Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh Đống Đa - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ MINH ĐỨC

QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM - CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA
Ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60 34 01 02

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS TRẦN VĂN HÒE

Năm, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu ghi
trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Lê Minh Đức


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU…………..……………………………………………………..…....1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO

mại...............................................................................................................................31
1.4. Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của một số NHTM ……………..…….... 35
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM - CHI
NHÁNH ĐỐNG ĐA………………………………….….…………..……………. 37
2.1. Khái quát về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi
nhánh Đống Đa ......................................................................................................... 37
2.2. Thực trạng rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Việt Nam - chi nhánh Đống
Đa................................................................................................................................47
2.3. Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Việt Nam - chi nhánh
Đống Đa .................................................................................................................... 52
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN
DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆT NAM - CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA………………………….................…….63
3.1. Định hướng hoạt động tín dụng………………………………...…………...… 63
3.2 Định hướng quản trị rủi ro tín dụng ……………………….……..…................. 63
3.3. Các giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Việt
Nam - chi nhánh Đống Đa …………………………………………..........……….. 65
3.4. Một số kiến nghị …………………………….…………………..……………. 75

KẾT LUẬN………………………………………….………….....……...… 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

Giải nghĩa

NHTM


Vietinbank

Ngàn hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam

RRTD

Rủi ro tín dụng

QTRR

Quản trị rủi ro

CBTD

Cán bộ tín dụng

HĐTD

Hợp đồng tín dụng

CIC

Trung tâm thông tin tín dụng

VAMC

Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên quản lý tài
sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (Công ty quản lý
tài sản VAMC)

nhánh Đống Đa ..........................................................................................................55
Bảng 2.10 Tình hình sử dụng quỹ trích lập dự phòng rủi ro tại NHNo&PTNT Việt
Nam - chi nhánh Đống Đa ........................................................................................56
Bảng 2.11 Tổng hợp dư nợ bán nợ cho VAMC tại NHNo&PTNT Việt Nam - chi
nhánh Đống Đa .........................................................................................................56
Bảng 2.12 Tổng hợp xử lý rủi ro tại NHNo&PTNT Việt Nam - chi nhánh Đống
Đa.. ............................................................................................................................57
Hình 1.1. Cơ cấu tổ chức của NHNo&PTNT Việt Nam - Chi nhánh Đống
Đa………………………………………………………..………………………... 39
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu nguồn vốn của NHNo&PTNT Việt Nam - chi nhánh Đống Đa
theo hình thức huy động giai đoạn 2013-2015 .........................................................41
Hình 2.2 Tình hình nợ xấu NHNo&PTNT Việt Nam - chi nhánh Đống Đa giai đoạn
2013 - 2015 ................................................................................................................44


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động kinh doanh của các NHTM ngày càng trở lên đa dạng chứ không
đơn thuần chỉ có hoạt động tín dụng. Tuy nhiên, trong các hoạt động kinh doanh
của ngân hàng thì hoạt động tín dụng vẫn là hoạt động quan trọng nhất chiếm tỷ
trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo ra thu nhập cao nhất. Đi đôi với việc đó thì
hoạt động tín dụng cũng có nhiều rủi ro nhất trong các hoạt động của các Ngân
hàng. Chính vì vậy rủi ro tin dụng cần được quản lý và kiểm soát để tạo lợi thế cạnh
tranh cho các ngân hàng và để các ngân hàng tăng trưởng bền vững. Ở nước ta vấn
đề rủi ro tín dụng và các biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh
doanh của các NHTM đã được đề cập, tuy nhiên việc quản trị rủi ro tín dụng vẫn là
vấn đề khó khăn nhưng rất bức thiết, đây cũng là nội dung quan trọng trong hoạt
động kinh doanh của NHTM.
NHNo & PTNT Việt Nam là một ngân hàng thương mại nhà nước cũng tồn
tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường với hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng

giải pháp của tác giả Nguyễn Lan Khanh tại Đại học Ngoại thương hoàn thành năm
2010. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về rủi ro và quản trị rủi ro tín dụng,
Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
Gia Lâm - Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Thùy Dung tại Đại học Nông nghiệp Hà
Nội hoàn thành năm 2009. Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng rủi ro và quản trị
rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Gia Lâm, cũng như đưa ra được giải pháp hoàn
thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng này.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro
tín dụng. Tuy nhiên vào mỗi thời kỳ, công tác quản trị rủi ro tín dụng lại cần được
các Ngân hàng nhìn nhận lại và đưa ra những chính sách, giải pháp phù hợp với tình
hình mới. Vì vậy, vào mỗi thời kỳ, lại cần có những nghiên cứu mới để phù hợp với
tình hình thị trường, giúp các Ngân hàng có những giải pháp hữu hiệu hơn trong
tình hình mới.

2


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở là rõ các lý luận chung về quản trị rủi ro tín dụng và các thực
trạng rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Việt Nam - Chi
nhánh Đống Đa có những mặt đạt được và mặt hạn chế nào. Từ đó, đưa ra các giải
pháp để hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng cho NHNo&PTNT Việt Nam Chi nhánh Đống Đa
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản trị rủi ro tín dụng.
Thu thập thông tin, số liệu, phân tích và đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng
và quản trị rủi ro tín dụng tại NHNo & PTNT Việt Nam - Chi nhánh Đống Đa.
Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng tại
NHNo & PTNT Việt Nam - Chi nhánh Đống Đa.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu



Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Rùi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng
1.1.1. Rủi ro và quản trị rủi ro
1.1.1.1. Rủi ro và phân loại rủi ro
* Khái niệm rủi ro:
Cụm từ “rủi ro” được nhiều nhà kinh tế định nghĩa theo nhiều cách khác
nhau và được hiểu theo nhiều nghĩa.
Theo trường phái truyền thống (tiêu cực) được hiểu như sau: Rủi ro là những
thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn
hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người.
Theo trường phái trung hòa được hiểu như sau: Rủi ro là sự bất trắc có thể đo
lường được. Rủi ro vừa mang tính tích cực vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể
mang tới những tổn thất, mất mát, nguy hiểm… cho con người nhưng cũng có thể
mang đến những cơ hội.
Từ những nghĩa trên khái quát lại ta có thể hiểu: rủi ro là xuất hiện một biến
cố không mong đợi gây thiệt hại cho một công việc cụ thể.
Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng cũng luôn gắn liền với rủi ro.
Rủi ro tác động trực tiếp tới kết quả doanh lợi, nguy cơ phá sản của các ngân hàng.
Do vậy việc thừa nhận rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và từ đó tìm
kiếm nhiều phương pháp chống đỡ các rủi ro là đòi hỏi của sự tồn tại và phát triển
của ngân hàng. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là một tất yếu, mà các nhà quản lý
ngân hàng chỉ có thể có chính sách giảm bớt chứ không thể gạt bỏ được chúng.
* Phân loại rủi ro:
Theo phương pháp quản trị rủi ro truyền thống, người ta thường tập trung
vào ba nhóm rủi ro cơ bản sau:
Rủi ro từ thảm họa: động đất, núi lửa, lũ lụt,hỏa hoạn, chiến tranh, khủng bố…

Kiểm soát, phòng ngừa rủi ro: Kiểm soát rủi ro là trọng tâm của quản trị rủi
ro, đó là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình

6


hoạt động để ngăn ngừa, phòng tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh
hưởng không mong đợi có thể xảy ra đối với tổ chức.
Tài trợ rủi ro: Dù đã thực hiện các biện pháp phòng ngừa, nhưng rủi ro vẫn
có thể xảy ra, khi đó chúng ta cần phải theo dõi, xác định chính xác những tổn thất
về tài sản, nguồn nhân lực hoặc về giá trị pháp lý. Sau đó, cần thiết lập các biện
pháp tài trợ phù hợp. Nhìn chung, các biện pháp này được chia làm hai nhóm: tự
khắc phục và chuyển giao rủi ro.
1.1.2 Rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động ngân hàng
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn tiềm ẩn những rủi ro. Cùng với
yêu cầu hội nhập kinh tế, hội nhập tài chính ngày càng rộng trong từng khu vực nói
riêng và toàn thế giới nói chung đang đặt ra những cơ hội sinh lợi và những thách
thức to lớn cho việc quản trị rủi ro ở các doanh nghiệp, đặc biệt là các ngân hàng.
Vì thế, hiện nay các NHTM luôn tìm các biện pháp nhằm hạn chế tối đa các rủi ro,
để rủi ro ở mức tối thiểu cho phép. Trong môi trường kinh tế nhiều thay đổi và cạnh
tranh gay gắt, QTRR có ý nghĩa quan trọng vì nó sẽ tăng độ uy tín của ngân hàng,
một vấn đề liên quan chặt chẽ đến sự tồn tại của ngân hàng hiện nay.
Đối với các cổ đông của ngân hàng thì QTRR sẽ trở thành công cụ hiệu quả
đảm bảo an toàn vốn, quyền lợi của các cổ đông và là một bộ phận không thể tách
rời của quản trị doanh nghiệp và kiểm soát nội bộ.
1.1.2.1. Rủi ro trong hoạt động ngân hàng
Rủi ro tín dụng: là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu
do khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi.
Rủi ro lãi suất: là những tổn thất tiềm tàng mà ngân hàng phải gánh chịu khi
lãi suất thị trường có sự biến động.

nó ảnh hưởng tới thu nhập/chi phí của các tài sản nợ và tải sản có nhạy cảm với lãi
suất. Những thay đổi về lãi suất cũng ảnh hưởng đến giá trị tiềm ẩn của giá trị tài
sản nợ - tài sản có và các công cụ tài chính hay các khoản mục ngoại bảng bởi lãi
suất thay đổi sẽ dẫn tới thay đổi giá trị hiện tại của dòng tiền tương lai thu được từ
các tài sản đó. Và qua đó ảnh hưởng tới giá trị kinh tế của vốn cổ phần.

8


Quản trị rủi ro tỷ giá:
Rủi ro tỷ giá là những tác động tiềm năng của các chuyển động tỷ giá bất lợi
lên thu nhập và giá trị kinh tế. Tỷ giá biến động bất lợi tác động lên tài sản có, tài
sản nợ hoặc các khoản mục ngoại bảng dưới dạng ngoại tệ khi ngân hàng đang có
các trạng thái mở. Khả năng thu lỗ có thể phát sinh do quá trình đánh giá lại trạng
thái ngoại tệ chuyển sang VNĐ.
Rủi ro tỷ giá được xét trên hai khía cạnh sau:
Rủi ro do giao dịch: xuất hiện khi tỷ giá thay đổi giữa thời gian nghĩa vụ phát
sinh (ngày giao dịch - trade date) và thời gian thanh toán (tức ngày hiệu lực - value
date) do đó ảnh hưởng tới dòng tiền thực tế.
Rủi ro do yếu tố kinh tế: phản ánh sự thay đổi giá trị hiện tại của dòng tiền
tương lai của ngân hàng do sự thay đổi tỷ giá bất ngờ/không dự đoán được.
Quản trị rủi ro giá:
Rủi ro giá là rủi ro ngân hàng có thể gặp tổn thất do sự chuyển động bất lợi
trong giá cả thị trường. Nó phát sinh từ sự biến động của một trong bốn yếu tố thị
trường cơ bản như nhạy cảm lãi suất của chứng khoán nợ, cổ phần, tiền tệ và hàng hóa.
Quản trị rủi ro hoạt động:
Rủi ro hoạt động là rủi ro do thiếu hoặc lỗi các quy trình nội bộ, con người,
hệ thống và các sự kiện bên ngoài. Toàn cầu hóa, cùng với sự đổi mới tài chính tăng
lên đang làm cho các hoạt động của ngân hàng chứa đựng nhiều rủi ro và mức độ
phức tạp hơn. Phạm vi và thời gian xảy ra những rủi ro hoạt động rất rộng lớn. Rủi

ước thị trường, mã số hành nghề của các hiệp hội. Vì thế, rủi ro tuân thủ vượt xa
những ràng buộc pháp lý và gồm các tiêu chuẩn rộng hơn về tính toàn vẹn và tư
cách đạo đức.
1.2. Rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động của Ngân hàng
thương mại
1.2.1. Rủi ro tín dụng và đo lường rủi ro tín dụng
1.2.1.1. Rủi ro tín dụng
Có nhiều định nghĩa về rủi ro tín dụng. Theo A.Saunder và H.Lange định
nghĩa rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một
khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay
của ngân hàng không thể thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời hạn. [1, tr7]. Còn

10


theo Henie Van Greuning - Sonja Brajovic Bratanovic: “Rủi ro tín dụng được định
nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so
với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng, đây là thuộc tính vốn có của hoạt
động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn hoặc tồi tệ hơn là
không chi trả được toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ
và ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của ngân hàng” [4, tr 10].
Từ các khái niệm trên ta có thể rút ra rằng: “Rủi ro tín dụng là khả năng
khách hàng nhận vốn vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ
đối với ngân hàng theo cam kết trong hợp đồng tín dụng, gây tổn thất cho ngân
hàng, biểu hiện trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả không
đúng hạn cho ngân hàng”.
1.2.1.2. Phân loại rủi ro tín dụng
Tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu mà có cách phân loại rủi ro tín dụng
phù hợp:
Căn cứ theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro thì rủi

Rủi ro hệ thống: RRTD phát sinh do những điều kiện, bối cảnh chung của
nền kinh tế hoặc những điều kiện vĩ mô tác động lên toàn bộ các người vay. Khác
với rủi ro đặc thù, rủi ro hệ thống không thể đa dạng hóa được và do đó các Ngân
hàng chỉ biết chấp nhận rủi ro chứ không thể tránh được bởi đó là điều tất yếu.
Ngoài ra còn nhiều hình thức phân loại khác như phân loại căn cứ theo có
cấu các loại hình rủi ro, phân loại theo nguồn hình thành, theo đối tượng sử dụng
vốn vay…
1.2.1.3. Chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng
Chỉ tiêu nợ quá hạn:
Nợ quá hạn là khoản nợ mà khách hàng không trả được khoản nợ vay khi
thời hạn thoả thuận ghi trên hợp đồng tín dụng đã đến, khoản nợ vay này có thể là
một phần hoặc toàn bộ gốc hoặc lãi vay. Để đánh giá mức độ rủi ro tín dụng sử
dụng chỉ tiêu nợ quá hạn đi liền với tỷ lệ nợ quá hạn. Tỷ lệ nợ quá hạn được xác
định bởi công thức:
Dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =

x 100
Tổng dư nợ cho vay

12

(1.1)


Đối với ngân hàng, việc khách hàng trả nợ không đúng hạn có liên quan đến
thanh khoản và rủi ro thanh khoản: chi phí bị gia tăng do phải đi tìm nguồn mới để
chi trả tiền gửi và giải ngân theo tiến độ đúng với các hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng
đó càng lớn.

khách hàng vay thêm trong khi nợ quá hạn không giảm sẽ dẫn đến nguy cơ nợ quá
hạn sẽ tăng cao hơn trong tương lai, đồng thời không phản ánh đúng mức rủi ro tín
dụng của ngân hàng tại thời điểm hiện tại.
Chỉ tiêu nợ xấu:
Để xác định mức độ rủi ro tín dụng tại một thời điểm, các TCTD thực hiện
phân loại nợ thành các nhóm nợ có mức độ rủi ro khác nhau. Thông thường, dư nợ
cho vay của TCTD được chia làm 5 nhóm:
+ Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
(i) Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và
lãi đúng hạn;
(ii) Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ
nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn;
+ Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
(i) Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;
(ii) Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu;
Tất cả khoản nợ của khách hàng vay mà trong đó có bất kỳ một khoản nợ
nào quá hạn từ 10 đến 90 ngày hoặc được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, đồng
thời được coi là có độ rủi ro cao nhất.
+ Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
(i) Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
(ii) Nợ gia hạn nợ lần đầu;
(iii) Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi
đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
(iv) Nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng
mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được cấp tín dụng theo
quy định của pháp luật;

14



15


(ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời
hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
(iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ
được cơ cấu lại lần thứ hai;
(iv) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn
hoặc đã quá hạn;
(v) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên
60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;
(vi) Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước công
bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong
tỏa vốn và tài sản. [7, tr9]
Tất cả khoản nợ của khách hàng vay mà trong đó có bất kỳ một khoản nợ
nào có đặc điểm của 1 trong 5 loại khoản nợ nêu trên, đồng thời được coi là có độ
rủi ro cao nhất.
Bên cạnh đó, việc chuyển khoản nợ của khách hàng lên nhóm nợ có mức độ
rủi ro thấp hơn cần có thời gian thử thách: đối với khoản nợ ngắn hạn, thời gian thử
thách là 01 tháng và thời gian thử thách là 03 tháng đối với các khoản nợ trung dài
hạn kể từ ngày khách hàng trả đầy đủ và đúng hạn nợ gốc và lãi vay của khoản vay
đang quá hạn hoặc được cơ cấu lại thời gian trả nợ.
Trong 5 nhóm nợ trên, thì nợ có vấn đề là nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5, nợ xấu
được xác định là nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5. Việc đánh giá mức độ rủi ro theo cách
này khắc phục được những nhược điểm của chỉ tiêu trên do mỗi khách hàng với khả
năng trả nợ nhất định được xếp vào một nhóm nợ duy nhất, đó là nhóm nợ theo
nhóm nợ của khoản vay có độ rủi ro cao nhất.
Với việc phân loại nợ như trên, ta có chỉ tiêu xác định mức độ rủi ro sau:
Dư nợ xấu

Khách hàng được xếp vào loại A hoặc có điểm cao thì được coi có độ rủi ro tín
dụng thấp, khách hàng loại D hoặc điểm thấp thì được coi là có độ rủi ro cao.
Khả năng bù đắp rủi ro:
Chỉ tiêu này nói lên sự chuẩn bị của ngân hàng cho các khoản tổn thất tín
dụng. Hàng năm dựa trên kết quả phân loại các khoản vay của khách hàng vay vốn
đang còn dư nợ, kết quả phân loại khách hàng vay, tài sản bảo đảm tiền vay, ngân
hàng cho vay tiến hành trích lập quỹ dự phòng rủi ro tín dụng. Quỹ dự phòng rủi ro
tín dụng này càng lớn nói lên khả năng bù đắp rủi ro của ngân hàng càng cao. Khả
năng bù đắp rủi ro của ngân hàng được xác định như sau:

17


Dự phòng RRTD
Hệ số khả năng bù đắp rủi ro =

(1.3)
Tổng cho vay và cho thuê
(hoặc tổng vốn chủ sở hữu)

1.2.2. Quản trị rủi ro tín dụng
1.2.2.1. Khái niệm và mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xem xét, xác định các nguy cơ tiềm ẩn và
khả năng xảy ra nguy cơ từ các hoạt động liên quan đến tín dụng, từ đó có những
hành động thích hợp để hạn chế các rủi ro đó ở mức thấp nhất các rủi ro và tìm cách
quản lý, hạn chế các rủi ro đó. [3, tr 38]
Mục tiêu của quản trị rủi ro tín dụng là đảm bảo rủi ro trong phạm vi ngân
hàng có thể chấp nhận được. Mà mục tiêu này phụ thuộc vào mục đích hoạt động
của ngân hàng là tối đa hóa giá trị mà ngân hàng hi vọng được xác định trong điều
kiện biến động của môi trường kinh doanh.

Xem xét ảnh hưởng của những thay đổi về điều kiện kinh tế có thể xảy ra
trong tương lai.
* Đảm bảo quy trình kiểm soát đầy đủ đối với rủi ro tín dụng:
Thiết lập hệ thống xem xét tín dụng độc lập và liên tục, cần thông báo kết
quả cho Hội đồng quản trị và ban quản lý cấp cao.
Quy trình cấp tín dụng cần phải được theo dõi đầy đủ, cụ thể.
Có hệ thống quản lý đối với các khoản tín dụng có vấn đề.
1.2.2.3. Các công cụ quản trị rủi ro tín dụng
Mô hình bộ máy quản lý tín dụng:
Để việc vận dụng các công cụ quản trị rủi ro tín dụng một cách thống nhất,
nghiêm chỉnh, có hiệu quả cần có một bộ máy quản lý phù hợp. Hiện nay có hai mô
hình được áp dụng phổ biến: mô hình quản lý tín dụng tập trung và mô hình quản lý
tín dụng phân tán.
Mô hình quản lý tín dụng tập trung:
Mô hình này có sự tách biệt một cách độc lập giữa ba chức năng: bán hàng,
tác nghiệp và quản lý rủi ro. Sự tách biệt giữa 3 chức năng nhằm mục tiêu hàng đầu
là giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất đồng thời phát huy được tối đa kỹ năng chuyên
môn của từng vị trí cán bộ làm công tác tín dụng.

19


Mô hình quản lý tín dụng phân tán:
Mô hình này không có sự tách bạch giữa chức năng bán hàng, tác nghiệp và
quản lý rủi ro. Trong đó, phòng tín dụng của ngân hàng thực hiện đầy đủ 3 chức
năng và chịu trách nhiệm đối với mọi khâu chuẩn bị trong việc giải quyết một
khoản vay.
Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng là hệ thống các chủ trương, định hướng, quy định chi
phối hoạt động tín dụng được đưa ra nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn để tài trợ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status