Nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái đến sự sinh trưởng của cây ba kích tím - Pdf 42

MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Thực vật có vai trò vô cùng quan trọng đối với sinh giới nói chung và
con người nói riêng. Thực vật cung cấp cho con người nguồn lương thực,
thực phẩm, nhiên liệu phục vụ các hoạt động, nguyên liệu để sản xuất,…
ngoài ra thực vật còn là nguồn cung cấp dược liệu quý. Tuy nhiên hiện nay,
cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội thì nhu cầu về cây thuốc ngày càng
tăng cao. Bên cạnh đó việc khai thác từ thiên nhiên ngày càng gia tăng với
tính chất tận diệt đã dẫn đến việc suy giảm sự đa dạng phong phú của cây
dược liệu trong tự nhiên. Để có thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng cây dược
liệu thì cần có những giải pháp phát triển nguồn dược liệu một cách bền vững.
Ba kích (Morinda officinalis How) là một trong những loài dược liệu
quý, với nhiều hoạt chất sinh học có lợi cho sức khỏe của con người nên nhu
cầu khai thác từ tự nhiên, sử dụng và xuất khẩu loài cây này làm dược liệu
đang ngày càng gia tăng, dẫn đến tình trạng suy giảm nhanh chóng số lượng
và khu vực phân bố tự nhiên. Năm 2002, ba kích được đưa vào danh sách
thực vật hoang dã hạn chế khai thác và sử dụng (Nghị định số 48/2002/NĐCP). Và là loài thực vật có tên trong Sách đỏ Việt Nam 2007 [32]. Vì vậy,
loài cây này được bảo vệ, nghiên cứu nhân giống, tiến đến xây dựng mô hình
trồng và phát triển hiệu quả trong tương lai.
Hiện nay, cây ba kích được trồng chủ yếu ở những vùng có đặc trưng
sinh thái nhất định, chủ yếu theo hình thức tự phát. Trên thực tế, cây ba kích
đã được di thực thành công ở một số tỉnh phía Bắc và Bắc Trung bộ như tỉnh
Thanh Hóa, tỉnh Quảng Ninh (Cô Tô),… ngoài ra cây ba kích tím còn được
phát hiện trong và trồng ở tỉnh Quảng Nam (Tây Giang, Đông Giang), thành

1


phố (TP) Đà nẵng (chân đèo Hải Vân, Sơn Trà, Bà Nà,…), tỉnh Đăk Lăk
(Buôn Ma Thuật, Krông Năng,…). Tuy nhiên việc phát triển tự phát cây dược
liệu nói chung, cây ba kích tím nói riêng khi chưa có những nghiên cứu đầy

Liên Chiểu, TP Đà Nẵng.
- Xác định được một số nhân tố sinh thái phù hợp với sự sinh trưởng của
cây ba kích tím khi trồng trong tự nhiên tại phường Hòa Khánh Nam, quận
Liên Chiểu, TP Đà Nẵng.
- Xây dựng được mô hình trồng cây ba kích tím tại phường Hòa Khánh
Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng.

3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
3.1.

Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học mới, có tính hệ

thống về nhân tố sinh thái thích hợp để trồng cây ba kích tím ở phường Hòa
Khánh Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng.
3.2.

Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở để xây dựng và phát triển các mô hình

trồng và phát triển sản xuất cây ba kích tím tại TP Đà Nẵng dùng làm nguyên
liệu cho sản xuất dược liệu, chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
- Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở để quy hoạch vùng trồng cây dược
liệu tại TP Đà Nẵng.

3


4. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn gồm có

khá rõ rệt. Hiểu biết về mối quan hệ đó giúp chúng ta điều khiển sự sinh
trưởng của cây trồng theo ý muốn dựa trên sự hiểu biết về mối quan hệ của
điều kiện sinh thái đến quá trình sinh trưởng [17].
a. Vai trò của nhiệt độ
Nhiệt độ là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của cây. Cây có thể
sinh trưởng trong một khoảng nhiệt khá rộng, vì vậy các loại cây trồng khác
nhau thì tồn tại những điểm nhiệt độ tối thấp và tối cao cũng khác nhau.
Trong giới hạn nhiệt độ sinh trưởng của cây thì có nhiệt độ tối thích cho sự
sinh trưởng, ở nhiệt độ đó sự sinh trưởng của cây xảy ra thuận lợi nhất, trên
dưới nhiệt độ tối thích thì tốc độ sinh trưởng sẽ giảm. Nhiệt độ tối thấp và
nhiệt độ tối cao cho sự sinh trưởng của cây đó là điểm nhiệt độ mà cây ngừng
sinh trưởng. Giới hạn nhiệt độ sinh trưởng thay đổi theo sự thích nghi của cây
trồng ở những vùng sinh thái khác nhau [17].

5


Sinh trưởng của các cơ quan khác nhau của cây cũng nằm trong khoảng
nhiệt khác nhau. Những cơ quan ở trên mặt đất thích nghi với nhiệt độ không
khí cao hơn so với những cơ quan dưới mặt đất, vì vậy ở nhiệt độ cao sự sinh
trưởng của rễ kém hơn thân và cành [17].
Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ban ngày và ban đêm có ảnh hưởng rất lớn
đến sự sinh trưởng của cây. Ban ngày nhiệt độ cao thuận lợi cho cây quang
hợp và tích lũy chất hữu cơ, ban đêm nhiệt độ hạ thấp sẽ hạn chế hô hấp và
tiêu phí chất hữu cơ, giảm sự thoát hơi nước nên sinh trưởng nhanh hơn [17].
b. Vai trò của ánh sáng
Ánh sáng là yếu tố vô cùng quan trọng cho sự sinh trưởng của cây vì nó
cần cho quá trình quang hợp. Nhờ quá trình quang hợp mà cây tổng hợp các
chất hữu cơ làm nguyên liệu để xây dựng nên cơ thể và tích lũy năng lượng ở
trong cây để tiến hành sinh trưởng. Tùy theo nhu cầu ánh sáng đối với sự sinh

là địa bàn cho các quá trình biến đổi và phân hủy các phế thải khoáng và hữu
cơ, là nơi cư trú cho các động và thực vật đất, là địa bàn cho các công trình
xây dựng, địa bàn để lọc nước và cung cấp nước [13].
Đất là vật thể thiên nhiên, được hình thành do quá trình phong hóa các
lớp đá, dưới tác động của quá trình biến đổi địa chất và khí hậu lâu dài của
Trái đất. Sự sinh trưởng của thực vật chịu tác động của các nhân tố sinh thái
trong đất (pH, độ ẩm, nhiệt độ, nước, không khí, các chất dinh dưỡng, các
thành phần cấp hạt của đất,…).
* Các chất dinh dưỡng trong đất
- Phân đa lượng: Phân đa lượng cung cấp các nguyên tố dinh dưỡng
chủ yếu cần thiết cho cây trồng. Trong đất, hàm lượng các nguyên tố khoáng

7


thường ít hoặc ở dạng cây không dùng trực tiếp được và thường được bổ sung
vào đất thông qua việc bón phân.
+Vai trò của phân đạm: Đạm là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với
cơ thể sống vì nó là thành phần cơ bản của các protein – chất cơ bản biểu hiện
sự sống. Đạm nằm trong nhiều hợp chất cần thiết cho sự phát triển của cây
như diệp lục và các enzim. Đạm có trong thành phần cơ bản của axit nucleic,
trong đó ADN, ARN của nhân tế bào, nơi khu trú các thông tin di truyền,
đóng vai trò quan trọng trong việc tổng hợp protein. Đạm là yếu tố cơ bản của
quá trình đồng hóa cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và việc thu hút
các yếu tố dinh dưỡng khác [22].
+ Vai trò của phân lân: Trong cây, lân chủ yếu nằm ở dạng hữu cơ,
phần rất nhỏ nằm ở phân vô cơ, có tác dụng tốt trong quá trình phân bào, tổng
hợp chất béo và protein; thúc đẩy ra hoa hình thành quả, quyết định năng suất
và phẩm chất thu hoạch; hạn chế tác hại của việc bón thừa đạm; thúc đẩy việc
ra rễ, đặc biệt là rễ bên; làm tăng độ vững chắc của thân, chống lốp đổ [22].

trưởng của thực vật
a. Trên thế giới
Trên thế giới có nhiều tác giả nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố
sinh thái đến sự sinh trưởng của thực vật. Theo Thomas (1985), chất lượng
cây con có mối quan hệ logic với tình trạng chất khoáng. Nitơ và phốt pho
cung cấp nguyên liệu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây con. Tình
trạng dinh dưỡng của cây con thể hiện rõ qua màu sắc của lá [40].
Dazhi và cộng (1999) của Viện thực vật Nam Trung Quốc, đã so sánh
sự ức chế sinh trưởng cây con của 4 loài cây á nhiệt đới bởi cường độ ánh
sáng, là: Castanopsis fissa, Vối thuốc, Cryptocarya concinna và Thông đuôi
ngựa từ rừng á nhiệt đới Dinghushan. Sau khi cấy cây con 2 đến 3 năm tuổi
trong chậu và che sáng ở các mức độ 16%, 40% và 100% trong thời gian 16
9


tháng. Chiều cao và đường kính của Thông đuôi ngựa và Cryptocarya
concinna trong trường hợp không che sáng lớn hơn trong trường hợp che
sáng. Tất cả các loài số cành giảm đi khi cường độ ánh sáng giảm đi. Các loài
Castanopsis fissa, Cryptocarya concinna trong điều kiện che sáng có số lá
nhiều hơn trong điều kiện ánh sáng hoàn toàn, nhưng Vối thuốc thì ngược lại.
Hai loài Castanopsis fissa và Vối thuốc sự biến đổi sinh khối trên mặt đất là
rất ít, nhưng sinh khối của rễ giảm khi cường độ ánh sáng giảm (Long S.P and
Hallgren, 1993)
Ekta và Singh (2000) sau khi nghiên cứu về sinh thái của hạt giống và
sinh trưởng của cây gỗ non đã kết luận rằng cường độ ánh sáng có ảnh hưởng
rõ rệt tới sự nảy mầm, sự sống sót và quá trình sinh trưởng của cây con [39].
Nhiều nghiên cứu về sự sinh trưởng của cây in vitro cũng cho thấy rằng
các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây in vitro. Nghiên
cứu của Juárez và cộng sự về sự thích nghi của cây Nho Đỏ (Vitis vinifera L.)
in vitro khi đem trồng ở nhà lưới trên những giá thể khác nhau và có tưới

độ che sáng thích hợp cho cây Huỷnh liên là 60% [24].
Năm 2010, Nguyễn Tuấn Bình đã nghiên cứu ảnh hưởng của một số
nhân tố sinh thái đến sinh trưởng cây con Dầu song nàng một năm tuổi trong
giai đoạn vườn ươm để xác định được độ che sáng, thành phần hỗn hợp giá
thể, loại đất gieo ươm, kích thước bầu và kích thước hạt giống thích hợp để
gieo ươm Dầu song nàng. Kết quả cho thấy, nhu cầu ánh sáng của cây con
Dầu song nàng ở vườn ươm thay đổi rõ rệt theo tuổi. Trong 6 tháng đầu nó
đòi hỏi độ che sáng (50 – 70%), nhưng từ tháng thứ 6 trở đi nó cần độ che
sáng (25 – 50%) [3].
Năm 2012, Nguyễn Huy Sơn khi nghiên cứu về cây Re Gừng trong giai
đoạn vườn ươm đã cho rằng: Trong giai đoạn 2 tháng đầu kể từ khi gieo ươm,
che sáng 50% là phù hợp, tỷ lệ sống và khả năng sinh trưởng về chiều cao ở
11


mức che sáng này đạt cao nhất với các giá trị tương ứng là 99,07% và
21,56cm. Nhưng từ tháng thứ 3 đến tháng thứ 6 che sáng 25% là phù hợp và
cây con có tỷ lệ sống cũng như khả năng sinh trưởng chiều cao đạt cao nhất
với các giá trị tuwogn ứng là 94,44% và 33,26cm, sau tháng thứ 6 có thể dở
bỏ dàn che hoàn toàn để huấn luyện cây con trước khi đem đi trồng rừng [33].
Năm 2013, Bùi Kiều Hưng đã nghiên cứu kỹ thuật trồng Sa nhâm tím
(Amomum longiligulare) trên đất vườn đồi tại khu vực vùng đệm Vườn quốc
gia Ba Vì, tác giả khẳng định: Độ tàn che có ảnh hưởng rõ rệt tới sinh trưởng
chiều cao vút ngọn, khả năng ra hoa, đậu quả của San nhân tím giai đoạn 15
tháng sau khi trồng nhưng chưa có ảnh hưởng rõ rệt tới tỷ lệ sống và khả năng
đẻ nhánh. Kết quả nghiên cứu cho thấy cây sinh trưởng triển vọng nhất ở độ
tàn che 0,3 – 0,5 [12].
Năm 2014, Nguyễn Việt Cường và cộng sự đã nghiên cứu ảnh hưởng
của chế độ che sáng đến sự sinh trưởng của cây mỏ chim trong giai đoạn
vườn ươm đã cho rẳng: công thức che sáng tốt nhất cho sinh trưởng của cây

tiến hành chuyển cây ra vườn ươm trồng thử nghiệm. Cây dứa trồng trong bầu
đất (1/3 đất + 1/3 xơ dừa + 1/3 phân chuồng hoai), đặt trong nhà lưới trong
điều kiện che mát 50% và tưới phun sương thường xuyên. Sau 30 ngày ra bầu
đất tỉ lệ cây sống đạt 60%, trung bình chiều cao đạt 9,5 cm và số lá đạt 11
lá/cây [10].
Năm 2008, Nguyễn Thị Thu Huyền (Trường Đại học Sư phạm (ĐHSP)
– ĐH Thái Nguyên) đã nghiên cứu đặc điểm sinh lý, hiệu quả tạo củ khoai tây
bi in vitro và trồng thử nghiệm tại Thái Nguyên. Cây khoai tây trồng từ củ bi
có biểu hiện sinh trưởng, phát triển và cho củ bình thường trong điều kiện vụ
đông tại Thái Nguyên. Khoai tây trồng vào 20/10 có khả năng sinh trưởng tốt,
độ phủ luống cao, khối lượng củ/khóm và tỉ lệ củ thương phẩm cao hơn ở các
thời điểm trồng muộn hơn. Khoai tây vụ đông trồng từ củ bi ở các thời điểm
13


trồng muộn (từ giữa tháng 11) có củ nhỏ, số củ/ khóm nhiều hơn vào đầu
tháng 10, thích hợp cho việc sản xuất củ giống cho vụ sau. Củ khoai tây thu
hoạch từ cây trồng bằng củ bi có đặc điểm hình thái củ giống củ thu hoạch từ
cây trồng bằng củ truyền thống [5].
Năm 2009, Vũ Ngọc Phượng và cộng sự đã nghiên cứu khả năng sinh
trưởng, phát triển của cây chuối (Cavendish sp.) invitro ngoài vườn ươm. Kết
quả cho thấy cây chuối in vitro được nuôi trong điều kiện ánh sáng, nhiệt độ
tự nhiên khi trồng ra nhanh thích nghi với điều kiện vườn ươm hơn cây chuối
nuôi hoàn toàn trong phòng máy lạnh ánh sáng đèn. Sau 1 tháng cây chuối in
vitro ươm trên bột dừa tăng trọng từ 1gr thành 2,6 gr. Khi sang bầu ( gồm bột
dừa, tro trấu, phân bò, đất) trồng thêm 60 ngày nữa, trọng lượng tươi của cây
giống lúc xuất vườn là 165 gr. Toàn bộ thời gian trong vườn ươm kéo dài 3
tháng. [25]
Năm 2010, Trần Thị Lệ đã nghiên cứu nhân giống invitro cây hoa Mắt
mèo (Torenia fournieri L.). Kết quả nghiên cứu khả năng sống sót của cây

cao nhất 97,78 – 100%, cây sinh trưởng tốt, đồng đều. Sử dụng phân bón lá
Đầu trâu 005 thích hợp cho sự sinh trưởng của cây ở giai đoạn vườn ươm: số
lá/cây: 7,87 – 7,93 là và chiều cao cây: 7,17 – 7,28cm [3].
Năm 2015, Lâm Thị Hồng Ngát (Trường ĐHSP, ĐH Đà Nẵng) đã
Nghiên cứu hoàn thiện quy trình nhân giống in vitro và trồng thử nghiệm
cây hoa chuông Sinningia Speciosa tại Đà Nẵng. Kết quả thử nghiệm cho thấy
giá thể cát + xơ dừa + phân trùn quế (1:1:1) có bón bổ sung phân NPK (1712-7+TE) cây hoa chuông sinh trưởng tốt nhất, cây có đường kính tán đạt
29,52 cm, có 11,91 lá, lá dài 13,55 cm và rộng 10,01 cm. Giá thể cát + xơ dừa
+ phân trùn quế (1:1:1) có bón bổ sung phân Đầu trâu 901 cây hoa chuông ra

15


hoa nhiều nhất với 8,56 hoa có đường kính 8,58 cm, hoa nở được 10,14 ngày
[20].
Tuy nhiên trên đây là những nghiên cứu chú trọng về sự sinh trưởng
phát triển của cây in vitro trong phòng thí nghiệm và bước đầu nghiên cứu sự
sinh trưởng, phát triển của cây in vitro trong vườn ươm.
1.2.

VÀI NÉT VỀ CÂY BA KÍCH
1.2.1. Vị trí phân loại và đặc điểm hình thái
- Vị trí phân loại: Cây ba kích còn có tên gọi khác là ba kích thiên, cây

ruột gà, chẩu phóng xì (Hải Ninh), thao tẩy cáy, ba kích nhục, liên châu ba
kích. Thuộc họ Cà phê (Rubiaceae), bộ Long đởm (Gentianales). [11, Tr. 304]
- Đặc điểm hình thái: Cây loại thảo, sống lâu năm, thân leo, lá mọc
đối, cứng nhọn, dài 6 – 14cm, rộng 2,5 – 6cm, lá kèm hình mác, non có màu
xanh, về già có màu trắng mốc. Hoa lúc đầu trắng, sau vàng, 2 – 10 cánh hoa,
4 nhị. Quả hình cầu, khi chín màu đỏ [11, Tr. 304]. Khảo sát thực tế cho thấy

sinh nghèo kiệt, rừng khoanh nuôi phục hồi có độ tàn che từ 0,3 – 0,5 [44].
Địa hình đồi núi thấp, độ cao từ 50m – 300m so với mực nước biển [1].
1.2.3. Thành phần hóa học
Trong Ba kích có Gentianine, Carpaine, Choline, Trigonelline, Díogenin,
Yamogenin, Gitogenin, Tigogenin, Vitexin, Orientin, Quercetin, Luteolin,
Vitamin B1, Morindin, Vitamin C.
Rễ chứa Antraglycozid, đường, nhựa, Acid hữu cơ, Phytosterol và ít tinh
dầu, Morindin. Rễ tươi có sinh tố C.
Trong Ba kích có Rubiadin, Rubiadin-1-Methylether, Palmitic acid,
Vitamin C, Nonadecane, 24-Ethylcholesterol [45].
1.2.4. Tác dụng dược lý và công dụng
a. Tác dụng dược lý

17


- Nước sắc ba kích tím có tác dụng làm tăng sự co bóp của ruột và giảm
huyết áp, không có độc [18].
- Tăng sức dẻo dai: Thí nghiệm với phương pháp chuột bơi, Ba kích
với liều 5 – 10g/Kg dùng liên tiếp 7 ngày thấy có tác dụng tăng sức dẻo dai
cho súc vật thí nghiệm [2].
- Tăng sức đề kháng: dùng phương pháp gây nhiễm độc cấp bằng
Amoni Clorua trên chuột nhắt trắng, với liều 15 g/kg, Ba kích có tác dụng
tăng cường sức đề kháng chung của cơ thể đối với các yếu tố độc hại [2].
- Chống stress, chống trầm cảm, chống oxy hóa [19].
b. Công dụng
- Ba kích tím có tác dụng ôn thận trợ dương, mạnh gân cốt, khử phong
thấp.
- Dùng chữa dương ủy, phong thấp cước khí, gân cốt yếu, mềm, lưng
gối mỏi đau.

có khả năng sống sót cao (đạt 97,9%) và sinh trưởng tốt (chiều cao đạt
15,14cm sau 45 ngày) [29], [31].
Sau công trình nghiên cứu của ThS Võ Châu Tuấn đã có nhiều nghiên
cứu cải thiện quy trình nhân giống in vitro và nghiên cứu ở giai đoạn cây con
trong nhà lưới cây ba kích tím: Năm 2012 Đoàn Thị Kim Ngân trường ĐH sư
phạm – ĐH Đà Nẵng đã tiến hành nghiên cứu khả năng sinh trưởng của cây
Ba kích Morinda officinalis How invitro ở giai đoạn cây con trong nhà lưới.
19


Chiều cao cây con khi trồng ở giá thể cát xây- trấu hun đạt 2 cm ở giai đoạn
10 ngày sau khi trồng và 4.54 cm sau 30 ngày trồng ngoài vườn ươm [21].
Năm 2013 các nhà khoa học tại trung tâm Khoa học và sản xuất lâm
nghiệp Quảng Ninh kết hợp cùng khoa Công nghệ sinh học trường ĐH Nông
nghiệp Hà Nội đã cải thiện quy trình nhân giống in vitro. Cây in vitro sinh
trưởng phát triển tốt nhất trên giá thể hữu cơ đạt 17,7cm sau 60 ngày trồng
[28].
Năm 2015 trung tâm Ứng dụng tiến bộ Khoa học và công nghệ tỉnh
Quảng Trị tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện quy trình [6].
Tại Việt Nam, cây ba kích tím in vitro đã được tiến hành trồng ở một số
nơi trong nhiều điều kiện sinh thái khác nhau như: Quảng Nam (Tây Giang,
Nam Giang), Quảng Ninh (Ba chẽ),… Năm 2015 ba kích tím sản xuất bằng
phương pháp nuôi cấy mô được triển khai trồng dưới tán rừng tại xã Hà Ninh,
huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa [17]. Tuy nhiên chưa có một công trình
nghiên cứu cụ thể nào về ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến sự sinh
trưởng của cây ba kích tím.

20




của UBND TP Đà Nẵng về việc giao rừng và đất lâm nghiệp cho UBND
phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu quản lý, bảo vệ và phát triển).
- Hiện nay trên địa bàn phường Hòa Khánh Nam có khoảng 69 hộ đang
trồng rừng và phát triển rừng trong đó 65 hộ trong địa phương, 04 hộ ngoài
địa phương (Phương án 03/PA-UBND ngày 30/11/2015 của UBND phường
Hòa Khánh Nam về việc giao rừng và đất lâm nghiệp cho nhân dân phường
Hòa Khánh Nam phát triển sản xuất).
- Một số hoạt động sản xuất trên đất rừng Tiểu khu 41:
+ Trồng rừng kinh tế: Tổng diện tích rừng trồng là 242,2ha, cây lâm
nghiệp được các hộ dân trồng chủ yếu là keo lá tràm, bạch đàn,… với mục
đích chính của trồng rừng là sản xuất gỗ nguyên liệu, ngoài ra còn có rừng
đặc dụng bằng vốn ngân sách. Hiện có khoảng 66 hộ gia đình đầu tư trồng
rừng bằng vốn tự do, bình quân có 2,2ha/hộ.
+ Trồng cây ăn quả: Hầu hết các loại vườn có trước năm 1975 nằm ven
chân rừng tiểu khu 41 thuộc khu vực Khánh Sơn, Đà Sơn vào thời điểm đó
đều thuộc diện vườn tạp với các giống cây đã trồng như: Dứa, mít, ổi, vú sữa,
… xen lẫn chuối, đu đủ và các loại cây ngắn ngày khác. Từ năm 1995, tất cả
các vườn trên thuộc đất rừng đặc dụng nen thực hiện giao khoán theo Nghị
định 01/CP các hộ vẫn tiếp tục trồng cây ăn quả kết hợp trồng rừng kinh tế
nhưng hiệu quả không cao.Từ năm 2010, bằng nhiều nguồn vốn khác nhau
của Thanh Phố, quận, đặc biệt là vốn đầu tư của nhân dân rất lớn đã tập trung
cải tạo vườn tạp tồng các loại cây như sau: bưởi da xanh, mít Thái Lan, ổi
không hạt, tre lấy măng,… Có 01 cơ sở, trại nuôi động vật hoang dã với
phương thức nuôi chuồng trại.
Tuy nhiên, cho đến nay diện tích đất vườn có nhiều biến động, giảm do
quá rình đô thị hóa, bị thu hồi thực hiện các dự án quân đội,… một số hộ đầu
22



(B) Cây ba kích tím in vitro 1 tháng tuổi

Hình 2.1. Cây ba kích tím tự nhiên và cây ba kích tím in vitro đã được
trồng trong bầu ươm
Cây ba kích tím in vitro 30 ngày tuổi được sử dụng làm cây giống để
bố trí các thí nghiệm có chiều dài 3cm, 6 – 8 lá.

24


(A) Cụm chồi trên MT ra chồi
(B) Chồi hình thành rễ in vitro
Hình 2.2. cây ba kích tím nhân nuôi cấy in vitro
2.2.PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu đề tài từ tháng 9/2015 đến tháng 10/2016.
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu
- Tạo cây giống ba kích tím nuôi cấy in vitro hoàn chỉnh tại phòng
Công nghệ sinh học, khoa Sinh – MT, trường ĐH Sư phạm – ĐH Đà nẵng.
- Trồng cây ba kích tím nuôi cấy in vitro giai đoạn vườn ươm và ngoài
tự nhiên tại khu vườn ươm Khánh Sơn, phường Hòa Khánh Nam, quận Liên
Chiểu, TP Đà nẵng (hình 2.3). Khu vực trồng thực nghiệm có tọa độ
16,059585 đến 16,058415 Bắc; từ 108,135746 đến 108,136990 Đông.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status