Nghiên Cứu Thực Trạng Dạy-Học Môn Đạo Đức Y Học Trong Đào Tạo Bác Sĩ Tại Các Trường Đại Học Y Và Đánh Giá Kết Quả Can Thiệp Thử Nghiệm - Pdf 42

Header Page 1 of 126.

BỘGIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘY TẾ

TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

Lê Thu Hòa

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG DẠY-HỌC MÔN
ĐẠO ĐỨC Y HỌC TRONG ĐÀO TẠO BÁC SĨ
TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y VÀ ĐÁNH GIÁ
KẾT QUẢ CAN THIỆP THỬ NGHIỆM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

Hà Nội-2013

Footer Page 1 of 126.


Header Page 2 of 126.

BỘGIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘY TẾ

TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

Lê Thu Hòa

- PGS.TS. Lê Thị Tài, Phó trưởng bộ môn Giáo dục sức khỏe, Viện
đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng, trường Đại học Y Hà
Nội.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS. Phạm Thị Minh Đức,
nguyên Trưởng bộ môn Giáo dục y học, trường Đại học Y Hà Nội. Cô đã
hết lòng giúp đỡ và dìu dắt tôi từ lúc ban đầu cho tới ngày hôm nay.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn trân trọng đến TS. Nguyễn Thị Bạch Yến –
Điều phối Dự án; PGS.TS. Nguyễn Văn Hiến-Trưởng nhóm Dự án trường
Đại học Y Hà Nội và Ban Điều phối Dự án “Xây dựng các đơn vị đào tạo
và tư vấn trong tám trường Đại học Y phục vụ cho công tác đào tạo nguồn
nhân lực, góp phần phát triển ngành y tế Việt Nam”. Dự án đã hỗ trợ học
bổng và kinh phí giúp tôi hoàn thành khóa học nghiên cứu sinh và thực
hiện đề tài nghiên cứu này.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn đến PGS.TS. Nguyễn Minh Sơn-Điều phối Dự
án; TS. Lê Minh Giang trong Dự án “Xây dựng năng lực nghiên cứu khoa
học xã hội phòng chống HIV/AIDS” đã hỗ trợ một phần kinh phí giúp tôi
thực hiện đề tài nghiên cứu này.
Tôi xin được cảm ơn:
- Các thầy, cô là Trưởng nhóm Dự án, Điều phối viên Đơn vị Đào tạo
và Tư vấn Giáo dục y học tại các trường ĐHY Hà Nội, ĐHY Hải
Phòng, ĐHY Thái Nguyên, ĐHY Thái Bình, ĐHY Huế, Khoa Y-ĐH
Tây Nguyên, Khoa Y-ĐHYD Thành phố Hồ Chí Minh, ĐHYD Cần
Thơ đã nhiệt tình giúp đỡ tôi tổ chức nghiên cứu tại các trường
- Ban Giám Hiệu trường ĐHY Hà Nội và ĐHY Thái Nguyên đã tạo
điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành nghiên cứu
- GS. Merrilyn Walton, Khoa Y tế công cộng, Đại học Y, Đại học
Sydney và Tổ chức Học Mãi, đã có nhiều góp ý cho tôi trong thời
gian hoàn thành luận án

Footer Page 3 of 126.

Hà Nội, tháng 1 năm 2013
Người cam đoan
Lê Thu Hòa

Footer Page 5 of 126.


Header Page 6 of 126.

MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt trong luận án
Danh mục các bảng và biểu đồ
ĐẶT VẤN ĐỀ ……………………………………………………………

1

CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN ……………………………………………

3

Khái quát lịch sử phát triển của đạo đức y học …………..

3

1.1.1. Định nghĩa đạo đức và đạo đức y học ……………………



16

Đạo đức y học trong đào tạo y khoa ……………………….

17

1.2.

1.3.

1.3.1. Khuyến nghị dạy-học đạo đức y học của các tổ chức quốc
tế và một số quốc gia …………………………………….

17

1.3.2. Đào tạo ĐĐYH tại các nước trên thế giới và Việt Nam …

21

1.3.3. Kết quả nghiên cứu về dạy-học đạo đức y học tại các
nước trên thế giới và Việt Nam …………………………..

39

CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU …

44

Footer Page 6 of 126.

48

2.3.

2.3.1. Mục tiêu 1. Nghiên cứu thực trạng dạy-học đạo đức y học
trong đào tạo bác sĩ tại tám trường Đại học Y năm học
2009-2010………………………………………………..

48

2.3.2. Mục tiêu 2. Đề xuất chương trình, tài liệu, phương pháp
dạy-học, phương pháp lượng giá môn Đạo đức y học …...

49

2.3.3. Mục tiêu 3. Đánh giá kết quả can thiệp thử nghiệm tại hai

2.4.

trường Đại học Y Hà Nội và Đại học Y Thái Nguyên …..

49

Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu ………………………

50

2.4.1. Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu cho nghiên cứu mô tả
thực trạng ……………………………………………...
2.4.2. Phương pháp sử dụng cho đề xuất giải pháp can thiệp ….


56

2.9.

Sơ đồ nghiên cứu ……………………………………………

57

CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ……………………………...

59

3.1. Thực trạng dạy-học đạo đức y học trong đào tạo bác sĩ tại

Footer Page 7 of 126.


Header Page 8 of 126.

tám trƣờng Đại học Y năm học 2009-2010………………………
3.1.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu …………….

59
59

3.1.2. Hiểu biết của sinh viên và nguồn thông tin về Đạo đức
y học …………………………………………………………

60

Nội và Đại học Y Thái Nguyên ……………………………………

75

3.3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu …………….

75

3.3.2. Hiểu biết của sinh viên và nguồn thông tin về Đạo đức
y học ………………………………………………………….

76

3.3.3. Chương trình và nội dung dạy-học môn Đạo đức y học

76

3.3.4. Phương pháp dạy-học …………………………………

84

3.3.5. Phương pháp lượng giá ………………………………..

91

CHƢƠNG 4. BÀN LUẬN ………………………………………………

96

4.1. Thực trạng dạy-học đạo đức y học trong đào tạo bác sĩ tại


107

4.2.1. Chương trình và tài liệu môn Đạo đức y học ……………

108

4.2.2. Phương pháp dạy-học môn Đạo đức y học ………………

110

4.2.3. Phương pháp lượng giá môn Đạo đức y học …………….

110

4.3. Kết quả can thiệp thử nghiệm tại hai trƣờng Đại học Y Hà
Nội và Đại học Y Thái Nguyên ……………………………………

110

4.3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu ……………….

110

4.3.2. Hiểu biết của sinh viên và nguồn thông tin về đạo đức y
học ………………………………………………………………

111

4.3.3. Chương trình và nội dung dạy-học môn Đạo đức y học ....


PHỤ LỤC ………………………………………………………………..

154

Footer Page 9 of 126.


Header Page 10 of 126.

10

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

ĐH ……………………………...

đại học

ĐHY ……………………………

Đại học Y

ĐHYD ………………………….

Đại học Y Dược

HN ……………………………...

Đại học Y Hà Nội


cộng đồng

Footer Page 10 of 126.


Header Page 11 of 126.

11

DANH MỤC BẢNG TRONG LUẬN ÁN
Số thứ tự

Tên bảng

Trang

Bảng 3.1.

Số lượng sinh viên và giảng viên tham gia nghiên cứu mô
tả

59

Bảng 3.2.

Khái niệm đạo đức y học theo ý kiến của sinh viên

60

Bảng 3.3.

Bảng 3.8

Tài liệu dạy-học theo ý kiến giảng viên

64

Bảng 3.9

Ý kiến giảng viên về phương pháp lượng giá môn Đạo đức
y học

66

Bảng 3.10

Ý kiến giảng viên về nội dung đạo đức y học cần được
dạy-học cho sinh viên trong chương trình đào tạo

67

Bảng 3.11

Ý kiến giảng viên về phương pháp dạy-học mong muốn
trong môn Đạo đức y học

70

Bảng 3.12

Ý kiến giảng viên về phương pháp lượng giá mong muốn


Hiệu quả của sử dụng tình huống trong bài giảng

88

Bảng 3.18.

Mong muốn của sinh viên về các tình huống trong bài
giảng

89

DANH MỤC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
Footer Page 11 of 126.


Header Page 12 of 126.

Số thứ tự

12

Tên biểu đồ

Trang

Biểu đồ 3.1

Phương pháp dạy-học của giảng viên tại tám trường


Mong muốn về phương pháp lượng giá môn Đạo đức y học

71

Biểu đồ 3.7.

Mức độ hài lòng của sinh viên với 3 nội dung: Lịch sử,
truyền thống nghề Y; Lý tưởng, lời thể y học; Nguyên lý cơ
bản của đạo đức y học

77

Biểu đồ 3.8.

Mức độ hài lòng của sinh viên với 3 nội dung: Quan hệ bác
sĩ-bệnh nhân; Quan hệ bác sĩ-đồng nghiệp; Quan hệ bác sĩxã hội, cộng đồng

78

Biểu đồ 3.9.

Ý kiến của sinh viên về mức độ áp dụng 3 nội dung: Lịch sử,
truyền thống nghề Y; Lý tưởng, lời thề y học; Nguyên lý cơ
bản của đạo đức y học vào thực hành lâm sàng

79

Biểu đồ 3.10.

Ý kiến của sinh viên về mức độ áp dụng 3 nội dung: Quan

Biểu đồ 3.15.

Mức độ hài lòng của sinh viên với phương pháp dạy-học (1)

86

Biểu đồ 3.16.

Mức độ hài lòng của sinh viên với phương pháp dạy-học (2)

87

Biểu đồ 3.17.

Mong muốn của sinh viên về phương pháp dạy-học

90

Biểu đồ 3.18.

Phương pháp lượng giá môn Đạo đức y học

91

Biểu đồ 3.19.

Mức độ hài lòng của sinh viên với phương pháp lượng giá

92


Header Page 14 of 126.

14

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trách nhiệm cao cả của các nhân viên y tế là chăm sóc sức khỏe con
người, vì lợi ích chung của cộng đồng và xã hội. Từ nhiều năm nay, các tổ
chức quốc tế nói chung và y học nói riêng trên thế giới như Hội Y học Thế
giới, Liên hiệp quốc, Hội đồng Điều dưỡng quốc tế, Tổ chức Y tế Thế giới, Tổ
chức quốc tế về Giáo dục-Khoa học-Văn hóa… đã phê chuẩn, tuyên bố và
điều chỉnh nhiều quy định liên quan đến các nguyên lý và tiêu chí đạo đức
trong thực hành và nghiên cứu y học như Quyền con người; Thực hành y học
tốt; Trách nhiệm chuyên môn và quan hệ với đồng nghiệp của người điều
dưỡng; Quyền của người bệnh … [69],[70],[78],[90][106],[111],[112],[123].
Ở Việt Nam, năm 1955 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong „Thư gửi
Hội nghị cán bộy tế‟ rằng “Lương y như từ mẫu” [16]. Năm 1989, Quốc hội
Việt Nam đã thông qua „Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân‟ [25] và Bộ Y tếđã
đưa ra quy định về việc thực hiện „12 điều y đức‟ [4]. Mặc dù đây là một trong
những tiêu chuẩn quan trọng của người thầy thuốc được nhà nước và xã hội
quan tâm, nhưng cho đến nay, bên cạnh những thành tựu mà ngành y học Việt
Nam đã đạt được trong nhiều năm qua, thì y đức vẫn còn là một vấn đề rất cần
được cải thiện để phù hợp với sự phát triển của y học thực hành và đáp ứng
mong đợi của cộng đồng.
Nghiên cứu về đạo đức y học trên thế giới đã được thực hiện tại nhiều
nước ở khắp các châu lục,trong nhiều lĩnh vực như: thực hành lâm sàng;
nghiên cứu khoa học; đào tạo y khoa ... .Các nghiên cứu đều khuyến nghị sự
cần thiết phải đào tạo về đạo đức y học cho sinh viên trong chương trình chính
khóa tại các trường Đại học Y [55],[57],[60],[63],[76],[84],[86].
Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu thực
Footer Page 14 of 126.


Đề xuất chương trình, tài liệu, phương pháp dạy-học và phương pháp

lượng giá môn Đạo đức y học.
3.

Đánh giá kết quả can thiệp thử nghiệm tại trường Đại học Y Hà Nội

và Đại học Y Thái Nguyên.

Footer Page 15 of 126.


Header Page 16 of 126.

16

CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. Khái quát lịch sử phát triển của đạo đức y học
Đạo đức y học luôn gắn liền với người thầy thuốc. Không một ngành
nào được nhắc nhiều đến vấn đề đạo đức nghề nghiệp như ngành y và được
gọi theo một danh từ riêng là “Y đức”. Từ những năm trước công nguyên,
Hyppocrate, ông tổ của ngành y đã có lời thề nổi tiếng nói đến những tiêu chí
đầu tiên về đạo đức trong thực hành nghề y [77].
1.1.1.Khái niệm đạo đức và đạo đức y học
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam:
“Đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm
những chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ với
toàn xã hội” [31].

1.1.2.1. Chế độ chính trị, luật pháp
Đạo đức được duy trì trong một cộng đồng phải phù hợp với chế độ
chính trị của cộng đồng đó. Chế độ chính trị của mỗi nước thể hiện bằng các
văn bản pháp quy như Hiến pháp, Luật, Pháp lệnh.
Hiến pháp của mỗi quốc gia có ảnh hưởng nhiều đến nền tảng đạo đức
trong xã hội. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm
1992, điều 30, chương 3 quy định:
“Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hóa Việt Nam: dân tộc, hiện
đại, nhân văn; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc
Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn
hóa nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân” [22].

Các bộ Luật trong Hiến pháp quy định riêng cho từng lĩnh vực và có
những tiêu chí đề cập đến vấn đề đạo đức. Ở Việt Nam, liên quan đến lĩnh vực
y học và đạo đức trong ngành y có Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân, Luật Hoạt
động chữ thập đỏ, Luật Bảo hiểm y tế, Luật Khám chữa bệnh, Pháp lệnh về
hành nghề y dược tư nhân...[25],[26],[27],[28],[29],[30].
1.1.2.2. Phong tục, tập quán, dân tộc
Mỗi cộng đồng dân cư, mỗi dân tộc đều có phong tục, tập quán của
mình. Đó là những giá trị văn hóa lâu đời được lưu giữ và bảo tồn đến ngày
nay, kết hợp với văn hóa hiện đại theo sự phát triển của quốc gia và thế giới.
Giá trị văn hóa của mỗi dân tộc thể hiện qua các quy định bằng văn bản và
không văn bản về đạo đức con người. Theo thời gian, phong tục tập quán của
Footer Page 17 of 126.


Header Page 18 of 126.

18



19

- Trường Đại học: là nơi dạy đạo đức nghề nghiệp. Sinh viên của các
trường Đại học Y cần được học đạo đức y học trong chương trình đào
tạo. Sinh viên được học tập và rèn luyện đạo đức y học dựa trên nền
tảng đạo đức nói chung mà họ có được từ gia đình và từ nhà trường phổ
thông.
- Xã hội: đạo đức của mỗi người còn chịu ảnh hưởng bởi môi trường
sống và xã hội nói chung. Đây chính là quá trình tự đào tạo đạo đức của
mỗi con người. Tự đào tạo có thể mang lại kết quả tốt hoặc không tốt
tùy theo nhận thức, tư duy và hành động của mỗi cá nhân.
1.1.3. Một số mốc thời gian quan trọng trong lịch sử phát triển của đạo
đức y học
Đạo đức y học đã có lịch sử khoảng 2500 năm trong nghề y, tính từ thời
Hyppocrate. Theo dòng phát triển của lịch sử y học, khái niệm đạo đức y học
dần được hoàn thiện và ngày càng được quan tâm. Các tổ chức y học quốc tế
và tại các quốc gia lần lượt phê chuẩn và công bố các quy định về đạo đức
trong thực hành y học và chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Nhưng trước khi
cónhững quy định này, trong thập kỷ 20-40 của thế kỷ XX đã có những cuộc
thửnghiệm lâm sàng liên quan đến vấn đề đạo đức y học.
1.1.3.1. Những thử nghiệm trong nửa đầu thế kỷ XX và chiến tranh thế giới
thứ II
Nghiên cứu Tuskegee: năm 1928, người ta phát hiện thấy khoảng
25% trong số hơn 2000 người Hoa Kỳ gốc Phi ở Nam Mỹ bị bệnh giang
mai. Một số nhà nghiên cứu ở Dịch vụ y tế công cộng (Hoa Kỳ) đã thực
hiện một nghiên cứu tiến cứu về ảnh hưởng của bệnh giang mai không
được điều trị đến đời sống của đối tượng nghiên cứu. Các đối tượng
tham gia nghiên cứu không được thông báo về việc họ đã bị giang mai
và cũng không được điều trị bệnh này. Trong thời gian nghiên cứu, đã

tranh thế giới thứ hai. Chỉ một vài cặp sinh đôi trong số 3000 cặp còn
sống sót và sau 50 năm họ đã kể lại câu chuyện của mình. Cho đến bây
giờ, những cặp sinh đôi này vẫn không biết và không được giải thích về
những thử nghiệm và thuốc mà họ bị bắt buộc tham gia. Sau chiến
tranh thế giới thứ hai, các bác sĩ phát xít Đức tham gia những thử
nghiệm này đã bị bắt và bị kết án là tội phạm quốc tế. Tòa án quốc tế về
tội phạm chiến tranh đã tuyên bố rằng việc vi phạm đến con người đã
quá trầm trọng đến mức không có kết quả tuyệt vời nào từ những thử
nghiệm đó có thể biện minh cho cách mà họ đã làm [46].
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nhân loại hết sức phẫn nộ khi phát
hiện những thử nghiệm tàn bạo với con người tại các trại tập trung của phát xít
Đức. Tại các cuộc họp của nhiều tổ chức quốc tế về y học và ngoài y học, đại
diện của các nước thống nhất cần phải có những quy định cụ thể về nhân
quyền và thực hành y học, nghiên cứu y học có liên quan đến con người.
Vấnđề đạo đức y học bắt đầu được xem xét một cách nghiêm túc.
Footer Page 20 of 126.


Header Page 21 of 126.

21

1.1.3.2. Sự hình thành và phát triển các hướng dẫn và quy định về đạo đức
y học trên thế giới và Việt Nam
Trên thế giới
Sau chiến tranh thế giới thứ II, năm 1947, các tổ chức quốc tế đã họp tại
Nuremberg, một thành phố ở miền nam nước Đức để thảo luận về các thử
nghiệm y học dưới thời phát xít Đức. “Luật Nuremberg” là văn kiện quốc tế
đầu tiên về đạo đức trong nghiên cứu y sinh học có sử dụng con người. Luật
này nhấn mạnh đến quyền lợi của người tham gia nghiên cứu và nghĩa vụ của

Năm 1964, Hội Y học Thế giới tuyên bố “Tuyên ngôn Helsinki. Các
nguyên tắc đạo đức trong các nghiên cứu y học có liên quan đến con
người”(được sửa đổi gần nhất là năm 2008). Tuyên ngôn quy định đạo đức và
trách nhiệm của người thực hiện các nghiên cứu khoa học y học.
Trách nhiệm của bác sĩ khi tham gia vào các nghiên cứu y học là bảo vệ cuộc
sống, sức khỏe, phẩm chất, giá trị, quyền tự quyết, sự riêng tư và bảo mật
thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu [123].

Năm 1981, “Quyền của người bệnh” được Hội Y học Thế giới đề cập
đến 11 quyền lợi của người bệnhkhi cần được chăm sóc sức khỏe. Quyền của
người bệnhđược sửa đổi gần đây nhất tại Hội nghị lần thứ 47 tháng 10/2005.
Người bệnhtrưởng thành có năng lực tâm thần có quyền đồng ý hoặc từ chối
đối với bất kỳ quá trình chẩn đoán và điều trị nào. Người bệnhcó quyền được
biết các thông tin cần thiết để tự đưa ra quyết định[119].

Hội đồng Liên hợp quốc năm 1982 đã công bố “Nguyên lý của đạo đức
y học” trong bảo vệ sức khỏe con người “...Kêu gọi tất cả các quốc gia đưa
Nguyên lý của đạo đức y học vào thực hiện cùng với các giải pháp hiện có,
phổ biến rộng rãi, đặc biệt là trong các viện, trường y…”[69].
Hội các Tổ chức Khoa học Y học Quốc tế (CIOMS) do Tổ chức Y tế
Thế giới và UNESCO thành lập. Năm 1993, CIOMS ra hướng dẫn “Các quy
định quốc tế về đạo đức cho các nghiên cứu y sinh học có liên quan đến con
người”, văn bản này được sửa đổi gần đây nhất năm 2002. “…Tất cả các đề
cương nghiên cứu có sử dụng con người phải được đệ trình để phê duyệt tính
Footer Page 22 of 126.


Header Page 23 of 126.

23

sức khỏe của đồng bào. Đó là một nhiệm vụ rất vẻ vang. Vì vậy, cán bộ cần
phải thương yêu săn sóc người bệnh như anh em ruột thịt của mình, coi họ
đau đớn cũng như mình đau đớn. "Lương y phải như từ mẫu", câu nói ấy rất
đúng [16].
Footer Page 23 of 126.


Header Page 24 of 126.

24

Năm 1989, Quốc hội Việt Nam thông qua “Luật Bảo vệ sức khỏe nhân
dân Việt Nam”. Luật quy định “Thầy thuốc phải có y đức, có tinh thần trách
nhiệm, tận tình cứu chữa người bệnh; chấp hành nghiêm chỉnh các quy định
chuyên môn ...” [25].
Năm 1996, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị
quyết “Định hướng chiến lược công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân
đến năm 2000 và 2020”. Nghị quyết nêu rõ “Tiêu chuẩn hóa các yêu cầu về
đạo đức và về chuyên môn đối với những người hành nghề Y – Dược [12].
Năm 1996, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Quyết định về “12 điều Y đức”
quy định về “Tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế”.
Y đức là phẩm chất tốt đẹp của người làm công tác y tế, được biểu hiện ở tinh
thần trách nhiệm cao, tận tuỵ phục vụ, hết lòng thương yêu chǎm sóc người
bệnh, coi họ đau đớn như mình đau đớn... Y đức phải thể hiện qua những tiêu
chuẩn, nguyên tắc đạo đức được xã hội thừa nhận [4]

Năm 2008, Bộ Y tế ban hành “Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội
đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học”, được sửa đổi vào năm 2012.
Trước khi triển khai, tất cả các nghiên cứu y sinh học với đối tượng nghiên
cứu là con người tại Việt Namđều phải được xem xét, đánh giávềđạo đức

và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án.
Kịp thời và tuân thủ đúng quy định chuyên môn kỹ thuật.
Ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh đối với trường hợp cấp cứu, trẻ em dưới 6
tuổi, người khuyết tật nặng, người từ đủ 80 tuổi trở lên, người có công với
cách mạng, phụ nữ có thai [30].

Lịch sử của đạo đức y học được phát triển và hoàn thiện dần qua từng
thời kỳ thăng trầm của các quốc gia và thế giới nói chung. Từ sau chiến tranh
thế giới thứ II, vấn đề quyền con người đã được nhấn mạnh và bắt đầu khởi
nguồn cho các hướng dẫn quốc tế về đảm bảo tôn trọng quyền con người và
phải có đạo đức trong mọi nghiên cứu y học có liên quan hoặc không liên
quan đến con người. Những tuyên bố về tiêu chuẩn trong thực hành chăm sóc
sức khỏe đã quy định rất cụ thể về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền hạn của
nhân viên y tế trong mọi hoạt động chăm sóc sức khỏe con người. Việt Nam
đã có cơ sở pháp lý là các bộ Luật với những nội dung liên quan đến đạo đức
nghề y mà mỗi nhân viên y tế phải có trách nhiệm thực hiện. Nhìn lại khái
quát lịch sử, chúng ta có thể thấy đạo đức y học phát triển ngày càng hoàn
thiện theo xu hướng tôn trọng con người hơn, công bằng hơn và tốt đẹp hơn.

Footer Page 25 of 126.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status