Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn việt nam – chi nhánh hoàng mai – hà nội - Pdf 42

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
---------------

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh
Mã ngành: 60340102
QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM - CHI NHÁNH
HOÀNG MAI – HÀ NỘI

HỌC VIÊN THỰC HIỆN: TRẦN ANH TUẤN
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN ĐÌNH KIỆM

Hà Nội, Tháng 11 năm 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận văn xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân.
Các số liệu và tài liệu là trung thực. Kết quả nghiên cứu trong luận văn này chưa
từng được công bố trong công trình nào.
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình.
Tác giả

Trần Anh Tuấn


MỤC LỤC
2. M?c tiêu nghiên c?u.............................................................................................8
3. Đ?i tư?ng và ph?m vi nghiên c?u........................................................................8
4. Tư li?u và phương pháp nghiên c?u...................................................................9

hoạt động kinh doanh chính đem lại nguồn thu chủ yếu cho các ngân hàng. Ở
Việt Nam, tỷ lệ thu nhập từ hoạt động tín dụng của các NHTM chiếm khoảng
70% đến 90% tổng thu nhập của ngân hàng. Nhưng hoạt động tín dụng cũng
tiềm ẩn nhiều rủi ro, đây là một loại rủi ro mà các NHTM phải đặc biệt quan
tâm, vì rủi ro tín dụng là nguyên nhân cản trở sự phát triển, ảnh hưởng lớn
đến hoạt động kinh doanh, làm suy giảm năng lực tài chính và khả năng cạnh
tranh của các ngân hàng. Trong một số trường hợp, rủi ro tín dụng dẫn đến sự
phá sản của ngân hàng, mặc dù vậy NHTM không thể loại bỏ hoàn toàn
RRTD mà chỉ có thể hạn chế ở mức độ nhất định. Hệ thống quản trị RRTD
của ngân hàng là thực hiện sứ mệnh đảm bảo cho ngân hàng luôn kiểm soát
rủi ro ở mức độ hợp lý có thể chấp nhận được và phù hợp với quy mô bản
chất kinh doanh tín dụng của ngân hàng để đạt được lợi nhuận cao nhất.
Trong những năm gần đây, do sự tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng
kinh tế thế giới, nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành ngân hàng nói
riêng đã và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách. Ở các ngân
hàng, tình hình thanh khoản căng thẳng, lợi nhuận giảm sút, nợ xấu tăng cao,
rủi ro tín dụng ngày càng phức tạp hơn về nguyên nhân, hình thức và phạm vi
tác động.
Ngoài ra, ở các ngân hàng việc tập trung quá nhiều vào hoạt động tín
dụng trong khi khả năng quản trị rủi ro tín dụng chưa cao, chưa có chính sách
tín dụng khoa học, chất lượng nguồn nhân lực còn yếu kém, hoạt động tín
dụng hiện nay còn phải chịu nhiều sự chi phối, điều chỉnh của hệ thống luật
pháp còn nhiều chồng chéo, không rõ ràng,... vì thế mà rủi ro tín dụng còn ở
mức cao.

6


Vì vậy việc tìm ra những giải pháp để hạn chế, phòng ngừa rủi ro
tíndụng thực sự cần thiết đối với sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng.

Các đề tài nêu trên đã tập trung nghiên cứu tình hình quản trị rủi ro tín
dụng tại các NHTM cổ phần, nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản trị
rủi ro tín dụng tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi
nhánh Hoàng Mai, đây là một Chi nhánh có đặc thù là một ngân hàng có
100% vốn nhà nước, giải pháp của các đề tài nêu trên về quản trị rủi ro tín
dụng có những điểm chưa phù hợp với thực tế hoạt động tín dụng tại Chi
nhánh Hoàng Mai, do đó tác giả đề tài đã tập trung phân tích, đánh giá thực
trạng quản trị rủ ro tín dụng tại Chi nhánh Hoàng Mai, trên cơ sở đó nhằm đề
xuất một số giải pháp trong quản trị rủi ro tín dụng tại Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn - Chi nhánh Hoàng Mai phù hợp với điều kiện thực tế trong
hoạt động tín dụng của đơn vị.
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng
ở các NHTM.
- Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng ở
Ngân hàng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn – Chi nhánh
Hoàng Mai. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động quản trị rủi ro tín dụng cho Chi nhánh Hoàng Mai.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề
lý luận và thực tiễn về quản trị rủi ro tín dụng ở các NHTM nói chung Ngân
hàng NN & PTNT Việt Nam - Chi nhánh Hoàng Mai nói riêng.
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Là nghiên cứu hoạt động tín dụng của
ngân hàng, xác định rủi ro và đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng để

8


đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi nhánh Hoàng Mai.


1.1. Tổng quan rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại
1.1.1. Tín dụng của ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng thương mại
Theo Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 thì: Tín dụng ngân
hàng là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động
để thoả thuận cấp tín dụng cho khách hàng với nguyên tắc có hoàn trả (cả
gốc và lãi) bằng các nghiệp vụ cho vay chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo
lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ khác theo quy định của NHNN.
Cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá, tín dụng ngày càng
phát triển cả về nội dụng lẫn hình thức. Các quan hệ tín dụng ngày càng được
mở rộng hơn, ban đầu là quan hệ giữa các cá nhân với nhau, sau đó là giữa cá
nhân với tổ chức, tổ chức với tổ chức, quan hệ với nhà nước và cao nhất là tín
dụng quốc tế.
Trong quá trình phát triển lâu dài đó quan hệ tín dụng đã hình thành và
phảt triển qua các hình thức sau:
- Tín dụng nặng lãi: Tín dụng nặng lãi hình thành khi xuất hiện sự phân
chia giai cấp dẫn đến kẻ giàu, người nghèo. Đặc điểm nổi bật của tín dụng
này là lãi suất cho vay rất cao. Chính vì vậy, tiền vay chỉ được sử dụng vào
mục đích tiêu dùng cấp bách, hoàn toàn không mang mục đích sản xuất nên
đã làm giảm sức sản xuất xã hội. Nhưng đánh giá một cách công bằng thì tín
dụng nặng lãi lại góp phần quan trọng làm tan rã kinh tế tự nhiên, mở rộng
quan hệ hàng hoá tiền tệ, tạo tiền đề cho chủ nghĩa tư bản ra đời.
- Tín dụng thương mại: Đây là hình thức tín dụng giữa các nhà sản xuất
kinh doanh với nhau. Công cụ của hình thức tín dụng này là các thương phiếu

10


thương mại (gồm có kỳ phiếu và hối phiếu thương mại). Tín dụng thương mại

gia”.
Vậy tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa người
đi vay và người cho vay trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi.
1.1.1.2. Phân loại tín dụng của ngân hàng thương mại
Tín dụng ngân hàng có thể phân chia thành nhiều loại khác nhau tùy
theo những tiêu thức phân loại khác nhau “Giáo trình Tín dụng – Ngân hàng
tài liệu tham khảo số 02”:
a) Phân loại theo thời hạn tín dụng:
Tín dụng ngắn hạn: Có thời hạn đến 1 năm. Mục đích thường là nhằm
tài trợ cho việc đầu tư tài sản lưu động.
Tín dụng trung hạn: Có thời hạn từ 1 đến 5 năm. Mục đích thường là
nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản cố định.
Tín dụng dài hạn: Có thời hạn trên 5 năm. Mục đích thường là nhằm tài
trợ đầu tư vào các dự án, công trình xây dựng như nhà, sân bay, cầu đường,
máy móc thiết bị có giá trị lớn, có thời gian sử dụng lâu dài.
b) Phân loại theo tài sản đảm bảo:
Tín dụng không có tài sản đảm bảo: là loại tín dụng không có tài sản
thế chấp, cầm cố của người nhận tín dụng/người thứ 3 mà chỉ dựa vào uy tín
của bản thân khách hàng vay vốn để quyết định cấp tín dụng.
Tín dụng có tài sản đảm bảo: là loại tín dụng dựa trên cơ sở các bảo
đảm cho tiền vay như thế chấp, cầm cố của người nhận tín dụng/người thứ 3.
c) Phân loại theo mức độ rủi ro
Tín dụng lành mạnh: các tín dụng có khả năng thu hồi cao
Tín dụng có vấn đề : các khoản tín dụng có dâú hiệu không lành mạnh
như khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm, khách
hàng gặp thiên tai…
12


Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn

cho ngân hàng theo các điều khoản đã thỏa thuận.
1.1.2.2 Một số tiêu chí và mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng ngân hàng
a. Các tiêu chí đo lường rủi ro tín dụng ngân hàng.
Đo lường rủi ro tín dụng Đo lường rủi ro tín dụng là việc ngân hàng
xây dựng mô hình thích hợp để lượng hóa mức độ rủi ro tín dụng. Từ đó xác
định phần bù rủi ro và giới hạn tín dụng an toàn tối đa đối với một khách hàng,
cũng như trích lập quỹ dự phòng để tài trợ cho rủi ro tín dụng. Để đo lường rủi
ro, ngân hàng cần thu thập số liệu, thông tin và phân tích, đánh giá rủi ro (tài liệu
tham khảo số 04).
Từ những nguyên nhân nảy sinh rủi ro tín dụng, rủi ro tín dụng được do
lường thông qua các chỉ tiêu như sau:
Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn
Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đã đến hạn
thỏa thuận ghi trên hợp đồng tín dụng. Khi một món nợ không trả được vào kỳ
hạn nợ, toàn bộ nợ gốc còn lại của hợp đồng sẽ được chuyển thành nợ quá hạn.
Tỷ lệ nợ quá hạn được tính trên cơ sở dư nợ quá hạn chia cho tổng dư
nợ tín dụng tại Ngân hàng thương mại.
Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, các khoản nợ quá hạn thường được được
phân loại theo thời gian và được phân chia theo thời hạn:
Nhóm 2: Nợ quá hạn dưới 90 ngày - Nợ cần chú ý.
Nhóm 3: Nợ quá hạn từ 90 đến 180 ngày - Nợ dưới tiêu chuẩn.
Nhóm 4. Nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày - Nợ nghi ngờ.
Nhóm 5: Nợ quá hạn trên 361 ngày - Nợ có khả năng mất vốn.
Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng
càng lớn. Theo đó khả năng thanh toán của khách hàng giảm. Điều này ảnh
hưởng đến kết quả kinh doanh của Ngân hàng do ngân hàng phải tăng thêm
14


chi phí giám sát, đôn đốc thu nợ. Ngược lại, tỷ lệ này thấp cho thấy chất

Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3.
Nhóm 4: Nợ nghi ngờ
Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày
theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4.
Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn
Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở
lên theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời
hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị
quá hạn hoặc đã quá hạn;
Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;
Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5.
Cũng theo quyết định 493, có 02 phương thức phân chia nhóm nợ tại
các Ngân hàng thương mại, cụ thể như sau:
Phân chia theo tuổi nợ: Theo đó nợ quá hạn với thời hạn càng dài thì
nhóm nợ càng cao.
Phân chia theo kết quả xếp hạng tín dụng nội bộ tại các Ngân hàng
thương mại, theo đó định kỳ cán bộ tín dụng căn cứ tình hình tài chính và phi
tài chính của khách hàng có dư nợ tại Ngân hàng thương mại để thực hiện
chấm điểm và phân loại nợ, xếp nhóm đối với khách hàng.
16


Cơ cấu danh mục tín dụng
Cơ cấu danh mục tín dụng là tỷ trọng dư nợ cho vay tính theo từng

b) Các mô hình định lượng để đo lường rủi ro tín dụng
b1) Mô hình điểm số Z
Mô hình điểm số "Z" do E.I.Altman hình thành để cho điểm tín dụng
đối với các công ty sản xuất của Mỹ. Đại lượng z là thước đo tổng hợp để
phân loại rủi ro tín dụng đối với người vay và phụ thuộc vào:
Trị số của các chỉ số tài chính của người vay (Xj).
Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ
nợ của người vay trong quá khứ.
Từ đó, Altman đã đưa ra mô hình cho điểm như sau:
z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5
Trong đó:
X1: là tỷsố "vốn lưu động ròng/tổng tài sản".
X2: là tỷ số "lợi nhuận giữ lại/tổng tài sản".
X3: Là tỷ số "Lợi nhuận trước thuế và tiền lãi/tổng tài sản".
X4: là tỷ sổ "thị giá cổ phiếu/giá trị ghi sổ của nợ dài hạn".
X5 : là tỷ số "doanh thu/tổng tài sản".
Trị số Z càng cao, thì người vay có xác suất vỡ nợ càng thấp. Như vậy,
khi trị số Z thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm
có nguy cơ vỡ nợ cao.
Ưu điểm của mô hình này tính toán đơn giản dựa trên các chỉ tiêu tài
chính quen thuộc đánh giá khách hàng và kết quả tính toán rất dễ xử lý,
thuận tiện cho ngân hàngra quyết định. Tuy nhiên mô hình vẫn có một sổ
nhược điểm:
- Chỉ phân chia khách hàng thành 2 loại “vỡ nợ” và “không vỡ nợ” nên
tương đối cứngnhắc với thực tế đa dạng và phức tạp.
18


- Các trọng số của các chỉ tiêu trong công thức chưa được chứng minh
rõ ràng, hơn nữa khi điều kiện kinh tế thay đổi thì tầm quan trọng của các chỉ

vào đánh giá chủ quan để xác định rủi ro tín dụng của khách hàng. Phương
pháp đánh giá truyền thống đi sâu nghiên cứu “6 khía cạnh - 6C” của người
xin vay là:
- Character: Tính chất đạc điểm phân loại
Quan hệ vay trả đã qua; Kinh nghiệm của các Ngân hàng khác đối với
khách hàng này; Mục đích khoản vay; Khả năng phân tích, dự báo về hoạt
động kinh doanh của chủ doanh nghiệ; Phân loại tín dụng, mức độ tín chấp
của khoản vay; Có người bảo lãnh cho khoản vay hay không
- Capacity: Năng lực tài chính: Năng lực hành vi dân sự của chủ doanh
nghiệp và của người bảo lãnh; Những hồ sơ pháp lý chứng minh năng lực
pháp lý của doanh nghiệp vay vốn; Mô tả quá trình hoạt động của doanh
nghiệp đến thời điểm hiện tại, cơ cấu sở hữu, chủ sở hữu, tính chất hoạt động,
sản phẩm, khách hàng chính, người cung cấp chính của doanh nghiệp.
- Capital cấu trúcvốn:Thu nhập đã qua, tình hình phân chia cổ tức,
doanh thu bán hàng; Cashflow hiện tại và dự kiến; Tính thanh khoản của tài
sản lưu động; Vòng quay nợ phải thu, phải trả và tồn kho; Cơ cấu nguồn vốn,
tình trạng vay nợ; Kiểm soát chi phí; Các tỷ lệ về khả năng trả lãi; Khả năng
và chất lượng quản lý; Những thay đổi gần đây trong phương pháp hạch toán
kế toán
- Collateral: Tài sản đảm bảo: Có các tài sản gì? Khả năng bị lỗi thời,
mất giá của tài sản; Giá trị tài sản; Mức độ chuyên biệt của tài sản; Tình
trạng đã bị cầm cố, thế chấp của tài sản, các hạn chế khác; Tình trạng bảo
hiểm; Đã được dùng để bảo lãnh cho người khác; Vị thế của Ngân hàng đối
với việc đòi cầm cố/thế chấp đối với tài sản; Nhu cầu vay vốn trong tương lai
21


- Conditions Điều kiện: Địa vị cạnh tranh hiện tại của khách hàng trong
ngành công nghiệp và thị phần dự kiến; Kết quả hoạt động của khách hàng so
với các đối thủ cạnh tranh khác trong ngành; Tình hình cạnh tranh của sản phẩm;

Mục tiêu cụ thể của lãnh đạo ngân hàng đề ra: Tuỳ vào mục tiêu của
ngân hàng mà ban lãnh đạođề ra mức rủi ro tốiđa có thể chấp nhận được, nếu
ngân hàng có mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận thì sẽ chấp nhận nhiều rủi ro hơn
những ngân hàng lấy quan điểm kinh doanh an toàn.
b) Nguyên nhân thuộc từ phía khách hàng
Khách hàng là người lập phương án, dự án xin vay, là người trực tiếp
sử dụng vốn vay vì vậy khách hàng cũng ảnh hưởng đến hoạt động quản trị
rủi ro tín dụng.
Năng lực của khách hàng: Năng lực của khách hàng là nhân tố quyết
định đến việc khách hàng sử dụng vốn vay có hiệu quả hay không. Nếu năng
lực của khách hàng yếu kém không dự đoán được biến động của thị trường,
không hiểu biết nhiều về sản xuất, phân phối và khuyếch trương sản
phẩm...thì sẽ dễ dàng gục ngã trong cạnh tranh từ đó ảnh hưởng đến khả năng
trả nợ, chất lượng tín dụng của ngân hàng. Các doanh nghiệp thường xuyên
phải đối mặt với rủi ro do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt, nếu trình độ quản
lý yếu kém đặc biệt là quản lý tài chính kém thì sẽ dẫn tới việc kinh doanh
thua lỗ, phá sản gây mất khả năng thực hiện nghĩa vụ cam kết với ngàn hàng
tức là không có khả năng trả nợ ngân hàng đầy đủ và đúng hạn.
Sự trung thực của khách hàng: Hồ sơ xin vay vốn của khách hàng là
nhân tố phải kể đến trước tiên vì đây là cơ sở đầu tiên của mối quan hệ tín
dụng giữa khách hàng và ngân hàng, cho nên bộ hồ sơ có ý nghĩa rất lớn. Neu
bộ hồ sơ của doanh nghiệp không cung cấp đầy đủ chính xác và không được
trình bày một cách khoa họcnhững thông tin mà ngân hàng yêu cầu thì việc
hạn chế rủi ro của khoản tín dụng sẽ gặp rất nhiều khó khăn do công tác phân
24


tích cho kết quả không phản ánh tình trạng tài chính thực tế của khách hàng.
Do đó, việc kiếm tra lại độ chính xác, phù hợp trong báo cáo tài chính là hết
sức cần thiết.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status