Sáng kiến VẬN DỤNG MỘT SỐ PHẦN MỀM MỚI CỦA MICROSOFT VÀO DẠY HỌC NGỮ VĂN ĐỂ PHÁT HUY NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH - Pdf 42

SỞ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO NAM ĐỊNH
TRƯỜNG THPT CHUYÊN LÊ HỒNG PHONG

(TÊN CƠ QUAN, ĐƠN VỊ CHỦ QUẢN)

(TÊN CƠ QUAN ÁP DỤNG SÁNG KIẾN)

BÁO CÁO SÁNG KIẾN

(Tên sáng kiến)

SÁNG KIẾN DỰ THI CẤP TỈNH

VẬN DỤNG MỘT SỐ PHẦN MỀM MỚI CỦA
MICROSOFT
VÀO DẠY HỌC NGỮ VĂN
Tác giả:...................................................................
độ chuyên
môn:...........................................
ĐỂ PHÁT Trình
HUY
NĂNG
LỰC CỦA HỌC SINH
Chức vụ:.................................................................
Nơi công tác:...................................................................

Đồng tác giả: Vũ Thanh Huyền
Nguyễn Thị Hồng
Trần Hải Tú
Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ Ngữ văn
Chức vụ:

Nơi thường trú: 53 Nguyễn Thi, Thống Nhất, Nam Định
Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ Ngữ Văn
Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong
Địa chỉ liên hệ: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong
Điện thoại: 0917350299
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: …….%
6. Đồng tác giả
Họ và tên: Trần Hải Tú
Năm sinh:
Nơi thường trú:
Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ Ngữ Văn
2


Chức vụ công tác: Giáo viên
Nơi làm việc: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong
Địa chỉ liên hệ: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong
Điện thoại:
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến: …….%
7. Đơn vị áp dụng sáng kiến:
Tên đơn vị: Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong
Địa chỉ: Phường Vị Xuyên- Nam Định
Điện thoại: 03503640297

MỤC LỤC
3


STT

52
52
61
62

Chương I Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến

4


1. Xuất phát từ định hướng đổi mới dạy và học trong trường phổ thông:
Trong bối cảnh mới của xã hội hiện đại, nền kinh tế tri thức phát triển, để đáp ứng
yêu cầu của xu hướng toàn cầu hóa, đổi mới là một đòi hỏi bức thiết, trong đó giáo dục
được ưu tiên hàng đầu. Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục
là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền
giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng
tạo của người học. Định hướng quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học
(PPDH) là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động,
năng lực cộng tác làm việc của người học. Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong
cải cách PPDH ở nhà trường phổ thông.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng
hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng
của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập
trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập
nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp
sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa,
nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong
dạy và học”. Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo
Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới phương


Chương II Mô tả giải pháp
6


I. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
1. Việc vận dụng công nghệ thông tin vào dạy và học môn Ngữ văn hiện nay:
a. Do đặc thù môn học là quá trình làm thức dậy những xúc cảm thẩm mỹ, hình
thành những năng lực chuyên biệt như ngôn ngữ, giao tiếp, tạo lập văn bản…nên vận
dụng công nghệ thông tin (CNTT) không được nhiều, là công việc đòi hỏi sự khéo
léo, linh hoạt của người giáo viên. Mặt khác, trong quá trình vận dụng, còn tồn tại
nhiều quan điểm cực đoan. Đôi khi, giáo viên coi việc sử dụng CNTT là để thay thế
cho phần viết bảng và lời trình bày của mình nên đã chuyển toàn bộ nội dung bài học
vào máy, rồi chiếu lên màn hình.
Vì thế, khi lên lớp, giáo viên Ngữ văn trở thành kỹ thuật viên điều khiển
chương trình hoạt động; còn học sinh, thay vì tham gia các hoạt động khám phá bài
học, thực hiện các thao tác cụ thể để nắm bắt kiến thức khoa học và kỹ năng thực
hành, các em chỉ việc ngồi đọc màn hình, nghe phần âm thanh cài sẵn, đơn thuần như
là những khán giả. Với quan niệm giản đơn này, CNTT gần như không có ý nghĩa gì
đối với việc góp phần thay đổi phương pháp dạy học thụ động.
Ở một trình độ sử dụng CNTT khá hơn, đôi khi giáo viên thiết kế những bài học
với những chế độ kỹ thuật phức tạp; trang trí cầu kì, bắt mắt; nhiều hình ảnh, nhiều
chuyển động, nhiều đường link….

Hình 1: Một slide của bài học Văn học Việt Nam từ X – XIX.
Theo quan điểm này, giờ học Ngữ văn không còn thể hiện tính đặc thù của bộ
môn, không xuất phát và hướng tới các tri thức Ngữ văn cần đạt mà đơn thuần là buổi
trình diễn thành tựu của CNTT. Điều này chỉ có tác dụng kích thích tính tò mò, hiếu kì
7


động phản biện và giải quyết các vấn đề không thường gặp trong tình huống mới.
Từ thực tiễn cách học trên, học sinh đã chủ động và thực sự hứng thú hơn,
năng lực tư duy được rèn luyện nhiều hơn, đặc biệt các năng lực hợp tác, năng lực
8


thẩm mỹ, và năng lực giải quyết thực tiễn, năng lực sử dụng và ứng dụng CNTT đã
được rèn luyện.
- Từ kết quả trên, chúng tôi sẽ mạnh dạn ứng dụng trong nhiều đối tượng học
sinh và trong nhiều hình thức học tập hơn. Hy vọng sẽ đem đến một hình ảnh mới
trong học tập và trải nghiệm bộ môn Ngữ văn, phát triển năng lực người học sinh
II. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến:
1. Về nhận thức tư tưởng
a. Nhận thức về công nghệ thông tin và vai trò của CNTT trong dạy học
môn Ngữ văn
- Nhận thức về quan niệm về ứng dụng CNTT trong dạy học văn: Trước kia, do
quan niệm giản đơn, người dạy coi ứng dụng CNTT chỉ đơn thuần là soạn giảng
những giáo án điện tử bằng phần mềm PP và sử dụng máy vi tính để soạn giảng. Đến
nay, khái niệm CNTT được hiểu sâu rộng hơn, là một giải pháp trong mọi hoạt động
liên quan đến đến hoạt động nghiên cứu, soạn giảng; lưu trữ, tìm kiếm, trao đổi, chia
sẻ kinh nghiệm và tài nguyên học tập… Và cao hơn, với E-Learning, hoạt động dạy và
học ngày nay được diễn ra mọi lúc, mọi nơi. Trên lớp, ở nhà, ngay tại góc học tập của
mình học sinh vẫn có thể nghe thầy cô giảng, vẫn được giao bài và được hướng dẫn
làm bài tập, vẫn có thể nộp bài và trình bày ý kiến của mình…
- Nhận thức đúng về mối quan hệ giữa tích hợp CNTT và đổi mới phương pháp
dạy học Ngữ văn. Đó là: không phải cứ có CNTT tham gia vào việc dạy học thì giờ
học đó được coi là giờ học đổi mới; mục tiêu của tích hợp CNTT vào giờ dạy học để
thúc đẩy các hoạt động dạy học, tích cực hóa vai trò của người học. Cần khẳng định
rằng, CNTT chỉ là một phương tiện hỗ trợ việc dạy học. Các bài học Ngữ văn trong
chương trình dạy học ở trường phổ thông hiện nay tự bản thân đã mang tính tích hợp

thức.
Thứ 2. Vận dụng công nghệ thông tin vào tìm kiếm tài liệu, tra cứu thông tin
trên mạng Internet
- Càng ngày, việc tìm kiếm thông tin trên mạng Internet càng phổ biến, vì
Internet có thể coi là một kho tài liệu phong phú và đa dạng trên tất cả mọi lĩnh vực,
trong đó có văn học.
- Chúng tôi hướng dẫn học sinh đọc, in trực tiếp hoặc lưu trữ các bài viết, bài
giảng, giáo trình, công trình nghiên cứu khoa học, sách điện tử bằng cách download.
Đặc biệt, việc tham khảo những web dành riêng cho một nhà văn, nhà thơ (Hồ Biểu
Chánh, Nguyễn Huy Thiệp, Bích Khê…) còn giúp học sinh mở rộng vốn tri thức văn
học của bản thân. Chúng tôi có thể hướng dẫn cho học sinh truy cập các website về
văn học để tìm kiếm tài liệu tham khảo, tra cứu thông tin như: http://evan.com.vn;
http://www.vienvanhoc.org,vn; http://vannghesongcuulong.org.vn; http://vhvn.com;
10


http://ngonngu.net;

http://phongdiep.net;

http://www.vanchuongviet.org;

http://phebinhvanhoc.com.vn; Ngoài ra, đối với học sinh chuyên, chúng tôi hướng dẫn
các em tham khảo thêm những sách điện tử, giáo trình điện tử qua những web phục vụ
học và dạy học môn Văn như: http://www.nlv.gov.vn (trang web của Thư viện Quốc
gia);http://www.thuvien.net (mạng thư viện Việt Nam); http://www.saharavn.com
(siêu thị sách trực tuyến lớn nhất Việt Nam); http://www.docsach.dec.vn (thư viện trực
tuyến để đọc và dowload hàng ngàn đầu sách miễn phí); http://worldebookfair.com
(một trong những thư viện điện tử lớn nhất thế giới với trên 330.000 đầu sách, 100
ngôn ngữ); http://tulieu.edu.vn (website chia sẻ tư liệu dạy học với hơn 60.000 mục tư

b. Nhận thức đúng về dạy học theo hướng phát triển năng lực của người học sinh
Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền
giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú
trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người
học. Định hướng quan trọng trong đổi mới PPDH là phát huy tính tích cực, tự lực và
sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học. Đó
cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách PPDH ở nhà trường phổ thông. Nghị
quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào
tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại;
phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người
học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách
học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri
thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình
thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học.
Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”.Giáo dục
định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục
tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức
trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các
tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp. Chương trình này nhấn mạnh vai trò của
người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức.

Chương trình định hướng nội Chương trình định hướng phát triển
dung
Mục

năng lực

tiêu Mục tiêu dạy học được mô tả Kết quả học tập cần đạt được mô tả chi

giáo dục

học. HS tiếp thu thụ động những Chú trọng sự phát triển khả năng giải
tri thức được quy định sẵn.

quyết vấn đề, khả năng giao tiếp,…;
- Chú trọng sử dụng các quan điểm,
phương pháp và kỹ thuật dạy học tích
cực; các phương pháp dạy học thí
nghiệm, thực hành

Hình

thức Chủ yếu dạy học lý thuyết trên Tổ chức hình thức học tập đa dạng; chú

dạy học

lớp học

ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa,
nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng
tạo; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin và truyền thông trong dạy và
học

Đánh

giá Tiêu chí đánh giá được xây dựng Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu

kết quả học chủ yếu dựa trên sự ghi nhớ và ra, có tính đến sự tiến bộ trong quá trình
tập của HS tái hiện nội dung đã học.


tiến hay thay thế các giải pháp không còn phù hợp; so sánh và bình luận được về các
giải pháp đề xuất. Suy nghĩ và khái quát hoá thành tiến trình khi thực hiện một công
việc nào đó; tôn trọng các quan điểm trái chiều; áp dụng điều đã biết vào tình huống
tương tự với những điều chỉnh hợp lý.
Hứng thú, tự do trong suy nghĩ; chủ động nêu ý kiến; không quá lo lắng về tính
đúng sai của ý kiến đề xuất; phát hiện yếu tố mới, tích cực trong những ý kiến khác.
- Năng lực tự quản lý
Nhận ra được các yếu tố tác động đến hành động của bản thân trong học tập và
trong giao tiếp hàng ngày; kiềm chế được cảm xúc của bản thân trong các tình huống
ngoài ý muốn.
Ý thức được quyền lợi và nghĩa vụ của mình; xây dựng và thực hiện được kế
hoạch nhằm đạt được mục đích; nhận ra và có ứng xử phù hợp với những tình huống
không an toàn.
Tự đánh giá, tự điều chỉnh những hành động chưa hợp lý của bản thân trong
học tập và trong cuộc sống hàng ngày.
Đánh giá được hình thể của bản thân so với chuẩn về chiều cao, cân nặng; nhận
ra được những dấu hiệu thay đổi của bản thân trong giai đoạn dậy thì; có ý thức ăn
14


uống, rèn luyện và nghỉ ngơi phù hợp để nâng cao sức khoẻ; nhận ra và kiểm soát
được những yếu tố ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ và tinh thần trong môi trường sống và
học tập.
- Năng lực giao tiếp
Bước đầu biết đặt ra mục đích giao tiếp và hiểu được vai trò quan trọng của
việc đặt mục tiêu trước khi giao tiếp.
Khiêm tốn, lắng nghe tích cực trong giao tiếp; nhận ra được bối cảnh giao tiếp,
đặc điểm, thái độ của đối tượng giao tiếp.
Diễn đạt ý tưởng một cách tự tin; thể hiện được biểu cảm phù hợp với đối
tượng và bối cảnh giao tiếp.

nội dung chủ đề thuộc chương trình học tập; đọc hiểu nội dung chính hay nội dung chi
tiết các văn bản, tài liệu ngắn; viết đúng các dạng văn bản về những chủ đề quen thuộc
hoặc cá nhân ưa thích; viết tóm tắt nội dung chính của bài văn, câu chuyện ngắn;
Phát âm đúng nhịp điệu và ngữ điệu; hiểu từ vựng thông dụng được thể hiện
trong hai lĩnh vực khẩu ngữ và bút ngữ, thông qua các ngữ cảnh có nghĩa; phân tích
được cấu trúc và ý nghĩa giao tiếp của các loại câu trần thuật, câu hỏi, câu mệnh lệnh,
câu cảm thán, câu khẳng định, câu phủ định, câu đơn, câu ghép, câu phức, câu điều
kiện; c) Đạt năng lực bậc 2 về 1 ngoại ngữ
- Năng lực tính toán
Sử dụng được các phép tính (cộng, trừ, nhân, chia, luỹ thừa, khai căn) trong
học tập và trong cuộc sống; hiểu và có thể sử dụng các kiến thức, kỹ năng về đo lường,
ước tính trong các tình huống quen thuộc.
Sử dụng được các thuật ngữ, kí hiệu toán học, tính chất các số và của các hình
hình học; sử dụng được thống kê toán học trong học tập và trong một số tình huống
đơn giản hàng ngày; hình dung và có thể vẽ phác hình dạng các đối tượng, trong môi
trường xung quanh, nêu được tính chất cơ bản của chúng.
Hiểu và biểu diễn được mối quan hệ toán học giữa các yếu tố trong các tình
huống học tập và trong đời sống; bước đầu vận dụng được các bài toán tối ưu trong
học tập và trong cuộc sống; biết sử dụng một số yếu tố của lôgic hình thức để lập luận
và diễn đạt ý tưởng.
Sử dụng được các dụng cụ đo, vẽ, tính; sử dụng được máy tính cầm tay trong
học tập cũng như trong cuộc sống hàng ngày; bước đầu sử dụng máy vi tính để tính
toán trong học tập.
Từ các phẩm chất và năng lực chung, mỗi môn học xác định những phẩm chất,
và năng lực cá biệt và những yêu cầu đặt ra cho từng môn học, từng hoạt động giáo
dục.
c. Nắm vững những ưu việt trong khai thác một số phần mềm mới
16



ứng dụng web chạy trực tiếp từ trình duyệt của bạn, Office Online sẽ chạy trên tất cả
mọi nền tảng từ Linux, Chromebook, đến iPad và tablet Android. Nó cũng không đòi
hỏi cài đặt bất kỳ plug-in đặc biệt nào và hoạt động trên bất kỳ trình duyệt web phổ
biến như Firefox, Chrome và Safari mà không chỉ riêng trên Internet Explorer của
Microsoft.

Hình 3: Những sản phẩm của Office Online
Cũng giống như Google Docs, nó được cung cấp miễn phí cho người dùng, các
ứng dụng dựa trên web và chạy trực tiếp từ trình duyệt của bạn. Ưu điểm đầu tiên là
phiên bản trực tuyến đã được lược bỏ rất nhiều tính năng để giảm thiểu dung lượng tải
về và rút ngắn thời gian chờ đợi khi người dùng yêu cầu được sử dụng. Vì vậy, những
tính năng của Office 365 trên “mây” chỉ đủ để phục vụ một phần nào nhu cầu của
công việc soạn thảo cơ bản. Nó được dùng để hỗ trợ tạo các bài thuyết trình, các tài
liệu và bảng tính. Và quan trọng là Office Online sẽ lưu tài liệu của bạn trong các định
dạng tập tin Microsoft Office như DOCX, XLSX và PPTX. Do đó mà Office Online
có khả năng tương thích tốt hơn với các tập tin Microsoft Office mà bạn đang sử dụng
trên máy tính. Điều này thì Google Docs chưa hoàn hảo được như Office Online. Hơn
nữa, giao diện của phần mềm này gần gũi và thân thiện với người dùng Office ở máy
tính bàn. Trơn tru, mượt mà, tốc độ nhanh và cực kỳ thông minh là những gì Office
365 mang đến cho bạn. Office 365 có thể gợi ý bạn ở những tình huống cần thiết, như
lỗi chính tả khi soạn thảo, gợi ý hàm khi tính toán,…; nhờ đó bạn sẽ làm việc hiệu quả
18


hơn khi sử dụng Office 365. Các thao tác bôi đen để chọn vùng dữ liệu, tính toán và
xử lý trong Excel cũng có tốc độ nhanh hơn hẳn các phiên bản cũ.
Một ưu điểm tuyệt vời khác là Office 365 tăng cường thêm chế độ save to
OneDrive giúp bạn có thêm một bản copy được lưu trữ trên đám mây một cách an toàn
và tiện dụng khi chia sẻ. Chính vì thế, ngay từ khi mới ra đời, Office Online đã được
các nhà giáo dục tiếp cận và sử dụng trong việc soạn thảo giáo án và giảng dạy.

trong nhóm cập nhật Notebook. Một Notebook được chia sẻ sẽ rất hiệu quả để giúp
nhóm xem những thông tin đã được chia sẻ. Nó thực sự cần thiết và hữu hiệu trong
hoạt động học tập theo nhóm, trong những bài học dự án.
Còn OneDrive là một dịch vụ lưu trữ trực tuyến miễn phí của Microsoft, đối
với người dùng thông thường thì có thể được miễn phí lên đến 35G, hoặc với người
dùng thuê bao Microsoft Office 365 thì mức lưu trữ là 1Tera byte (~1000Gb). (Thời
điểm 11/2014). OneDrive có tính năng nổi bật là lưu trữ và chia sẻ thông tin ở bất cứ
nơi nào, thời gian nào. Người dùng có thể lưu trữ bất kỳ loại tập tin nào trên
OneDrive, bao gồm cả hình ảnh, video, các tệp văn bản và sau đó dễ dàng truy nhập
chúng từ bất kỳ máy tính hoặc thiết bị di động nào có kết nối Internet. OneDrive cũng
sắp xếp các tập tin theo loại, mang lại sự tiện dụng và dễ dàng tìm thấy những gì người
dùng cần.
Thông thường, muốn lưu trữ tài liệu của mình, người dùng có thể gửi email tài
liệu lên hòm thư trực tuyến hoặc sử dụng ổ đĩa Flash USB. Còn với OneDrive, cho dù
người dùng làm việc trên máy tính xách tay hay làm việc trên một bài thuyết trình,
xem hình ảnh trên máy tính bảng hoặc trên điện thoại, người dùng đều nhận được tệp
tin của mình trên OneDrive, chỉ cần thiết bị làm việc có kết nối mạng Internet.
Nếu trong Google Drive, người dùng sẽ nhận được 15GB dung lượng lưu trữ,
bao gồm cả hình ảnh, video, tài liệu, các file Photoshop và nhiều loại tập tin khác. Tuy
nhiên, người dùng sẽ phải chia sẻ nó với tài khoản Gmail, Google+ và cũng như các
tập tin mà bạn đã tạo trong Google Drive. Điểm mạnh nhất của OneDrive chính là
được tích hợp với các ứng dụng Microsoft Office như Word, PowerPoint. Nếu bạn sử
dụng phần mềm Office 365, khi mở một tài liệu được lưu trong OneDrive, người dùng
có thể chỉnh sửa chúng cùng với những người khác trong cùng một thời gian. Người
dùng cũng có thể nhìn thấy rõ được những thay đổi mà người khác đang thực hiện.

20


Hình 4: Tệp lưu trữ One Drive.

So với các công cụ biên tập và lưu trữ tài liệu trực tuyến như Google docs,
SlideShare, Scribd thì Docs. com còn vượt trội hơn. Nhờ sự kết nối của Docs.com với
Facebook, những tài liệu trên Docs.com có thể được chia sẻ và chỉnh sửa bởi bạn bè
của người dùng một cách dễ dàng, thuận tiện.
Một ưu điểm nữa, Docs.com được xây dựng trên nền tảng của Microsoft Office
2010 của hệ điều hành windown mà chúng ta quen dùng nên giao diện làm việc của
Docs.com rất thân thiện với người sử dụng. Bởi vậy, Docs.com hứa hẹn sẽ là một công
cụ hỗ trợ đắc lực cho giáo viên và học sinh trong tương lai.
Ngoài ra, người sử dụng phần mềm của hãng này còn đặc biệt quan tâm tới bộ
công cụ Office mix. Office Mix là phần mềm văn phòng nổi tiếng nhất thế giới khi mà
nó mang lại năng suất làm việc tốt nhất cho giới văn phòng và giáo viên trên lớp học.
Office Mix được coi là một add-in cho Power Point 2013 giúp tăng cường khả năng
trình chiếu video và thực hiện các bài học tương tác hướng tới những người dùng trong
lĩnh vực giáo dục.

Hình 5: Giao diện của Office mix
Theo phương pháp truyền thống, để ghi lại âm thanh và video của một giờ
giảng, người giáo viên phải sử dụng nhiều công cụ hỗ trợ như máy quay phim, máy
22


ghi âm, ghi hình… thì với Office mix, toàn bộ nội dung buổi thuyết trình, giờ học sẽ
được ghi lại một cách nhanh chóng, đơn giản nhất và được chia sẻ cho người xem. Đặc
biệt, giáo viên khi sử dụng công cụ này có thể vừa thuyết trình vừa ghi chú trên slide,
chèn vào các câu hỏi, thăm dò ý kiến, tích hợp video trực tuyến và nhiều tính năng
khác. Chức năng vừa giảng vừa ghi chú giúp cho bài thuyết trình trở nên dễ hiểu, sinh
động. Chức năng hỗ trợ tạo câu hỏi và bài kiểm tra đánh giá, giúp người giáo viên có
thể thấy được mức độ tiếp thu bài của người học. Office Mix hỗ trợ chèn một loạt các
câu hỏi, bài tập nhỏ, các điểm cần lưu ý sau bài giảng, các gợi ý, bộ đếm ngược thời
gian, hỗ trợ trộn các câu hỏi trong bài kiểm tra trắc nghiệm. Ngoài ra, một tính năng

Ví dụ: Khi soạn thảo văn bản ở Word hoặc tính toán trong Excel hoặc bất cứ
chương trình nào nào thì chúng ta luôn phải làm động tác quen thuộc là vào File\Save
hoặc dùng tổ hợp Ctrl+S để save văn bản hay bảng tính… Nhưng với OneNote thì
chúng ta sẽ tạm quên khái niệm này, trong OneNote sẽ không thấy menu để làm công
việc save vì OneNote đã tự động save mọi thứ cho chúng ta. Quá trình đồng bộ hóa dữ
liệu sẽ diễn ra theo thời gian thực, mọi thay đổi của chúng ta trên OneNote đều sẽ
được đồng bộ ngay lập tức. Vì thế, khi làm việc ở trên một thiết bị khác, dữ liệu lưu
trữ của chúng ta không bị thiếu hụt.
Đặc biệt, việc đồng bộ hóa dữ liệu trên OneDrive của Mircosoft còn giúp người
dùng làm việc cả khi trực tuyến và khi ngoại tuyến, khi có kết nối Internet hoặc không
có kết nối. Trong khi đó, dữ liệu đồng bộ trên Google Docs không làm việc được khi
ngoại tuyến nếu thiếu công cụ từ Memeo.
Như vậy, để đáp ứng nhu cầu dạy và học trong thế kỉ XXI, người giáo viên
không chỉ giỏi chuyên môn mà cần luôn cập nhật những phần mềm mới vào dạy học
24


và nghiên cứu. Điều đó, đòi hỏi người giáo viên cần phải nâng cao năng lực tự học, tự
nghiên cứu của bản thân.
2. Giải pháp trọng tâm
a. Học và thực hành đồng bộ các phần mềm mới trong giáo viên và học sinh
Muốn đào tạo được những công dân toàn cầu, công dân hiện đại, bản thân giáo
viên phải là người đi tiên phong trong các kĩ năng của thế kỉ 21. Hiện nay các phần
mềm mới liên tục ra đời, liên tục được nâng cấp thành các phiên bản mới với các tính
năng ưu việt hơn. Vì vậy việc cập nhật và học cách sử dụng các phần mềm mới là yêu
cầu bắt buộc đối với người dạy. Khi giáo viên đã biết sử dụng CNTT thành thạo, GV
cần chuyển giao công nghệ ấy cho học sinh thì mới có thể áp dụng một cách đồng bộ
CNTT trong dạy học. Những cách chúng tôi đã áp dụng để lan tỏa được ý thức sử
dụng CNTT và cập nhật các phần mềm mới trong nhà trường như sau:
a1. Mời chuyên gia của Miccrosoft về tập huấn cách sử dụng các phần mềm mới cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status