I. Phần mở đầu:
1. Lí do chọn đề tài.
Môn toán ở Tiểu học là môn học với nhiều kiến thức đa dạng, trong quá
trình dạy thường nảy sinh ra nhiều tình huống có vấn đề nhất. Các em muốn giải
quyết được tình huống đó thì đòi hỏi phải có một năng lực tư duy nhất định.
Nhưng thông thường trình độ của học sinh phát triển không đồng đều, dù các em
được học chung một lớp, một giáo viên giảng dạy, có những em nắm bắt kiến
thức rất nhanh nhưng cũng có những em nắm bắt kiến thức còn chậm, thậm chí
không hiểu vấn đề của bài học khiến cho giáo viên gặp phải những tình huống
khó xử, dẫn đến tình trạng kéo dài thời gian tiết học, chất lượng dạy học không
cao. Trong chương trình môn Toán lớp 5 điều mà tôi trăn trở nhất đó là việc dạy
học sinh thực hiện 4 phép tính với số thập phân, cách ước lượng thương trong
phép chia cho số thập phân có nhiều chữ số và dạy giải toán là vấn đề mà học
sinh thường gặp khó khăn lớn nhất. Ở lớp 4, dạy chia một số tự nhiên cho một
số tự nhiên cách ước lượng thương đã khó. Đa số các em không biết cách ước
lượng thương dẫn đến thực hiện các phép chia còn chậm, có em còn chia sai. Có
những em ước lượng thương không ghi nhớ mà còn rập khuôn, máy móc theo
các bước, phần thử lại diễn giải dài dòng, không khoa học. Mà phần lớn kiến
thức số học ở lớp 5 chiếm lượng kiến thức lớn với 33 tiết/năm và các dạng toán
còn lại đều liên quan tới việc tính toán cộng, trừ, nhân, chia. Với một số em môn
Toán là môn học được cho là khô khan, đặc biệt là bốn phép tính: Cộng, trừ,
nhân, chia về số thập phân. Đối với phép cộng và trừ sau khi thực hiện phép tính
xong các em hay quên dấu phẩy hoặc đặt phép tính dọc chưa đúng các hàng, vị
trí của từng chữ số dẫn đến kết quả sai. Với phép nhân học sinh không làm đúng
kết quả do không nắm chắc cách tách phần thập phân ở tích. Còn phép chia học
sinh chia kỹ năng ước lượng thương của các em còn chậm. Một số học sinh chưa
hoàn thành bài khi làm bốn phép tính về “số thập phân”.Làm sao để học tốt
được phần này ?
1
các lớp trên.
b. Nhiệm vụ:
2
Nghiên cứu cơ sở lí luận của các biện pháp vận dụng phương pháp đổi
mới để nâng cao hiệu quả dạy học toán ở lớp 5. Trọng tâm là bốn phép tính
cộng, trừ, nhân, chia số thập phân, giải toán về tỉ số phần trăm, cách ước lượng
thương khi chia cho số có nhiều chữ số.
Khảo sát thực trạng về nội dung đề tài đã đặt ra. Đề xuất những giải pháp
nghiên cứu áp dụng vào việc dạy học môn toán về thực hiện bốn phép tính số
thập phân nhằm nâng cao hiệu quả học tập.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu ý thức ham học toán của học sinh.
Nghiên cứu kỹ năng tính toán, giải toán của học sinh thông qua các bài
học cụ thể, thực tế trao đổi hằng ngày.
4. Giới hạn của đề tài.
Kỹ năng thực hiện bốn phép tính cộng, trừ, nhân, chia số thập phân, giải
toán có nhiều phép tính của học sinh lớp 5 trường Tiểu học Lê Hồng Phong.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động
- Phương pháp khảo nghiệm, thử nghiệm
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp thống kê toán học.
II. Phần nội dung.
1. Cơ sở lí luận.
xác về khái niệm số thập phân, bước đầu nắm được cấu tạo của một số thập
phân: gồm hai phần phần nguyên và phần thập phân. Nhìn chung học sinh của
lớp đã nắm được lý thuyết và cách vận dụng lý thuyết vào bài tập thực hành; biết
được cách thực hiện phép tính cộng, trừ, nhân, chia số thập phân. Bên cạnh đó
vẫn còn tình trạng học sinh chưa nắm chắc cánh thực hiên phép tính, thuộc lý
thuyết nhưng không biết áp dụng vào thực hành, tính toán sai, thường là những
em không tập trung, uể oải và ít khi làm bài tập đầy đủ. Còn một bộ phận học
sinh tính toán chậm, tính sai và dễ nản khi gặp những bài toán liên quan đến
phép chia số thập phân. Đối với bài toán có lời văn nhiều học sinh chưa nắm
chắc dạng bài và cách giải dạng bài đó; kĩ năng viết lời giải bài toán còn có
nhiều hạn chế.
Một số em chưa được sự quan tâm giúp đỡ của gia đình do các bậc phụ
huynh chưa nắm được các kiến thức một cách chắc chắn và chưa có sự hiểu biết
sâu về chuyên môn cũng như phương pháp giảng dạy nên việc hướng dẫn và
4
giúp đỡ học sinh trong quá trình học tập ở nhà còn hạn chế. Ý thức tự học, tự rèn
luyện của hoc sinh chưa cao, nhiều lúc còn thiếu tự tin và hứng thú trong việc
học môn Toán, chưa biết cách tự học. Mà đặc điểm HS ở lứa tuổi này rất hiếu
động, ham hiểu biết, thích tìm tòi cái mới, cái lạ nhưng cũng rất chóng quên,
thiếu cẩn thận trong tính toán, trong làm bài tập. Một số em có thói quen đọc
không kỹ đề dẫn đến sự nhầm lẫn giữa các dạng bài tương tự.
Với điều kiện cuộc sống như hiện nay, rất nhiều em được bố mẹ mua máy
tính cầm tay cho. Kèm theo đó là sự hiểu biết nhanh nhẹn về thời đại Công nghệ
thông tin, kỹ năng sử dụng máy tính cầm tay của các em rất tốt. Có máy tính rồi
lười tính toán, đã sử dụng máy tính để tính. Một số phụ huynh không để ý đến
con em trong việc học ở nhà, chỉ kiểm tra kết quả thấy đúng là được. Chính vì
vậy đã không rèn được kỹ năng tính toán cho các em.
3. Nội dung và hình thức của giải pháp.
rất lười học toán. Đầu năm ít khi em hoàn thành phần thực hành. Tôi đã theo
dõi, động viên kịp thời. Phân cho bạn Nguyễn Thị Kim Hồng ngồi cạnh, kèm
cặp. Chỉ sau vài tuần em đã tiến bộ rõ rệt. Hầu hết hoàn thành các bài thực hành
kịp các bạn và đặc biệt em đã thích học môn Toán.
Tôi nhận thấy biện pháp tạo niềm tin, hứng thú cho HS học môn Toán,
đem lại hiệu quả rõ rệt. kết quả học tập của học sinh lớp tôi tiến bộ hẳn. Đặc biệt
tinh thần ham học Toán của các em được nhân lên. Sau mỗi tiết học em nào
cũng nắm chuẩn kiến thức kỹ năng bài học.
2. Củng cố và hệ thống hóa các kiến thức có lên quan đã học trước đó
Nội dung chương trình môn Toán cũng như các môn học khác được xây
dựng theo nguyên tắc đồng tâm, ở các lớp trên việc cung cấp kiến thức mới dựa
trên cơ sở củng cố, hệ thống hóa và mở rộng các kiến thức đã học ở lớp dưới và
các kiến thức đã học ở lớp đó. Bởi vậy để học sinh nắm chắc được kiến thức
mới thì đòi hỏi các em phải nắm được các kiến thức cơ bản có liên quan đã được
học trước đó.Với đặc điểm học sinh lớp tôi, thích tìm tòi khám phá, ham hiểu
biết nhưng cũng rât chóng quên. Vì vậy việc củng cố và hệ thống hóa các kiến
thức có liên quan đã được học là một bước không thể thiếu được trong các tiết
dạy học toán. Chẳng hạn việc xây dựng quy tắc nhân một số thập phân với một
số thập phân được hình thành trên cơ sở củng cố và mở rộng cách nhân 2 số tự
nhiên
6
Ví dụ: Khi dạy bài: Nhân một số thập phân với một số thập phân trong nội dung
có nêu: “Khi nhân một số thập phân với một số thập phân ta làm như sau: Ta
nhân như nhân hai số tự nhiên; Ta đếm xem trong phần thập phân của cả 2 thừa
số có bao nhiêu chữ số ở phần thập phân rồi dùng dấu phẩy tách ở tích ra bấy
nhiêu chữ số kể từ phải sang trái”. Do vậy, HS cần nắm được một cách chắc
chắn cách thực hiên phép nhân 2 số tự nhiên đã học ở các lớp 2,3,4.
Việc nắm chắc kiến thức là rất quan trọng, bởi các kiến thức toán học là
nhấn mạnh thao tác đếm chữ số phần thập phân ở cả 2 thừa số đã đem nhân và
bước dùng dấu phẩy để tách ở tích chung chứ ở các tích riêng không chú ý gì
đến việc sử dụng dấu phẩy.
Ví dụ: Khi dạy bài Nhân một số thập phân cho một số thập phân.
9,8 x 5,3 = ?
Giáo viên nhấn mạnh. Tính tích riêng thứ nhất; Tính tích riêng thứ hai;
Cộng hai tích riêng lại thành tích chung rồi đếm ở thừa số thứ nhất có một chữ
số ở phần thập phân, thừa số thứ hai có một chữ số ở phần thập phân. Cả hai
thừa số có hai chữ số ở phần thập phân ta dùng dấu phẩy tách ở tích ra hai chữ
số kể từ phải sang trái.
Trong mỗi tiết học, tôi luôn tìm hiểu để phát hiện ra những vấn đề học
sinh hay nhầm lẫn, kịp thời chấn chỉnh ngay. Chính vì vậy mà kỹ năng đặt tính
và tính của học sinh lớp tôi rất chắc chắn. Nhất là 4 phép tính cộng, trừ, nhân,
chia số thập phân.
4. Quy trình thực hiện khi dạy giải toán có lời văn:
Giải toán đối với học sinh là một hoạt động trí tuệ khó khăn, phức tạp.
Việc hình thành kỹ năng giải toán hơn nhiều so với kĩ năng tính vì bài toán giải
là sự kết hợp đa dạng hoá nhiều khái niệm quan hệ toán học, ....chính vì vậy đặc
trưng đó mà giáo viên cần phải hướng dẫn cho học sinh có được thao tác chung
trong quá trình giải toán sau:
Bước 1: Đọc kỹ đề bài: Có đọc kỹ đề bài học sinh mới tập trung suy nghĩ
về ý nghĩa nội dung của bài toán và đặc biệt chú ý đến câu hỏi bài toán. Chúng
tôi có rèn cho học sinh thói quen chưa hiểu đề toán thì chưa tìm cách giải. Khi
giải bài toán ít nhất đọc từ 2 đến 3 lần.
Bước 2: Phân tích tóm tắt đề toán.
Để biết bài toán cho biết gì? Hỏi gì? (tức là yêu cầu gì?)
8
Đây chính là trình bày lại một cách ngắn gọn, cô đọng phần đã cho và
Vận dụng bốn bước trên học sinh giải bài toán một cách dễ dàng.
Bài giải:
Sau một tháng bác Vân được số tiền lãi là:
5 000 000 : 100 x 0,6 = 30 000 (đồng)
9
Đáp số: 30 000 (đồng)
Dạng thứ 3: Tính giá trị của a khi biết x phần trăm của a là đại lượng b
theo công thức:
b : x% x 100
Ví dụ: Tính độ dài quãng đường, biết 15% quãng đường đó dài 45m.
Sau khi học sinh xác định đúng dạng toán. Học sinh lớp tôi 100% các em biết
vận dụng công thức trên để giải bài toán.
Bài giải :
Độ dài quãng đường đó là :
45 : 15 x 100 = 300 (m)
Đáp số : 300m
Dạng toán vận dụng nâng cao dành cho học sinh năng khiếu:
Từ ba dạng tính tỉ số phần trăm cơ bản trên, giáo viên hướng dẫn cho học
sinh tìm hiểu các dạng tỉ số phần trăm (liên quan đến tính diện tích các hình
vuông, chữ nhật, hình tròn) ở mức độ cao hơn để phát hiện học sinh năng khiếu
bằng cách đưa thêm bài tập khám phá cho các em làm tại lớp hoặc ở các tiết tự
học. Giáo viên đưa ra từng dạng cụ thể sau :
Dạng thứ tư: Nếu cạnh hình vuông tăng lên a% thì diện tích hình vuông
đó tăng lên bao nhiêu phần trăm?
Giáo viên hướng dẫn cho học sinh hiểu vấn đề và cách giải giải quyết đối
với dạng toán trên như sau:
Từ công thức tính diện tích hình vuông là cạnh nhân với cạnh. Cho nên
cạnh hình vuông là 100% thì cho diện tích hình vuông đó là 100% hay gọi cạnh
100
100
100 100
= ( 1,3 x 1,3 – 1) x 100% = 69%
Có thể giải tắt như sau: ( 1,3 x 1,3 – 1) x 100% = 69%
Dạng thứ năm: Nếu cạnh hình vuông giảm đi a% thì diện tích hình vuông
đó giảm đi bao nhiêu phần trăm?
Từ công thức tính diện tích hình vuông là cạnh nhân với cạnh. Cho nên
cạnh hình vuông là 100% thì diện tích hình vuông đó là 100% hay gọi cạnh hình
10
vuông là một giá trị thì diện tích hình vuông cũng là một giá trị. Vậy để tìm
phần trăm giảm của diện tích hình vuông ta có công thức tính như sau:
b% = [100% - (100% - a%) x ( 100% - a%)] x
100%
Trong đó: a% là điều kiện bài Toán đã cho, b% là số phần trăm diện tích
giảm.
Ví dụ: Nếu chiều dài giảm 30% và chiều rộng giảm đi 25% thì diện tích
hình chữ nhật đó giảm đi bao nhiêu phần trăm?
Ta giải như sau:
Bài giải:
Diện tích hình chữ nhật đó giảm đi số phần trăm là:
( 1 – 0,7 x 0,75 ) x 100% = 47,5%
Đáp số: 47,5%
* Đối với dạng toán "Tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó" đã
học ở lớp 4, lên lớp 5 thường gặp những bài toán tỉ số ở dưới dạng ẩn, nhất là
sau khi học về số thập phân:
Ví dụ. Một mảnh vườn hình chữ nhật có nửa chu vi là 168m, biết chiều
Sau đó nhân lại để thử. Nếu tích vượt quá số bị chia thì phải
giảm bớt chữ số đã dự đoán ở thương, nếu tích còn kém số bị
chia quá nhiều thì phải tăng chữ số ấy. Như vậy, muốn ước
lượng thương cho tốt, học sinh phải thuộc các bảng nhân chia
và biết nhân nhẩm trừ nhẩm nhanh. Bên cạnh đó, các em cũng
phải biết cách làm tròn số thông qua một số thủ thuật thường
dùng là che bớt chữ số. Cách làm như sau:
5.1.Làm tròn giảm:
Nếu số chia tận cùng là chữ số 1; 2 hoặc 3 thì ta làm
tròn giảm (tức là bớt đi 1; 2 hoặc 3đơn vị ở số chia).Trong thực
hành, ta chỉ việc che bớt chữ số tận cùng đó đi (và cũng phải
che bớt chữ số tận cùng của số bị chia)
Ví dụ:
Muốn ước lượng 92 : 23 = ? Ta làm tròn 92 > 90 ; 23 >
20(A), rồi nhẩm 90 chia 20 được 4, sau đó thử lại: 23 x 4 = 92
để có kết quả 92 : 23 = 4
Trên thực tế việc làm tròn: 92 > 90; 23 > 20(A) được tiến
hành bằng thủ thuật cùng che bớt hai chữ số 2 và 3 ở hàng đơn
vị để có 9 chia 2 được 4 chứ ít khi viết rõ như ở (A)
5.2. Làm tròn tăng:
Nếu số chia tận cùng là 7; 8 hoặc 9 thì ta làm tròn tăng
(tức là thêm 3; 2 hoặc 1 đơn vị vào số chia).Trong thực hành, ta
chỉ việc che bớt chữ số tận cùng đó đi và thêm vào chữ số liền
trước (và che bớt chữ số tận cùng của số bị chia)
Ví dụ: Có thể ước lượng thương 5307 : 581 như sau:
Che bớt 2 chữ số tận cùng của số chia, vì 8 khá gần 10
nên ta tăng chữ số 5 lên thành 6
Che bớt 2 chữ số tận cùng của số bị chia
Ta có: 53 : 6 được 8 .Vậy ta ước lượng thương là 8. Thử
lại: 581 x 8 = 4648; 5307 – 4648 = 659 > 581. Vậy thương ước
có ý thức hơn trong việc học Toán. Học sinh phấn khởi, tự tin hơn trong các tiết
học. Các em thích học Toán, hăng hái phát biểu ý kiến xây dựng bài. Kết quả
học tập Toán có tiến bộ rõ rệt. Qua hiểu biết, sự chiếm lĩnh kiến thức của các
em, giáo viên lựa chọn các phương pháp và hình thức dạy học phù hợp để tiết
dạy đạt hiệu quả cao hơn. Vì vậy, muốn học sinh học tốt môn toán, khi giảng
dạy phân môn Toán, chúng ta cần kiên trì, nhẫn nại, truyền thụ kiến thức cho
học sinh từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, dạy đến đâu cần cho trẻ nắm
chắc đến đấy nhằm giúp các em đạt được kết quả học Toán theo mong muốn.
Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm vào dạy học kết quả học tập của học
sinh chuyển biến rõ rệt, cụ thể như sau :
* Học sinh có kỹ năng tính toán với bốn phép tính về số thập phân :
- Khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: Chỉ đạt 72,0%
- Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: Đạt 92,0%
* Yêu thích học môn Toán:
- Khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: Chỉ đạt 60,0%
- Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: Đạt 92,0%
* Thái độ mạnh dạn, nhanh nhẹn, trong học Toán:
- Khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: Chỉ đạt 52,0%
- Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: Đạt 88,0%
13
* Chủ động tìm tòi học hỏi, hiểu kĩ và nhớ lâu hơn:
- Khi chưa áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: Chỉ đạt 40,0%
- Sau khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: Đạt 92,0%
Như vậy, qua kết quả trên cho thấy tính mạnh dạn, hăng say phát biểu
chủ động chiếm lĩnh kiến thức tăng lên. Do đó kết quả học tập nâng cao rõ rệt.
Kết quả trên góp phần hình thành con người toàn diện giúp học sinh vận dụng
kết quả vào thực tiễn và là nền tảng vững chắc trên con đường học tập của các
em.
20,0
8
32,0
9
36,0
3
12,0
Giữa học kì I
7
28,0
10
40,0
7
28,0
1
Ba
KK
3 em
3 em
4 em
10 em
12 em
3 em
7 em
Cấp
Cấp trường
Cấp huyện
Cấp tỉnh
1 em
III. Phần kết luận và kiến nghị
14
1. Kiến nghị.
Đối với giáo viên:
Quan tâm tới tất cả các đối tượng học sinh trong lớp để trong mỗi tiết dạy
không có trường hợp học sinh đứng ngoài tiết học.
15
Giáo viên cần mạnh dạn điều chỉnh Tài liệu hướng dẫn học cho phù hợp
với vùng miền và thực tế đại phương
Nghiên cứu kỹ tài liệu hướng dẫn học để điều chỉnh phương pháp, hình
thức
dạy học phù hợp với đối tượng học sinh. Thường xuyên sử dụng đồ dùng dạy
học để tiết dạy có hiệu quả hơn.
Đối với nhà trường:
Cần tham mưu các cấp để cung cấp thiết bị dạy học phù hợp với phương
pháp dạy học theo chương trình đổi mới hiện nay.
Trên đây là kinh nghiệm tôi đúc rút được trong quá trình giảng dạy nhiều
năm môn Toán lớp 5. Rất mong các đồng nghiệp đọc tham khảo, góp ý cho tôi
để đề tài có hiệu quả hơn.
Eana, ngày 20/2/2017
Thái Thị Luận
16
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT về việc đổi mới đánh giá học sinh Tiểu
học.
2. Tài liệu hướng dẫn học lớp 5 theo mô hình trường học mới VNEN tập
c. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu,
phạm vi và hiệu quả ứng dụng.
III. Phần kết luận và kiến nghị
1. Kết luận.
2.Kiến nghị.
TRANG
1
1
2
2
2
3
3
3
3
3
4
5
5
5
5
7
9
14
14
14
14
15
16
……………………………………………………....
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG CHẤM SÁNG KIẾN
20