBV và dựa trên đặc
điểm và quy luật tự nhiên. Trong tư duy mới này, có sự phối hợp nhịp
nhàng giữa việc QLNN và môi trường như xây dựng cơ chế, ban hành
chính sách để triển khai quá trình quản lý. Các cán bộ và cơ quan nhà nước
thực thi quản lý thông qua việc giám sát các chủ thể hưởng lợi trong việc
bảo vệ, phục hồi và khai thác tài nguyên bằng các công cụ pháp luật và biện
pháp tuyên truyền; Còn việc thực thi quá trình quản lý trực tiếp nguồn lợi
nên giao cho các chủ thể hưởng lợi kèm theo trách nhiệm và quyền lợi hợp
lý. Nhận thức về việc bảo vệ, phục hồi và khai thác tài nguyên vùng bờ
trong việc xây dựng chính sách, đào tạo nhân lực và thực hiện quản lý cũng
Cán bộ quản
lý nhà nước
Hệ thống dữ
liệu tổng hợp
Phân tích
không
gian
Phân tích
định tính
Hệ thống ra quyết
định
Người dùng
Sơ đồ GIS phục vụ công tác QLTN
3.2.3. Huy động nguồn tài chính phục vụ QLNN đối với tài nguyên VB
Hoạt động QLNN đối với tài nguyên VB nhằm đạt được mục đích phát
triển bền vững. Tuy nhiên đầu tư cho quản lý tài nguyên vùng bờ phải chấp
nhận tốn kém, rủi ro. Song nó mang lại hiệu quả vô cùng to lớn cho PTBV
kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Do đó, kinh phí thực hiện các nhiệm vụ QLNN đối với tài nguyên vùng bờ
phải được huy động đầu tiên từ NSNN. Quá trình huy động kinh phí không
phải là trách nhiệm riêng của thành phố mà còn phải có sự hỗ trợ của các
nguồn vốn viện trợ không hoàn lại (ODA), từ các chương trình hợp tác
nghiên cứu quốc tế.
Một kênh quan trọng trong quá trình huy động vốn thực hiện nhiệm vụ
là từng bước và hoàn toàn xã hội hóa các hoạt động QLTN VB. Để phát
huy hiệu quả nguồn vốn xã hội hóa cần phải xây dựng chính sách khuyến
khích mọi thành phần tham gia công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên vùng
nghiệp, cộng đồng dân cư ở địa phương.
3.2.6. Xây dựng các chƣơng trình nghiên cứu và phát triển về cải thiện
sinh kế cho các cộng đồng cƣ dân vùng bờ.
Hợp tác với các nhà khoa học và nhà quản lý liên quan, tạo mạng lưới
liên kết với các cá nhân, các tổ chức, các tình nguyện viên, hỗ trợ các hoạt
động trong lĩnh vực QLTN vùng ven biển. Tăng cường xây dựng tiềm lực
cho các cơ quan nghiên cứu, QLTN VB. Từng bước khắc phục tình trạng
lạc hậu, thiếu đồng bộ về phương pháp, thiết bị khảo sát và phân tích. Chú
trọng đào tạo cán bộ khoa học, chuyên gia và lao động chuyên nghiệp về
QLTN VB từ các trường Đại học, dạy nghề và thông qua các dự án phát
triển. Từng bước xây dựng lực lượng nghiên cứu đủ mạnh về QLTN VB để
đáp ứng kịp với chương trình phát triển KT - XH của thành phố Đà Nẵng.
Triển khai các nghiên cứu liên quan đến QLTN và môi trường vùng bờ
làm cơ sở cơ sở khoa học hỗ trợ cho cán bộ QLNN và cộng đồng trong lĩnh
vực QLTN và môi trường, đồng thời cung cấp thông tin phản hồi nhằm tác
22
động tới chính sách QLTN vùng ven biển.
Chia sẻ bài học kinh nghiệm trong xây dựng và vận hành mô hình cấp
cơ sở về QLTN VB bền vững, nhân rộng ra các địa bàn hoạt động khác
trong tỉnh.
Nghiên cứu xây dựng hệ thống nghề phù hợp với điều kiện tự nhiên,
nguồn lợi của địa phương, từ đó có thể triển khai nhằm tạo sinh kế cho
người dân một khi xác định nghề của họ có tác động tiêu cực đến tài
nguyên và môi trường vùng bờ.
Tăng cường hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ trong điều kiện
toàn cầu hoá để hội nhập và thực thi các công ước quốc tế liên quan đến
quản lý tài nguyên vùng bờ.