MỘT số vấn đề lý LUẬN và THỰC TIỄN về đổi mới PHƯƠNG THỨC LÃNH đạo của ĐẢNG CỘNG sản VIỆT NAM đối với NHÀ nước và hệ THỐNG CHÍNH TRỊ - Pdf 42

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐỔI MỚI
PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
Đảng cầm quyền là một trong những vấn đề phức tạp nhất của đời
sống chính trị trên phương diện lý luận và thực tiễn. Trong các nền chính trị
thế giới, vấn đề giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước là một hoạt động
cơ bản của Đảng cầm quyền. Các Đảng cầm quyền ở các nước có nền kinh
tế, chính trị, văn hóa - xã hội khác nhau thì phương thức lãnh đạo với nhà
nước cũng khác nhau. Tuy nhiên, các phương thức lãnh đạo với nhà nước
của Đảng đều phải tuân theo những nguyên tắc chung là lãnh đạo, chi phối,
sử dụng quyền lực nhà nước, sử dụng sức mạnh của nhà nước để thực hiện
những mục tiêu của đảng và của giai cấp mình một cách có hiệu quả.
Đối với nước ta, sau khi lãnh đạo cuộc cách mạng tháng Tám thành
công, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền, lãnh đạo chính
quyền và xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng nước ta đã giành từ
thắng lợi này đến thắng lợi khác, từ hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân
chủ nhân dân, giành hoà bình và thống nhất tổ quốc đến những thành tựu
quan trọng của hơn 30 năm đổi mới là do Đảng luôn có phương thức lãnh
đạo đúng đắn, phù hợp với tình hình cách mạng và điều kiện đất nước. Với
vị thế là Đảng cầm quyền, Đảng ta đã tích lũy và làm phong phú hơn không
ít kinh nghiệm về phương thức lãnh đạo đối với nhà nước. Song, thực tế
phương thức lãnh đạo đối với nhà nước vẫn đang đặt ra không ít vấn đề hết
sức cơ bản cả trên phương diện lý luận và thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu ,
tổng kết, đổi mới và phát triển nhằm không ngừng nâng cao vị trí, vai trò và
năng lực lãnh đạo của Đảng ta ngang tầm công cuộc đổi mới, xây dựng chủ
nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc


NỘI DUNG
1. Đặc điểm chi phối hoạt động xây dựng và lãnh đạo của đảng
trong điều kiện Đảng cầm quyền

Là Đảng cầm quyền, Đảng phải chịu trách nhiệm trước vận mệnh của
toàn dân tộc, về sự phát triển toàn diện của xã hội, về sự giàu mạnh của đất
nước, về tự do, ấm no hạnh phúc của nhân dân. Nếu trước đây, nhiệm vụ
hàng đầu của Đảng là đấu tranh lật đổ chính quyền cũ của giai cấp bóc lột thì
hiện nay nhiệm vụ hàng đầu của Đảng là lãnh đạo, xây dựng chính quyền
mới của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động, phát huy vai
trò của chính quyền trong xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ thành
quả cách mạng.
Nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội rất mới mẻ, khó khăn, gian khổ,
lâu dài, đặt ra những yêu cầu mới, đồng thời là thách thức mới đối với Đảng
cộng sản khi cầm quyền.
Thứ hai là, có nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân
và vì dân là công cụ sắc bén để quản lý và điều hành đất nước
Sự ra đời của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là đặc điểm rất quan trọng của
Đảng cộng sản cầm quyền. Nhà nước xã hội chủ nghĩa là công cụ sắc bén để
Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình đối với xã hội. Thông qua các hoạt động
của Nhà nước mà quan điểm, đường lối, chính sách lớn của Đảng được cụ thể
hoá, thể chế hoá và tổ chức thực hiện. Đồng thời, chính sự lãnh đạo của Đảng
đối với Nhà nước là yếu tố quyết định đảm bảo cho Nhà nước thực sự là Nhà
nước của dân, do dân và vì dân. Do đó, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
không đối lập mà thống nhất với nâng cao quyền lực của Nhà nước đối với
việc quản lý và điều hành đất nước. Thông qua lãnh đạo hoạt động của Nhà


nước mà Đảng củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Đảng với giai cấp công
nhân và nhân dân lao động.
Nhà nước xã hội chủ nghĩa ra đời là một bước ngoặt quan trọng trong
quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng. Bước ngoặt đó tạo ra những thuận
lợi rất cơ bản cho việc thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng. Đảng lãnh đạo
xã hội được thực hiện chủ yếu bằng việc tổ chức và hoạt động của Nhà

phổ biến đến nay không còn phổ biến nữa như phương pháp tuyên truyền vận
động cá biệt từng người, từng nhà nay vẫn cần, nhưng khi có chính quyền,
Đảng phải sử dụng rộng rãi hệ thống thông tin đại chúng để tuyên truyền giáo
dục, vận động tổ chức quần chúng hành động cách mạng. Đồng thời, nhiệm
vụ xây dựng đòi hỏi phải sáng tạo nhiều phương pháp, hình thức mới ngày
càng phong phú như: kết hợp giáo dục chính trị tư tưởng với khuyến khích vật
chất; kết hợp giữa giáo dục với hành chính và cưỡng bức; kết hợp giữa công
tác tư tưởng, công tác tổ chức và các biện pháp kinh tế...
Thực tiễn lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa của nhiều Đảng cầm
quyền cho thấy cần đề phòng khuynh hướng Đảng bao biện, làm thay công
việc của Nhà nước hoặc sử dụng các hình thức, phương pháp của Nhà nước,
quá chú trong khuyến khích lợi ích vật chất, các biện pháp hành chính,
cưỡng bức. Cả hai khuynh hướng đó đều dẫn đến những hạn chế không nhỏ
đối với chất lượng và hiệu quả lãnh đạo của Đảng cầm quyền.
* Một số đặc điểm riêng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng ta ra đời, trưởng thành, lãnh đạo chính quyền gắn liền với
chiến tranh cách mạng lâu dài
Ở Việt Nam, do điều kiện lịch sử, chính quyền dân chủ nhân dân đã
được thành lập từ cách mạng tháng Tám năm 1945. Từ đó, Đảng ta trở thành
Đảng cầm quyền. Nhưng do phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp,
nên đến năm 1954 nước ta mới tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền
Bắc và suốt từ đó đến năm 1975, Đảng ta lãnh đạo toàn dân tiến hành hai


nhiệm vụ chiến lược: tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và
chiến tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Từ sau đại thắng mùa
Xuân 1975 Đảng ta mới có điều kiện tập trung lãnh đạo cả nước đi lên chủ
nghĩa xã hội, nhưng lại bị hai cuộc chiến tranh ở biên giới Tây Nam và phía
Bắc chi phối. Đầu thập kỷ 80 Đảng ta mới có điều kiện thực sự lãnh đạo đất
nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Quá trình ra đời và trưởng thành của Đảng ta

kiện chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu đã tan rã, chủ
nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch bao vây cấm vận tăng cường chống
phá cách mạng Việt Nam. Vì vậy, sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa
diễn ra với quy mô rộng lớn, với tính chất gay go, quyết liệt, phức tạp và lâu
dài, đòi hỏi năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng ta phải kiên cường,
bền bỉ, năng động và sáng tạo mới có thể đưa sự nghiệp cách mạng của
Đảng và dân tộc ta đi tới thắng lợi. Mọi đường lối, chủ trương, chính sách
lớn của Đảng phải khơi dậy và phát huy được mọi tiềm năng lớn về tài
nguyên, lao động và truyền thống vốn có của dân tộc Việt Nam, đồng thời
phải nhanh chóng nắm bắt được xu thế của thời đại, tranh thủ sự giúp đỡ và
hợp tác quốc tế, nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức Đảng mới có thể lãnh
đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa giành thắng lợi.
2. Sự đổi mới, phát triển về phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với nhà nước và hệ thống chính trị
Phương thức lãnh đạo của Đảng là một bộ phận của khoa học lãnh
đạo, một nội dung cơ bản của công tác xây dựng Đảng.
Nhìn lại quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta hơn 80 năm qua,
trong mỗi giai đoạn cách mạng, đặc biệt từ khi Đảng tiến hành công cuộc
đổi mới đất nước hiện nay, cùng với việc xây dựng đường lối cách mạng,
Đảng không ngừng phát triển hoàn thiện tư duy về phương thức lãnh đạo
trên cơ sở vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, tổng kết thực tiễn cách mạng nước ta và cách mạng thế giới.


Tư tưởng về phương thức lãnh đạo của Đảng xuất hiện khá sớm. Ngay
từ khi Đảng ra đời, trong các văn kiện xây dựng Đảng, thường được đề cập
dưới góc độ là phương pháp lãnh đạo; tác phong công tác của Đảng. Đến
Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII lần đầu tiên thuật ngữ phương thức
lãnh đạo của Đảng được đề cập với ý nghĩa là hệ thống hình thức, phương
pháp (cách thức, biện pháp) mà Đảng vận dụng trong từng thời kỳ để tác

Thực tế cho thấy, kể từ Cương lĩnh năm 1991 ra đời đến nay, tình
hình thế giới, trong nước đã có nhiều biến đổi to lớn. Nhiều vấn đề mới về
phương thức lãnh đạo của Đảng qua các kỳ Đại hội đã được Đảng bổ sung,
phát triển hoặc nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn. Đại hội VII của Đảng đã nhấn
mạnh việc phải gấp rút “quy định cụ thể mối quan hệ về lối làm việc giữa
Đảng với Nhà nuớc và các đoàn thể nhân dân ở các cấp trước nhất là ở
Trung ương”5. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của
Đảng cụ thể hoá thêm một bước, xác định rõ hơn những nguyên tắc thực
hiện sự lãnh đạo qua đảng viên và qua tổ chức đảng. Thực hiện tư tưởng chỉ
đạo đó, Đại hội VII của Đảng đã chủ trương lập Ban cán sự đảng trong các
cơ quan nhà nước và các tổng công ty nhà nước; lập Đảng đoàn trong Quốc
hội, các đoàn thể và nhấn mạnh: “Đảng đoàn, Ban Cán sự đảng làm việc
theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, có chế độ sinh hoạt định
kỳ với nội dung rõ ràng, không lẫn lộn với sinh hoạt của chính quyền” 6. Đại
hội IX tập trung chú ý vào đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với
hoạt động của các bộ phận còn lại trong hệ thống chính trị. Đại hội X của
Đảng tập trung nêu lên quan niệm về phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với hoạt động của Nhà nước: “Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng đuờng lối,
Đảng Cộng sản Việt Nam; Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX),
Nxb CTQG, H, 2005, tr. 301.
6 Đảng Cộng sản Việt Nam; Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX),
Nxb CTQG, H, 2005, tr. 524.
5


quan điểm, các nghị quyết; lãnh đạo thể chế hoá, cụ thể hoá thành Hiến
pháp, pháp luật, kế hoạch, các chương trình công tác lớn của Nhà nước; bố
trí đúng cán bộ và thường xuyên kiểm tra việc tổ chức thực hiện” 7. Đối với
hoạt động của Mặt trận và đoàn thể nhân dân, trong văn kiện nhấn mạnh
việc tạo điều kiện để mặt trận và các đoàn thể xác định đúng mục tiêu,

luôn phụ thuộc vào nội dung lãnh đạo. Chính yêu cầu nội dung lãnh đạo đòi
hỏi phải có phương thức lãnh đạo tương ứng. Song phương thức lãnh đạo
không chỉ phụ thuộc hoàn toàn vào nội dung lãnh đạo mà còn phụ thuộc vào:
Sự phát triển của hệ thống chính trị, trình độ dân chủ của xã hội (đối tượng
lãnh đạo); sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ, đảng viên (chủ thể lãnh đạo);
bản lĩnh, trình độ, phong cách của người đứng đầu tổ chức đảng và bối cảnh
kinh tế - xã hội thế giới, trong nước cũng như nhận thức chính trị của quần
chúng nhân dân trong những thời kỳ lịch sử nhất định; sự phát triển khoa
học quản lý và phương tiện kỹ thuật phục vụ hoạt động lãnh đạo…
Phương thức lãnh đạo đúng là phương thức vừa bảo đảm thực hiện
đúng định hướng chính trị, vừa phát huy được tính chủ động, tích cực, tinh
thần nhiệt tình, sáng tạo nhân lên sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính
trị và của nhân dân nhằm thực hiện đạt hiệu quả cao nhất mục tiêu đề ra.
Thứ hai, Đảng bổ sung, phát triển và từng bước cụ thể hoá nội dung
phương thức lãnh đạo của Đảng đối với xã hội và hệ thống chính trị
Trên cơ sở khẳng định những nội dung về phương thức lãnh đạo của
Đảng trong cương lĩnh năm 1991, qua 20 năm tìm tòi, thử nghiệm, tổng kết
thực tiễn, Đảng ta đã bổ sung và xác định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là
Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương
lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công
tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra và bằng hành
động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ


và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên và quần chúng ưu tú
có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các tổ chức của hệ thống
chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động
trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá
nhân, nhất là người đứng đầu. Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm
quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ

đảm thực hiện có hiệu quả đường lối của Đảng trong thực tiễn, vừa thực hiện
nhiệm vụ then chốt và giữ vững vấn đề có tính nguyên tắc đối với một Đảng
cầm quyền là: giữ vững, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với công
tác tổ chức và cán bộ trong hệ thống chính trị.
Trên cơ sở đổi mới nhận thức về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội;
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy dân chủ,
xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa… Đồng thời khắc phục tình
trạng Đảng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc bao biện làm thay công việc của Nhà
nước và các đoàn thể xã hội. Đảng đã từng bước cụ thể hóa, thể chế hóa các
quan điểm của Cương lĩnh (năm 1991) về phương thức lãnh đạo của Đảng đối
với các thành viên trong hệ thống chính trị và các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Cụ thể là:
Đối với Quốc hội: Đảng định hướng lãnh đạo về: chương trình xây
dựng luật, pháp lệnh những quan điểm chính trị chỉ đạo trong mỗi dự án
luật, pháp lệnh những vấn đề trọng yếu của mỗi kỳ họp Quốc hội và những
vấn đề quan trọng khác mà Đảng đoàn Quốc hội thấy cần có sự chỉ đạo của
Bộ Chính trị. Đảng đòi hỏi: Đảng đoàn Quốc hội có trách nhiệm lãnh đạo
hoạt động của Quốc hội theo đường lối của Đảng. Truyền đạt cho các đảng
viên là đại biểu Quốc hội những quan điểm chỉ đạo của Trung ương, thuyết
phục, vận động các đại biểu Quốc hội ngoài đảng theo đường lối, quan điểm
của Đảng.


Mọi đảng viên trong Quốc hội phải thực hiện đúng những chủ trương,
chính sách mà Đảng đã khẳng định. Đối với vấn đề mà Bộ Chính trị chỉ nêu
phương hướng, đảng viên phải nêu cao tính đảng, tham gia thảo luận xây
dựng để Quốc hội đi tới những quyết định chuẩn xác. Đối với các vấn đề có
ý kiến khác nhau, chưa đủ căn cứ để kết luận, thì sau khi Quốc hội thảo luận,
Đảng sẽ có định hướng lãnh đạo.
Đối với Chính phủ: Đảng quyết định những phương hướng, chủ

học viên.
Đảng lựa chọn và giới thiệu nhũng cán bộ, đảng viên ưu tú ứng cử các
chức vụ chủ chốt của các đoàn thể, để các đoàn thể bầu cử theo quy định.
Thông qua Đảng đoàn và các đảng viên trong Mặt trận và đoàn thể để
hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của đảng viên công tác trong các đoàn thể,
bảo đảm cho đoàn thể hoạt động đúng phương hướng chính trị. Đồng thời,
xây dựng quy chế và thực hiện công khai, tạo điều kiện để quần chúng giám
sát và tham gia quản lý các công việc của Nhà nước.
Đối với các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ:
Đảng khuyến khích phát triển theo hướng tự nguyện, tự quản, tự chủ về tài
chính theo đúng luật pháp. Đảng nghiên cứu nguyện vọng lập hội và xu
hướng phát triển của các hội, đoàn thể để định hướng chính sách chung và
riêng phù hợp với từng loại.
Đối với Ban Chấp hành Trung ương: Căn cứ vào Nghị quyết Đại hội
Đảng, lập chương trình làm việc toàn khóa để thảo luận các vấn đề quan
trọng nhất về chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và
pháp luật. Giới thiệu nhân sự ứng cử vào các chức vụ Chủ tịch nước, Chủ
tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ.


Đối với Bộ Chính trị: Căn cứ vào nghị quyết Quốc hội và nghị quyết
Hội nghị Trung ương, ra nghị quyết, chỉ thị để lãnh đạo các lĩnh vực hoạt
động của Nhà nước như đã nêu trên. Giới thiệu cán bộ ứng cử vào các chức
vụ chủ chốt trong bộ máy Nhà nước theo quy định về phân cấp quản lý cán bộ.
Đối với Ban Bí thư: Thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ
Đảng; tổ chức triển khai công tác kiểm tra hoạt động của Đảng đoàn, Ban cán
sự Đảng của cơ quan, đoàn thể ở Trung ương, bảo đảm thực hiện đúng các nghị
quyết của Đảng, chăm lo công tác cán bộ trong diện được phân cấp quản lý.
Đối với Đảng đoàn, Ban cán sự Đảng trong các cơ quan Nhà nước
chịu trách nhiệm trước cấp ủy về quán triệt đường lối, chính sách của Đảng

tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong sản xuất thực hành tiết
kiệm chống tham nhũng, và tổ chức đời sống của các tầng lớp nhân dân .
Đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh: Đảng quyết định đường lối,
nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của đất nước trong từng thời kỳ; lãnh đạo xây
dựng tiềm lực, thế trận quốc phòng, gắn với tiềm lực thế trận an ninh; lãnh
đạo toàn dân và hệ thống chính trị kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược
xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, kết hợp kinh
tế với quốc phòng và an ninh và hoạt động đối ngoại.
Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt lĩnh vực quốc phòng, an
ninh; thống nhất giữa lãnh đạo của Đảng và quản lý Nhà nước đối với lĩnh
vực quốc phòng, an ninh bằng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bằng tổ
chức và bằng luật pháp; thường xuyên chăm lo xây dựng Đảng, tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và công an.
Đối với lĩnh vực tư tưởng: Đảng lãnh đạo việc nghiên cứu, tiếp thu,
vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, xây dựng lý luận phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc, lãnh đạo xây


dựng đường lối, nghị quyết và quán triệt đường lối, nghị quyết công tác tư
tưởng; lãnh đạo xây dựng nền tảng tinh thần vững chắc và phong phú của xã
hội; lãnh đạo cuộc đấu tranh khắc phục những nhận thức tư tưởng lệch lạc
và chống các luận điểm tư tưởng thù địch.
Đảng lãnh đạo lĩnh vực tư tưởng bằng đường lối, chiến lược tư tưởng
và chương trình công tác tư tưởng; bằng các quyết định về công tác tư tưởng
và bằng công tác kiểm tra. Đảng lãnh đạo thông qua các hoạt động, thông
qua lực lượng và các phương tiện làm công tác tư tưởng.
Đối với lĩnh vực văn hóa - nghệ thuật: Đảng lãnh đạo giữ vững định
hướng tư tưởng cho hoạt động sáng tác và cảm thụ; tạo sự gắn bó giữa văn
nghệ sĩ, công chúng và các cơ quan quản lý văn hóa - nghệ thuật; chăm sóc
tài năng văn hóa - nghệ thuật; đánh giá đúng đắn khách quan các tài năng và

tính khoa học, năng lực và hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và
toàn xã hội, sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân.
Hai là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, chất lượng
hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Ba là, phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân.
Bốn là, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong xã hội.
Năm là, phát triển đất nước nhanh và bền vững theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.
Đồng thời, Nghị quyết đã nêu 4 quan điểm chỉ đạo đổi mới phương
thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị sau đây:
Quan điểm thứ nhất: đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với
hoạt động của hệ thống chính trị phải được đặt trong tổng thể nhiệm vụ đổi
mới và chỉnh đốn Đảng.


Để thực hiện tốt quan điểm này yêu cầu phải tiến hành đồng bộ với
đổi mới các mặt của công tác xây dựng Đảng, với đổi mới tổ chức và hoạt
động của cả hệ thống chính trị, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức; tiến hành đồng bộ với đổi mới kinh tế, xây dựng và hoàn
thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế của đất nước.
Quan điểm thứ hai: đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với
hoạt động của hệ thống chính trị phải trên cơ sở kiên định các nguyên tắc tổ
chức và hoạt động của Đảng.
Theo đó, phải thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ và thực
hành dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong xã hội, đồng thời phải đẩy mạnh
phân cấp, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu.
Quan điểm thứ ba: đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với
hoạt động của hệ thống chính trị là công việc hệ trọng. Phải chủ động, tích

nghĩa là ý chí của đảng đã trở thành ý chí của xã hội, giai cấp công nhân đã
trở thành “cái dân tộc”, “cái phổ biến”, đảng đã hóa thân vào nhà nước.
Đảng lãnh đạo Nhà nước, nhưng mọi tổ chức và hoạt động của các cơ
quan đảng và đảng viên không thể đứng ngoài và đứng trên nhà nước. Trong
các mối quan hệ với tổ chức đảng, mỗi đảng viên thực hiện các quyền và
nghĩa vụ theo quy định của Điều lệ Đảng. Trong quan hệ với nhà nước, mỗi
đảng viên thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân theo các quy định của
Hiến pháp và pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Cần thống nhất về quan điểm, nhận thức trên những vấn đề căn bản:
- Mục tiêu đổi mới thể chế Đảng lãnh đạo Nhà nước là nhằm củng cố
vai trò lãnh đạo của Đảng nói chung và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
với Nhà nước nói riêng; giải quyết tốt các mối quan hệ giữa Đảng với Nhà


nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân, vì dân, đảm bảo dân chủ, đảm bảo quyền lực của nhân dân.
- Đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước pháp quyền không có gì mâu
thuẫn mà là tất yếu. Song, Đảng cần phải thay đổi cách thức tác động.
- Để làm tăng quyền lực lãnh đạo với nhà nước, các tổ chức đảng từ
Trung ương xuống đến cơ sở và mỗi đảng viên cần ý thức được tầm quan
trọng cũng như những khó khăn và bước đi tất yếu của quá trình đổi mới thể
chế Đảng lãnh đạo Nhà nước. Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, nâng cao
năng lực của mỗi tổ chức và đảng viên.
- Đổi mới thể chế lãnh đạo của Đảng là nội dung quan trọng trong đổi
mới phương thức lãnh đạo của Đảng và phải thường xuyên thay đổi cho phù
hợp với từng giai đoạn cách mạng. Hoàn chỉnh hệ thống các nguyên tắc
Đảng lãnh đạo Nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền là
vấn đề mới, lớn và rất hệ trọng.
- Đảng và Nhà nước cần có sự phối hợp để nghiên cứu nghiêm túc vấn
đề này. Cần tập trung được trí tuệ của đông đảo các nhà khoa học, các nhà

Đối với các cơ quan tư pháp, Đảng lãnh đạo công tác tư pháp, lãnh đạo
công tác đào tạo, bồi dưỡng, quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ tư pháp, tôn
trọng nguyên tắc: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của
Thẩm phán, Hội thẩm”9. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy đảng,
ban cán sự của các cơ quan điều tra, viện kiểm sát nhân dân, toà án nhân dân.
Đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh, Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực
tiếp về mọi mặt các lĩnh vực này về quan điểm, đường lối, chủ trương, chính
sách, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân trong sạch vững mạnh, có
9

Khoản 2, điều 103, chương VIII, Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 2013


bản lĩnh chính trị vững vàng, sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống đồng
thời phát huy trách nhiệm quản lý của Nhà nước đối với các cơ quan nay.
Đối với chính quyền địa phương, định rõ những loại việc ban chấp
hành đảng bộ, ban thường vụ cho ý kiến trước khi hội đồng nhân dân, ủy
ban nhân dân quyết định thực hiện những loại việc do hội đồng nhân dân,
ủy ban nhân dân quyết định theo thẩm quyền. Sự lãnh đạo của cấp ủy đảng
là định hướng và bảo đảm để hội đồng nhân dân quyết định các nhiệm vụ
kinh tế - xã hội ở địa phương, tạo điều kiện cho ủy ban nhân dân, người
đứng đầu cơ quan hành chính Nhà nước, địa phương quản lý, điều hành và
tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ đề ra.
Đối với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, tăng cường và đổi
mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong việc xây dựng, ban hành cơ chế
chính sách, tạo điều kiện cho các tổ chức này hoạt động đúng định hướng
chính trị, đúng pháp luật và có hiệu quả. Phát huy tinh thần tự chủ, sáng tạo
của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong việc kiện toàn tổ chức và đổi
mới hoạt động của mình, (đặc biệt tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ

Minh; quan tâm bồi dưỡng, đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng
của Đảng và dân tộc.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status