1. Tên sáng kiến : Dạy học hóa học theo trạm nhằm phát triển năng lực học sinh.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến : chương “ Tốc độ phản ứng và cân bằng hoá học”, thuộc
chương trình lớp 10, ban cơ bản.
3. Thời gian áp dụng sáng kiến : năm học 2013 – 2014.
4. Tác giả
Họ và tên : Nguyễn Thị Hiền
Năm sinh : 1987
Địa chỉ thường trú : Yên Chính, Ý Yên, Nam Định
Trình độ chuyên môn : Cử nhân sư phạm hóa học.
Chức vụ công tác : Giáo viên
Nơi làm việc : Trường THPT Mỹ Tho – Ý Yên – Nam Định.
Điện thoại : 0906 172 845.
Tỷ lệ đóng góp tạo ra sáng kiến : 100%
5. Đồng tác giả : không có.
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến :
- Các lớp 10a9, 10a10 năm học 2013 – 2014, trường THPT Mỹ Tho.
- Địa chỉ : Ý Yên – Nam Định.
- Điện thoại : 03503 825 970 ; 03503 825 642.
1
MỤC LỤC
I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
trang 3
II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP:
1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
trang 5
2. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
trang 8
3. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến.
3.3.3. Nội dung và thực nghiệm
3.3.4. Đánh giá kết quả thực nghiệm
III. HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN ĐEM LẠI
trang 31
1. Với việc dạy học của giáo viên.
2. Với việc học của học sinh
KẾT LUẬN
trang 31
IV. CAM KẾT KHÔNG SAO CHÉP HOẶC VI PHẠM BẢN QUYỀN
trang 32
2
I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Trong những năm gần đây, đổi mới phương pháp dạy học đang là một chủ đề nóng
của giáo dục, được xã hội đặc biệt quan tâm. Xã hội nói chung và đội ngũ giáo viên trực
tiếp giảng dạy nói riêng đã có rất nhiều ý kiến trái chiều nhau về tính khả thi của sự đổi
mới này. Số người đồng tình có rất nhiều, song những người băn khoăn cũng không ít. Đó
là một điều tất yếu! Từ xưa tới nay, chưa có một sự đổi mới nào diễn ra trong tuyệt đại đa
số đồng thuận, đổi mới là một cuộc cách mạng không đơn giản và dễ dàng. Với tư cách là
một thành viên trong hệ thống giáo dục, tôi nhận thấy bản thân mình phải có trách nhiệm
hòa mình với những băn khoăn, trăn trở chung đó, để tự có cái nhìn thấu đáo từ lí luận
đến thực tiễn về sự cấp thiết và tính khả thi của việc phải đổi mới phương pháp dạy học.
Sự phát triển kinh tế – xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới
đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế
hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực. Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới
giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang
một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động,
sáng tạo của người học. Định hướng quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học là
vài kiểu dạy học phân hoá để làm quen dần với các bước thiết kế bài dạy theo hưóng “lấy
học sinh là trung tâm của quá trình dạy học”. Tôi nhận thấy không phải bất kì một bài
giảng hóa học nào cũng lựa chọn cách thức dạy học giống nhau. Giữ nguyên một tiêu chí
là “phát huy tích tích cực hoạt động”, “khuyến khích phát triển năng lực nhận thức của
học sinh”, tùy vào đặc trưng của từng bài mà ta lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp.
Trong thời gian vừa qua, đã có rất nhiều sáng kiến của các anh chị đồng nghiệp
nghiên cứu về dạy học theo góc áp dụng cho những bài nghiên cứu về chất cụ thể. Nhưng
chưa có đề tài nào chọn lựa đổi mới phương pháp trong chương có nội dung kiến thức lí
thuyết tổng quát và có các nội dung tương đối độc lập với nhau, ví dụ như chương “ Tốc
độ phản ứng và cân bằng hóa học” thuộc hóa học lớp 10. Sau khi nghiên cứu về mặt lý
luận của các hình thức dạy học tích cực, đặc điểm của chương học, tôi đã đặc biệt chú ý
đến cách thức tổ chức dạy học theo trạm để phát triển năng lực của học sinh. “ Dạy học
theo trạm” là một trong số các kiểu dạy học phân hoá, tổ chức nội dung dạy học thành
từng nhiệm vụ nhận thức độc lập của các nhóm / học sinh khác nhau. Phương pháp này
tập trung vào "tự chủ và tự học", rèn luyện thói quen tự lực giải quyết vấn đề cho học
sinh, rất phù hợp với các môn học tự nhiên. Có rất nhiều tài liệu nghiên cứu ứng dụng của
phương pháp này trong dạy học môn vật lý, tuy nhiên chưa từng tìm thấy các bài viết, bài
giảng trong dạy học hoá học. Vậy, dạy học theo trạm có áp dụng trong hóa học được
không?, có thể áp dụng vào những nội dung nào?, áp dụng như thế nào?, hiệu quả so với
phương pháp cũ như thế nào?...
Xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh trên đây, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Dạy học
hóa học theo trạm nhằm phát triển năng lực học sinh” để nghiên cứu lí luận và thực
nghiệm với hi vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy
học trong thời gian tới. Trong báo cáo này, tôi sẽ chỉ ra cơ sở lí luận, tính thiết thực, cách
thức thực hiện và hiệu quả phát triển năng lực học sinh của phương pháp dạy học theo
trạm, áp dụng cho dạy học chương “ Tốc độ phản ứng và cân bằng hoá học” thuộc
chương trình hoá học lớp 10 ban cơ bản.
4
một trình tự từ cơ bản đến nâng cao, và học sinh chủ yếu làm việc cá nhân, có rất ít sự
tương tác giữa trò – thày, giữa trò – trò. Do đó việc dạy học chủ yếu vẫn là truyền thụ một
chiều, thông báo kiến thức mang tính đồng loạt, thiên về lý thuyết, xa rời thực tiễn, tập
trung ôn luyện kiến thức đáp ứng kiểm tra thi cử, chưa thực sự quan tâm đến việc hình
thành thói quen tự học, tự khám phá kiến thức, phát triển tư duy sáng tạo, năng lực giải
quyết vấn đề... cho người học.
5
Sự cần thiết phải đổi mới
* Những đòi hỏi của xã hội
Hiện nay, với sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin, kiến thức không còn
là tài sản riêng của trường học. Học sinh có thể tiếp nhận các thông tin từ nhiều kênh,
nguồn khác nhau. Các nguồn thông tin đa chiều mà người học có thể tiếp nhận đã đặt giáo
dục trước yêu cầu cấp bách là cần phải đổi mới cách dạy và cách học.
Công nghệ thông tin không chỉ có chức năng cung cấp thông tin mà nó còn là công
cụ hỗ trợ tích cực trong dạy và học, là phương tiện dạy học hiện đại, hữu ích và hiệu quả.
Công nghệ thông tin giúp cho người học mở rộng hiểu biết với tầm nhìn xa, trông rộng
qua hệ thống Internet kết nối thông tin trong nước và toàn thế giới.
Vấn đề đặt ra với nhà trường là làm thế nào để học sinh có thể làm chủ, tự lực chiếm
lĩnh kiến thức, tích cực, chủ động, sáng tạo, có kĩ năng giải quyết những vấn đề nảy sinh
trong cuộc sống. Đó thực sự là những thách thức lớn đối với ngành giáo dục nói chung,
nhà trường, giáo viên nói riêng. Giáo viên không chỉ là người mang kiến thức đến cho học
sinh mà cần dạy cho học sinh cách tìm kiếm, chiếm lĩnh kiến thức để đảm bảo cho việc tự
học suốt đời.
* Những đòi hỏi từ sự phát triển kinh tế
Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra: từ nay đến năm
2020 chúng ta phải phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại.
Mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công
mô hình giáo dục, dạy học như thế, người học mới được thách thức, được rèn luyện để
làm chủ kiến thức và kĩ năng, qua đó họ có được năng lực học suốt đời và năng lực giải
quyết linh hoạt các vấn đề thực tiễn, xã hội.
* Những đòi hỏi khi tính đến đặc điểm tâm - sinh lí của người học
Thời điểm công nghệ số có ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống xã hội của trẻ em ngày
nay. Internet có mặt khắp mọi nơi, điện thoại di động, MSM, SMS, email đang ngày càng
có ảnh hưởng lớn tới sự truyền đạt thông tin.
Trẻ ngày nay thu lượm thông tin rất nhanh và chia sẻ thông tin trong xã hội với tốc
độ chóng mặt. Trẻ em có khả năng tìm kiếm thông tin theo các cách khác nhau. Việc sử
dụng công nghệ mới khiến trẻ trở thành những người có khả năng giải quyết vấn đề và có
khả năng xử lý nhiều thông tin cùng một lúc. Như vậy, thách thức đối với hệ thống giáo
dục là làm cách nào để tận dụng được điều này?
7
Những nghiên cứu được thực hiện ở nhiều quốc gia trong một phần tư thế kỉ qua
chứng minh rằng mỗi học sinh đều có một phương pháp học thích hợp với mình hơn
những phương pháp khác, do vậy, trong dạy học giáo viên cần tổ chức các phong cách
dạy khác nhau để phù hợp với các phong cách học của trẻ và với các đặc điểm của họ
nhằm phát huy tối đa năng lực học của trẻ.
Với đặc trưng của chương học là có nhiều đơn vị kiến thức tương đối độc lập với
nhau, tôi đã thực hiện hình thức dạy học theo nhóm học sinh, cụ thể là kiểu tổ chức dạy
học theo trạm trong chương “ Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học”. Sau đây, tôi sẽ
trình bày mục đích, nhiệm vụ của sáng kiến, đề ra các giải pháp thực hiện sáng kiến ( cả
lý luận và thực hiện).
2. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
- Nghiên cứu, hoàn thành lí luận về dạy học hóa học theo định hướng phát triển
năng lực của học sinh.
- Biết cách tiến hành hoạt động hiệu quả và đạt kết quả phù hợp với mục đích.
- Hành động có kết quả, ứng phó linh hoạt, hiệu quả trong những điều kiện mới,
không quen thuộc.
Từ đó, có thể đưa ra một định nghĩa về năng lực hành động, đó là : “ năng lực là khả
năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lý cá nhân khác như
hứng thú, niềm tin, ý chí,… để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối
cảnh xác định”.
Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá
nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Có thể xem xét riêng một cách tương
đối phẩm chất và năng lực, nhưng hiểu theo nghĩa rộng (năng lực nguời) bao gồm cả
phẩm chất và năng lực hiểu theo nghĩa hẹp.
3.1.2. Phân loại năng lực
Khái niệm năng lực hành động và khái niệm kĩ năng không có sự tương đồng. Kĩ
năng chỉ được định nghĩa là khả năng thực hiện dễ dàng, chính xác một hành động có tính
phức hợp và khả năng thích ứng trong các điều kiện đang thay đổi. Trong khi năng lực
hành động được định nghĩa như là một khái niệm định hướng theo chức năng, một hệ
thống phức hợp hơn, toàn diện hơn, có sự kết hợp của, nhiều thành tố như các khả năng
nhận thức, kĩ năng, thái độ và chứa cả các thành phần phi nhận thức như động cơ, xúc
cảm, giá trị đạo đức,…trong một bối cảnh có ý nghĩa.
Phân loại năng lực :
9
- Năng lực chung : Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt
lõi… làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề
nghiệp. Một số năng lực cốt lõi của học sinh THPT : Năng lực tự học, năng lực giải quyết
vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực tự quản lý, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng
lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực
tính toán.
- Học phương pháp chiến lược → có năng lực phương pháp: lập kế hoạch học tập,
làm việc có phương pháp học tập, thu thập thông tin đánh giá.
- Học giao tiếp xã hội → có năng lực xã hội: hợp tác nhóm học cách ứng xử, có tinh
thần trách nhiệm khả năng giải quyết trong các mối quan hệ hợp tác.
- Học tự trải nghiệm đánh giá → có năng lực nhân cách: Tự đánh giá để hình thành
các chuẩn mực giá trị đạo đức.
b- Chuẩn đầu ra:
- Phẩm chất : Yêu gia đình quê hương đất nước, nhân ái, khoan dung, trung thực …
- Năng lực chung : năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo,
…
- Năng lực chuyên biệt : Trong các môn học ở trường phổ thông, Hóa học là môn
học có điều kiện thuận lợi để triển khai đổi mới dạy học và đánh giá theo định hướng
phát triển năng lực cho học sinh.
3.1.4. Năng lực đặc thù cần hình thành ở bộ môn hóa học.
Theo PGS.TS Đặng Thị Oanh - Giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trong
chương trình giáo dục phổ thông, mỗi môn học đều có đặc thù riêng và có thế mạnh để
hình thành và phát triển đặc thù của môn học. Và trong môn Hóa học bao gồm 6 năng lực
đặc thù :
Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học
Qua các bài học, học sinh sẽ nghe và hiểu được nội dung các thuật ngữ hóa học,
danh pháp hóa học và các biểu tượng hóa học (kí hiệu, hình vẽ, mô hình cấu trúc các phân
tử các chất, các liên kết hóa học). Các em sẽ viết và biểu diễn đúng công thức hóa học của
các hợp chất vô cơ và các hợp chất hữu cơ các dạng công thức, đồng đẳng, đồng phân.
Ngoài ra, các em còn nhận biết và rút ra được các quy tắc đọc tên và đọc đúng tên theo
các danh pháp khác nhau đối với các hợp chất hữu cơ. Trình bày và vận dụng được các
thuật ngữ hóa học, danh pháp hóa học và hiểu được ý nghĩa của chúng.
Năng lực nghiên cứu và thực hành hóa học
Năng lực này bao gồm các năng lực tiến hành thí nghiệm, sử dụng và vận dụng thí
đề, suy ngẫm về cách thức và tiến trình giải quyết vấn đề để điều chỉnh và vận dụng trong
bối cảnh mới.
Năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống
Quá trình học tập sẽ giúp học sinh có năng lực hệ thống hóa kiến thức, phân loại
kiến thức hóa học, hiểu rõ đặc điểm, nội dung, thuộc tính của loại kiến thức hóa học đó.
Khi vận dụng kiến thức chính là việc lựa chọn kiến thức một cách phù hợp với mỗi hiện
tượng, tình huống cụ thể xảy ra trong cuộc sống, tự nhiên và xã hội.
Học sinh sẽ định hướng được các kiến thức hóa học một cách tổng hợp và khi vận
dụng kiến thức hóa học phải ý thức rõ ràng về loại kiến thức hóa học đó được ứng dụng
trong các lĩnh vực gì, ngành nghề gì trong cuộc sống.
Các em sẽ phát hiện và hiểu rõ được các ứng dụng của hóa học trong các vấn đề
thực phẩm, sinh hoạt, y học, sức khỏe, khoa học thường thức, sản xuất công nghiệp, nông
nghiệp và môi trường. Đồng thời tìm mối liên hệ và giải thích được các hiện tượng trong
tự nhiên và các ứng dụng của hóa học trong cuộc sống và trong các lĩnh vực đã nêu trên
dựa vào các kiến thức hóa học và kiến thức liên môn khác.
12
Thêm vào đó, các em sẽ chủ động sáng tạo lựa chọn phương pháp, cách thức giải
quyết vấn đề. Có năng lực hiểu biết và tham gia thảo luận về các vấn đề hóa học liên quan
đến cuộc sống thực tiễn và bước đầu biết tham gia nghiên cứu khoa học để giải quyết các
vấn đề đó.
Năng lực sáng tạo
Môn hóa học sẽ giúp học sinh đề xuất được câu hỏi nghiên cứu cho một vấn đề hay
chủ đề học tập cụ thể; đề xuất giả thuyết nghiên cứu phù hợp với câu hỏi nghiên cứu một
cách khoa học, sáng tạo.
Học sinh sẽ đề xuất phương án thực nghiệm tìm tòi để kiểm chứng giả thuyết nghiên
cứu, thực hiện phương án thực nghiệm. Sau đó, các em sẽ xây dựng báo cáo kết quả
nghiên cứu và trình bày kết quả nghiên cứu một cách khoa học, sáng tạo.
Là một địa điểm không gian cố định, tại đó con người giải quyết một vấn đề
chuyên biệt nào đó.
b) Trong học tập, trạm được hiểu?
Là một địa điểm học tập (vị trí học tập) của nhóm học sinh trong hệ thống các
địa điểm không gian trong lớp học. Tại địa điểm này, học sinh có thể tự tổ chức các hoạt
động học tập (làm thí nghiệm, giải bài tập, hay giải quyết một vấn đề nào đó trong học
tập).
c) Dạy học theo trạm là gì?
Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh hoạt động học tập tự lực tại các vị trí
không gian lớp học để giải quyết các vấn đề trong học tập. Hệ thống các trạm thường
được thiết kế, bố trí theo hình thức các vòng tròn khép kín trong không gian lớp học.
Hoạt động của HS tại các trạm là hoàn toàn tự do, dưới sự định hướng của giáo
viên, học sinh phải tự xoay sở để vượt qua các trạm. Do đó, dạy học theo trạm tập trung
vào "tự chủ và tự học", rèn luyện thói quen tự lực giải quyết vấn đề cho học sinh.
=> Dạy học theo trạm là một phương pháp tổ chức dạy học dựa trên hình thức làm
việc tại các trạm.
d) Dạy học theo trạm có thể tổ chức ở đâu?
Có thể tổ chức trong lớp học hay trong khu vực hành lang trước lớp, trên bàn,
tại phòng máy, tại thư viện hay tại xưởng tùy thuộc vào yêu cầu của nhiệm vụ. Tại mỗi vị
trí đó có các bài tập cung cấp cho học sinh, có các nguyên vật liệu cần thiết, có các tài liệu
giáo khoa, các điều kiện để cho người học có thể giải quyết được vấn đề đặt ra tại vị trí
đó.
e) Đặc trưng:
Phải đảm bảo sự linh hoạt, các nhiệm vụ phải có tính độc lập với nhau.
Trong trường hợp dạy học các bài học có các đơn vị kiến thức có liên hệ logic
chặt chẽ ta có thể tổ chức bài học thành nhiều hệ thống trạm (vòng tròn học tập) khác
nhau, sao cho các nhiệm vụ trong mỗi hệ thống trạm là độc lập.
Vai trò của giáo viên trong dạy học theo trạm.
- Giáo viên giới thiệu các trạm và cung cấp đầy đủ tài liệu, công cụ học tập cho
các trạm.
đến mọi hoạt động của nhóm học sinh, là điều kiện tiên quyết quyết định mức độ khả thi
của bài giảng. Trong mỗi trạm học tập, giáo viên căn cứ vào nội dung bài học, đặc biệt
phải căn cứ vào khả năng nhận thức của học sinh để chuẩn bị công cụ nghiên cứu, phiếu
trợ giúp (là những gợi ý hoặc đáp án). Để tránh việc di chuyển nhóm học sinh, dễ gây lộn
xộn, mỗi trạm chuẩn bị 2 bộ công cụ, tất cả các công cụ đều được đặt ở bàn trung tâm lớp,
có ghi bảng tên trạm cụ thể.
Chia nhóm học tập cho học sinh, đảm bảo sự tương đối đồng đều về năng lực
của các nhóm. Trong mỗi nhóm, cho các em đề cử trưởng nhóm, được coi là “ header” có
nhiệm vụ phân công, điều chỉnh mọi hoạt động trong nhóm. Phát bảng thi đua, cờ,
chuông, sổ theo dõi đánh giá hoạt động của nhóm. Giáo viên hướng dẫn các nhóm sắp
xếp bàn ghế hoạt động nhóm, vị trí của 4 nhóm tạo thành hình chữ nhật, bao quanh bàn để
công cụ nghiên cứu của tất cả các trạm.
15
- Bước 2 : Giáo viên phổ biến qui tắc khi hoạt động trong mỗi trạm :
Nhiệm vụ của các em khi hoạt động ở các trạm là cùng nhau tìm hiểu kiến thức
dựa vào công cụ và định hướng trong phiếu học tập.
Thời gian hoạt động ở mỗi trạm được ghi trong nội dung của từng trạm, nếu
sau khoảng thời gian đó, nhóm vẫn chưa hoàn thành xong thì các em phải sử dụng phiếu
trợ giúp và trả lại công cụ về bàn trung tâm và chuyển sang trạm học tập mới. Nếu nhóm
hoàn thành đúng hoặc sớm hơn thời gian định mức thì em rung chuông báo để cô phát cờ
để em gắn lên bảng thi đua của nhóm, cờ được coi là thẻ thông hành, em được đổi sang
trạm bất kì nào khác. Với những trạm có thí nghiệm, sau khi sử dụng xong công cụ, phải
có 2 thành viên chuyên biệt có nhiệm vụ rửa ống nghiệm trong khi các thành viên khác
hoàn thành phiếu học tập.
Nhấn mạnh với các em rằng : cô khuyến khích các nhóm tìm hiểu trước bài ở
nhà, trưởng nhóm và các thành viên phải kết hợp nhịp nhàng, cùng nhau hoạt động để rút
ngắn thời gian càng sớm càng tốt. Nhóm hoàn thành nhanh nhất sẽ được lựa chọn nội
a. Trạm ảnh hưởng của nồng độ đến tốc độ phản ứng (5’)
* Công cụ nghiên cứu :
- Khay dụng cụ, hóa chất : 4 cốc thủy tinh 100 ml, có vạch chia thể tích; lọ
đựng dung dịch Na2S2O4 0,1M; lọ đựng dung dịch H2SO4 0,1M; nước cất, 2 đũa thủy tinh.
* Nhiệm vụ nghiên cứu :
- Rót vào cốc thủy tinh (a) 25 ml dung dịch Na2S2O3 0,1M; cốc (b) 10 ml
Na2S2O3 và 15 ml nước cất ( ước lượng dựa vào vạch đo, rót thật từ từ, tới gần vạch định
mức thì dùng bơm hút ở miệng lọ, nhỏ từ từ).
- Rót từ từ 25 ml dung dịch H2SO4 0,1M vào 2 cốc (a’) và (b’) còn lại.
- 2 tay cầm 2 cốc (a’) ; (b’) rót đồng thời vào 2 cốc tương ứng là (a) và (b), sau
đó khuấy đều.
- So sánh thời gian xuất hiện kết tủa ở 2 cốc, hoàn thành vào phiếu học tập.
Cốc (a)
Cốc (b)
CM dd Na2S2O3
So sánh thời gian xuất hiện
kết tủa
So sánh tốc độ phản ứng
* Kết luận : Khi………nồng độ của chất phản ứng thì tốc độ phản
ứng…………..
b. Trạm ảnh hưởng của áp suất đến tốc độ phản ứng (3’)
* Công cụ nghiên cứu : Bảng số liệu của phản ứng phân hủy HI (ở 302oC)
2HI € H2 + I2
Áp suất của khí HI
Tốc độ phản ứng
1 atm
1,22. 10-8 mol/(l.s)
2 atm
4,48.10-8 mol/(l.s)
* Nhiệm vụ nghiên cứu : nhận xét sự liên quan giữa áp suất và tốc độ của phản
vôi với HCl)
Tốc độ phản ứng
* Kết luận : Khi ……… diện tích tiếp xúc của các chất phản ứng, tốc độ phản
ứng …………….
Câu hỏi vận dụng : có bạn kết luận rằng trong bất kể một trường hợp nào, kích
thước chất rắn càng nhỏ thì tốc độ phản ứng đều nhanh hơn. Theo các em, nhận định đó
có đúng không? để trả lời câu hỏi này em hãy liên hệ với phản ứng đun than, nên để kích
thước than vừa phải hay để kích thước lớn hay nghiền nhỏ ra như cám)
Nhận định trên của bạn là……………………vì khi một chất rắn phản ứng với
chất khí, nếu kích thước chất rắn quá nhỏ thì diện tích tiếp xúc giữa chúng ………………
e. Trạm ảnh hưởng của chất xúc tác (5’).
* Công cụ nghiên cứu : Khay hóa chất và dụng cụ : 4 cốc thủy tinh 100 ml, lọ
đựng dung dịch H2O2 , bột MnO2, đèn cồn, que đóm.
* Nhiệm vụ nghiên cứu :
18
- Rót vào mỗi cốc 25 ml dung dịch H2O2.
- Lấy một chút bột MnO2 cho vào cốc b
- Quan sát mức độ sủi bọt khí ở 2 cốc, bột MnO2 ở cốc b có bị giảm lượng đi
không?
- Đốt cháy một que đóm bằng ngọn lửa đèn cồn, thổi cho ngọn lửa tắt ( vẫn
còn tàn đóm đỏ), đưa nhanh vào khoảng không bên trong cốc b, quan sát hiện tượng.
- Hoàn thành phiếu học tập
Bột MnO2 …….( không hay có) bị tiêu hao trong quá trình phản ứng. Khi
thêm bột MnO2, tốc độ thoát khí…………. Bột MnO2 được gọi là xúc tác của phản ứng.
Tàn đóm đỏ có hiện tượng………………………….khi đưa vào khoảng không
của cốc b, chứng tỏ khí thoát ra là khí…………………; nồng độ khí này trong khoảng
không của cốc b nhiều hơn trong không khí nên qua trình cháy trong…………….mãnh
liệt hơn cháy trong…………………..
N2O4 (k).
(màu nâu đỏ)
(không màu)
* Công cụ nghiên cứu : Máy laptop có sẵn video về sự biến đổi màu của hỗn
hợp NO2 và N2O4 khi giãn hoặc nén khí.
* Nhiệm vụ nghiên cứu : Quan sát video, nhận xét sự biến đổi màu sắc của hỗn hợp khí
khi giãn khí, nén khí, hoàn thành vào phiếu học tập
So sánh
Giãn khí
Nén khí
Tác động về áp suất ( tăng hay giảm)
Màu của hỗn hợp
Chiều chuyển dịch cân bằng ( dựa vào sự
biến đổi của màu sắc)
Chiều chuyển dịch làm áp suất tăng hay
giảm ( dựa vào việc so sánh hệ số cân
bằng của các chất khí trước và sau phản
ứng).
* Kết luận : Với phản ứng có các chất ở thể……………, khi tăng hoặc giảm áp
suất chung của hệ cân bằng thì cân bằng bao giờ cũng chuyển dịch theo chiều làm……tác
động.
Nếu phản ứng có số mol khí ở 2 vế……………….hoặc những phản ứng không
có chất ở thể……………thì áp suất không ảnh hưởng đến cân bằng.
c. Trạm ảnh hưởng của nhiệt độ ( 5’)
* Công cụ nghiên cứu : Đoạn video biến đổi màu sắc của hỗn hợp NO2và N2O4
khi tăng hoặc giảm nhiệt độ
( địa chỉ : />* Nhiệm vụ nghiên cứu : Xét cân bằng
2NO 2 ( k ) ƒ
phương pháp dạy học theo trạm trong chương “tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học”
3.3.2. Đối tượng, địa bàn và cách thức thực nghiệm.
Trong khi nghiên cứu đề tài này, tôi đã tiến hành thực nghiệm ở hai lớp là
10A9 và 10A10 ( năm học 2013-2014) – trường THPT Mỹ Tho – Ý Yên – Nam Định.
Học sinh ở hai lớp này có mức điểm vào lớp 10 tương đương nhau, trong những chương
học trước đều là tôi dạy, có khả năng nhận thức gần đồng đều. Tôi đã chọn lớp 10A9 làm
lớp thực nghiệm và lớp 10A10 làm lớp đối chứng. Lớp 10A9 tôi chọn phương pháp dạy
học theo trạm, học sinh hoạt động theo 4 nhóm (mỗi nhóm 10 -11 học sinh); lớp 10A10
vẫn dạy theo phương pháp thuyết trình và đàm thoại gợi mở, hoạt động theo cá nhân.
Thời gian thực nghiệm là tuần 31 -33 của năm học 2013- 2014. Cuối đợt thực nghiệm (kết
thúc chương), tôi cho học sinh 2 lớp làm bài kiểm tra 15 phút. Tôi đã căn cứ vào kết quả
so sánh chất lượng học bài trên lớp và kết quả bài kiểm tra 15 phút giữa hai lớp để rút ra
kết luận cần thiết và hoàn chỉnh đề tài.
3.3.3. Nội dung và thực nghiệm
*Bài kiểm tra gồm 12 câu hỏi trắc nghiệm khách quan, được xây dựng theo ma trận
đề thi như sau
Mức độ nhận thức
Tốc độ phản ứng
Cân bằng hóa học
Ý nghĩa của tốc độ
phản ứng và CBHH
Nhận biết
2 câu (1, 2)
2 câu (3, 4)
Thông hiểu
1 câu (5)
1 câu (6)
Vận dụng
1 câu (7)
1 câu (8)
b) H2 + I2 € 2HI
c) CaCO3 + 2HCl → CaCl2 + CO2 + H2O
d) Cl2 + H2O € HCl + HClO
e) Fe + H2O € FeO + H2
Trong các phản ứng trên, các phản ứng thuận nghịch là :
A. a, b, c, d, e
B. b, c, d.
C. b, d, e.
D. a, b, d, e.
Hãy chọn đáp án đúng.
Câu 4 : Cân bằng hóa học trong dung dịch
A. chỉ bị ảnh hưởng bởi nồng độ các chất tham gia phản ứng.
B. chỉ bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ của phản ứng.
C. chỉ bị ảnh hưởng bởi nồng độ các chất và nhiệt độ của phản ứng.
D. chỉ bị ảnh hưởng bởi nồng độ các chất tạo thành.
Hãy chọn đáp án đúng.
22
Câu 5 : Đối với các phản ứng có chất khí tham gia, khi tăng áp suất, tốc độ phản ứng tăng
là do
A. nồng độ các chất khí tăng lên.
B. nồng độ các chất khí giảm xuồng.
C. chuyển động của các chất khí tăng lên.
D. nồng độ các chất khí không thay đổi.
Hãy chọn đáp án đúng.
Câu 6 : Cân bằng hóa học là một trạng thái của phản ứng thuận nghịch khi
A. tốc độ của phản ứng thuận bằng hai lần tốc độ của phản ứng nghịch.
B. tốc độ của phản ứng thuận bằng tốc độ của phản ứng nghịch.
Nhóm thứ hai : Cân 1g bột kẽm và thả vào cốc đựng 300ml dung dịch axit HCl
2M.
Kết quả cho thấy bọt khí thoát ra ở thí nghiệm của nhóm thứ hai mạnh hơn là
do:
A.
Nhóm thứ hai dùng axit nhiều hơn.
B.
Diện tích bề mặt bột kẽm lớn hơn.
C.
Nồng độ kẽm bột lớn hơn.
D.
Diện tích bề mặt bột kẽm lớn hơn, lượng axit nhiều hơn.
Câu 11 : Xét cân bằng hoá học của những phản ứng sau đây :
a) Fe2O3 + 3CO(k) € 2Fe(r) + 3CO2(k)
∆H = - 22,77kJ
b) CaO(r) + CO2(k) € CaCO3(r)
∆H = - 233,26kJ.
c) 2NO2(k) € N2O4(k)
∆H = + 57,84kJ
d) H2(k) + I2(k) € 2HI(k)
∆H = - 10,44kJ
e) 2SO2(k) + O2(k) € 2SO3(k)
∆H = - 198,24kJ.
Khi giảm nhiệt độ, các phản ứng có cân bằng chuyển dịch theo chiều thuận là
A. a, b, c, d, e.
B. a, c, d, e.
C. a, b, c, d.
D. a, b, d, e.
tiết 2, các em đã quen hơn với việc phân công nhiệm vụ hợp lý nên có nhiều nhóm hoàn
thành trước hạn, tạo không khí hào hứng, có tâm lý muốn có nhiều tiết học theo hình thức
dạy học mới.
* Kết quả tổng hợp điểm kiểm tra 15’ của các lớp.
Cả hai lớp đều chấm theo thang điểm 10 ( mỗi câu 5/6 điểm). Với lớp thực nghiệm,
điểm của từng em sẽ được cân đối ( nhân với 8/10, sau đó cộng với điểm hoạt động
nhóm).
Ở đây, tôi chỉ tính trực tiếp kết quả bài kiểm tra của hai lớp nếu cùng tính theo thang
điểm 10 ( khi chưa cân đối). Tôi đã thống kê điểm theo hai hướng :
- Tổng hợp điểm toàn bài của học sinh từng lớp, xếp thành các loại : giỏi( 8-10), khá
( 7 – cận 8), trung bình ( 5 – cận 7), yếu kém ( dưới 5).
Lớp đối chứng (10A10)
Lớp thực nghiệm (10A9)
Số bài
Tỷ lệ %
Số bài
Tỷ lệ %
Phân loại
Giỏi
7
16,67%
12
28,57%
Khá
12
28,57%
20
47,62%
Trung bình
14
3,8
95%
4
Thông hiểu
1,5
75%
1,8
90%
2
Vận dụng
1,5
50%
2,3
76,76%
3
Vận dụng cao
0,8
26,67%
1,6
53,33%
3
TB chung
6,8
56,66%
9,5
79,17%
12
25