ÁP DỤNG MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ LÀM QUEN VỚI KHÁM PHÁ KHOA HỌC
TRONG TRƯỜNG MẦM NON.
I. Lời giới thiệu
“Xung quanh ta có bao điều kì lạ,
mà sao ta biết chẳng bao nhiêu”.
Đó là một câu hát quen thuộc với mọi người. Câu hát đã nói lên thế giới xung
quanh ta rất bao la rộng lớn. Nó bao gồm tất cả sự vật, hiện tượng, cây cỏ, con
vật, các vấn đề về tự nhiên và xã hội. Chúng ta không thể đi đến tất cả mọi nơi,
không thể tận mắt nhìn thấy hết thảy các sự vật, hiện tượng nhưng con người
luôn có khát vọng muốn được khám phá, tìm hiểu thế giới xung quanh ta,
đó chính là môi trường sống của con người. Nó lại là một kho tàng kiến thức
vô tận ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của con người, cho nên con người
luôn có nhu cầu khám phá thế giới xung quanh thông qua các hoạt động để có
thể có những hiểu biết về thế giới, cải tạo thế giới nhằm phục vụ chính cuộc
sống của con người. Nhu cầu tìm hiểu, khám phá về thế giới xung quanh
của con người đã xuất hiện ngay từ khi còn nhỏ. Từ khi trẻ ra đời đã muốn
ngắm nhìn xung quanh như khi chỉ mới 2 tháng tuổi trẻ đã hứng thú đưa mắt
nhìn theo những quả bóng bay xanh – đỏ treo trước mắt và tò mò đưa tay với,
….. Càng lớn, nhu cầu đó càng tăng lên bằng việc bắt chước giọng điệu người
lớn (thích mặc quần áo, đeo dép của mẹ…), làm những công việc của người lớn
hay với trẻ 5-6 tuổi kinh nghiệm sống đã có trẻ liên tục hỏi những câu hỏi về thế
giới xung quanh như: “Tại sao lại có trời ? gió ở đâu đến? con sinh ra như thế
nào?....” chính là lúc nhu cầu khám phá thế giới xung quanh của trẻ càng cao.
Nhưng vì trẻ nhỏ chưa có vốn sống, vốn kinh nghiệm, sự trải nghiệm còn
ít, trẻ chưa tự khám phá về thế giới xung quanh nên người lớn phải giúp đỡ
trẻ, phải tổ chức, hướng dẫn trẻ tham gia vào các hoạt động nhằm cho trẻ làm
quen, khám phá về môi trường xung quanh. Khi trẻ được làm quen với thế
giới xung quanh sẽ giúp trẻ tích lũy được kiến thức, kĩ năng về tự nhiên và
xã hội, giúp trẻ được phát triển về các mặt: Đức – Trí - Thể - Mĩ - Lao động.
1
2
II. Tên sáng kiến:
“Một số phương pháp cho trẻ làm quen với khám phá khoa học trong trường
mầm non”
V. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Khám phá khoa học qua các giờ học các trò chơi thực nghiệm đã được khảo sát
trong các hoạt động chơi của trẻ tại trường mầm non nhạo sơntrên lứa tuổi 4 – 5.
VI. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử:
Sáng kiến được áp dụng lần đầu tiên vào tháng 10 năm 2016 tại lớp 4 tuổi
A2 qua tiết dạy khám phá khoa học đề tài thí nghiệm “Vật chìm vật nổi”.
VII. Mô tả bản chất của sáng kiến:
1) Phương pháp 1: Sử dụng các trò chơi thực nghiệm :
Trong khám phá khoa học việc sử dụng trò chơi, thí nghiệm đơn giản luôn tạo
cho trẻ sự hứng thú, kích thích trẻ tích cực hoạt động, phát triển ở trẻ tính
tò mò, ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi, phát triển óc quan sát, phán đoán
và các năng lực hoạt động trí tuệ,....chính vì vậy mà phương pháp sử dụng các
trò chơi thực nghiệm luôn đạt kết quả cao trong hoạt động khám phá khoa học.
Ví dụ 1: Thí nghiệm về sự nảy mầm của hạt
* Mục tiêu:
Trẻ biết được cây cũng cần thức ăn ,ánh sáng và nước mới sinh trưởng
được.
* Chuẩn bị:
Một vài hạt đậu tương, đậu đen…2 Khay nhỏ, một ít đất .bình nước tưới.
3
Cho trẻ trực tiếp tham gia quan sát và đo bóng cây sau đó tự nêu ra các yêu cầu
của bài thí nghiệm.
* Giải thích và kết luận:
- Ánh sáng mặt trời chiếu vào phần vướng cây xanh nên không đi qua được nên
tạo ra bóng trên mặt đất. Ngoài ra vào các thời điểm khác nhau thì sẽ có các
bóng xuất hiện trên mặt đất là khác nhau do bóng mặt trời di chuyển.
Ví dụ 3:Namchâm hút gì?
* Mục tiêu:
Cho trẻ biết nam châm có thể hút các vật làm từ kim loại, còn những vật
không làm bằng chất kim loại thì nam châm không hút.
* Chuẩn bị:
Cục nam châm, cái đinh, cái kéo, thanh bằng nhôm, cái thước nhựa, cục
gôm, quả bóng bay và một số đồ dùng khác trong lớp.
*Tiến hành:
- Cho trẻ quan sát những đồ dùng đã chuẩn bị gọi tên chúng và nêu chất liệu của
từng đồ dùng.
- Mời 6 – 7 trẻ lên lấy 1 trong số những vật mà cô chuẩn bị hỏi trẻ:
+ Vật đó có tên là gì? làm bằng gì?
5
+ Cho trẻ đưa vật đó lại gần cục nam châm và trẻ lời xem chúng có hút nhau
không và vì sao?
- Lần lượt cô cho các trẻ được thí nghiệm với các vật xung quanh lớp và đưa ra
nhận xét, nam châm hút được những vật làm bằng gì ?
* Giải thích và kết luận:
Nam châm chỉ hút được các vật làm bằng kim loại ngoài ra không hút
được các vật làm từ các chất khác.
Ví dụ 4: Thí nghiệm về vật nổi vật chìm dưới nước.
Phương tiện trực quan trong các hoạt động dạy và học rất đa dạng như: Đồ
dùng trực quan bằng vật thật: cốc,chén, con cá, các loại rau-quả, …Các loại mô
hình: Mô hình máy bay, Tàu hỏa...Các loại tranh ảnh, lô tô.
Tôi luôn lưu ý tới việc sử dụng đồ đùng trực quan phải phù hợp với nội dung
từng tiết dạy ngay từ khi lập kế hoạch cho mỗi tiết khám phá khoa học tôi luôn
suy nghĩ và lựa chọn những đồ dùng trực quan sao cho trẻ dễ hiểu và thích thú
đối với những tiết chủ đề về môi trường xã hội thì tôi lựa chọn tranh, ảnh để dạy
trẻ. Đối với những đồ dùng trực quan là đồ chơi tôi đưa vào trong các tiết dạy
như: Đồ chơi của bé, phương tiện giao thông, con vật…Qua những đồ chơi được
làm khéo léo giống với thực tế sẽ giúp trẻ chú ý quan sát đồ chơi, chơi với đồ
chơi để khám phá những kiến thức về đối tượng.
Vì trẻ mẫu giáo có sự tưởng tượng chưa phong phú, kinh nghiệm sống của trẻ
còn ít nên tôi thường xuyên tận dụng các vật thật để dạy trẻ. Khi cho trẻ được
tiếp xúc với vật thật thì tôi nhận thấy trẻ hứng thú và nắm bắt kiến thức một cách
rõ ràng nhất.
7
Ví dụ: Khi tìm hiểu về quả cam tôi dùng quả cam thật cho trẻ quan sát và trải
nghiệm.
- Đây là quả gì? nhìn xem quả cam có hình gì? Màu gì?
- Hãy sờ xem vỏ của chúng có đặc điểm gì? muốn biết cam có mùi gì hãy đưa
lên mũi ngửi xem nào…
Cuối cùng tôi cho trẻ tự lấy dao bổ cam và nếm thử vị của cam sau đó hỏi trẻ
về vị của cam (có trẻ nói chua, trẻ nói ngọt) từ đó tôi giải thích “Qủa cam chưa
chín có vị chua, còn quả cam chín có vị ngọt” khi được trải nghiệm thực tế thì
trẻ đã nắm vững những kiến thức tôi muốn truyền đạt. Qua bài về quả cam tôi
không những đã cho trẻ tìm hiểu một cách tổng quát về quả cam mà còn dạy trẻ
kĩ năng bổ cam và vứt rác đúng nơi.
được hiệu quả tốt nhất với người học. Hiểu được vấn đề ấy trong các tiết dạy tôi
thường xuyên lồng luồn khám phá khoa học vào trong các môn học khác như
toán, âm nhạc, văn học, …
Ví dụ: trong hoạt động âm nhạc trẻ học bài hát “Cá vàng bơi”
Tôi cho trẻ quan sát bức tranh (chậu cá thật) về những chú cá vàng đáng yêu sau
đó hỏi trẻ:
+ Đây là cá gì? Nêu các đặc điểm của chúng?
+ Chúng thường được nuôi ở đâu? Cá vàng ăn gì?
+ Vai trò của cá vàng để làm gì? Nêu cảm nhận của các con về những chú cá
này?
Sau khi trò chuyện, tìm hiểu về những chú cá vàng xong tôi giới thiệu với trẻ
bài hát nói về những chú cá đáng yêu này. Bài hát “Cá vàng bơi”.
9
Qua tiết học âm nhạc tôi đã giúp trẻ có thêm những hiểu biết về đặc điểm và
vai trò của những con cá vàng từ đó trẻ cảm thấy yêu thích bài hát hơn, hoạt
động âm nhạc trở nên hứng thú hơn.
Và những tiết khám phá khoa học thường được quan niệm khô khan thì tôi luôn
khéo léo lồng ghép thích hợp các môn khác như : Toán , âm nnhạc , tạo hình
,văn học… để trẻ thêm hứng thú, ghi nhớ tốt hơn, hiểu vấn đề sâu và rộng hơn.
Ví dụ 1 : Trong tiết dạy làm quen với động vật sống dưới nước.
Tôi cho trẻ thi “ đố vui ” hai đội ra câu đố cho nhau và giải câu đố đội bạn.
“ Nhà hình soắn nằm ở dước ao
Chỉ có một cửa ra vào mà thôi
Mang nhà đi khắp mọi nơi
Không đi đóng cửa nghỉ ngơi một mình .”
( con ốc )
Con gì đầu bẹp .
vừa quan sát tri giác các sự vật hiện tượng một cách tôt nhất. Hay tổ chức cho
trẻ làm các thí nghiệm thì tôi chia trẻ về các nhóm để trẻ cùng nhau làm và khi
tiến hành làm thí nghiệm tôi cho trẻ dự đoán hiện tượng gì sẽ sảy ra trước, trong
và sau khi làm thí nghiệm. Như thế sẽ phát huy được tính mò, chủ động, khả
năng tích cực hoạt động và lòng ham hiểu biết của trẻ.
Ví dụ: Cho trẻ làm thí nghiệm “ không khí quanh chúng ta” tổ chức dưới dạng
trò chơi.
Cho trẻ bịt mũi, hỏi trẻ có thở được không?
11
Vậy làm thế nào để thở được ?
Cho trẻ đứng vào chỗ cô quy định, hỏi trẻ: con có thở được không?
Cho trẻ đứng góc khác cùng với vài bạn nữa, hỏi trẻ: con có thở được không?
Cho trẻ đứng tự do trong lớp, hỏi trẻ:con có thở được không?
Lúc này tôi mới đặt vấn đề: chúng ta thở được là nhờ là nhờ có không khí, vậy
không khí có ở đâu? ( không khí có ở xung quanh chúng ta)
Tôi kết luận: Như vậy không khí có ở quanh chúng ta.
Tôi tiếp tục đặt tình hình huống: thế không khí có bắt được không ( Có trẻ nói
được, có trẻ nói không)
Tôi hỏi tiếp: Làm thế nào để bắt được không khí ( lúc này các trẻ đưa ra rất
nhiều ý kiến: lấy ly, lấy chai, lấy hộp, để bắt không khí )
Tôi lấy cho mỗi trẻ một cái túi ni lon và yêu cầu “ Hãy lấy và bắt không khí vào
túi ” mỗi trẻ có thể thực hiện một cách khác nhau: nắm bắt không khí xung
quanh bỏ vào túi, vời không khí cho vào túi … nhưng các trẻ vẫn chưa thấy gì
trong túi. Tôi tiếp tục gợi ý “ Các con hãy làm cách nào để túi phồng lên đi ” trẻ
phát hiện là mình phải thổi hơi vào túi và muốn giữ hơi trong túi thì phải xoắn
hay cột túi lại ) .
Sau đó tôi giải thích: Không khí đang ở trong túi các con đấy!..
tượng tự nhiên, …. , hay chúng ta không thể có thời gian để chứng kiến những
hiện tượng trong tự nhiên xảy ra như tìm hiểu về cách sinh sản của một số loại
vật nuôi, quá trình phát triển của cây…chính vì vậy để trẻ được tìm hiểu thế giới
xung quanh một cách bao quát nhất thì ứng dụng công nghệ thông tin vào tiết
học là một việc cần thiết.
13
Được ưu thế là một giáo viên trẻ và có khả năng sử dụng công nghệ thông tin
khá thành thạo tôi rất quan tâm và thường xuyên sử dụng công nghệ thông tin
như các bài powerpoint, Elearning vào các tiết học. Tôi nhận thấy khi sử dụng
công nghệ thông tin vào các tiết khám phá khoa học trẻ tỏ ra rất hào hứng, thích
thú và cũng giúp trẻ nhận biết sự vật- hiện tượng một cách rõ ràng hơn.
Ví dụ 1: Tìm hiểu về “Mưa có từ đâu?”
Tôi sử dụng bài powerpoint trình chiếu các quá trình tạo thành mưa (ánh nắng
chiếu xuống mặt nước – Nước bốc hơi- Tạo thành mây - Gió thổi mây thành
đám nặng rồi rơi xuống thành mưa)
Sau khi tìm hiểu xong về quá trình tạo thành mưa tôi cho trẻ xem phim hoạt
hình “Đám mây đen xấu xí” vừa là phim vừa đám ứng việc củng cố kiến thức về
quá trình tạo thành mưa cho trẻ.
Thông qua việc trình chiếu và xem phim hoạt hình trẻ vừa như được giải trí và
cũng là khi lượng kiến thức cần cung cấp cho trẻ đảm bảo trọn vẹn với hình thức
này.
Việc triển khai chuyên đề công nghệ thông tin trong trường mầm non Nhạo Sơn
được Ban giám hiệu và giáo viên rất quan tâm đặc biệt là đối với trẻ 5-6 tuổi,
các trò chơi thông minh trong “Vui học kidsmart” luôn làm trẻ tò mò và hứng
thú. Biết được điều đó tôi thường xuyên tìm hiểu những trò chơi thông minh có
liên quan tới chủ đề, chủ điểm mà trẻ đang học vừa giúp trẻ thỏa mãn tính tò mò
cũng như củng cố, mở rộng hiểu biết về bào học với trẻ hơn.
trẻ nhận biết màu sắc cánh hoa. Cho trẻ sờ cánh hoa thấy mịn và nhẵn. Đưa hoa
nên ngửi có mùi thơm .
15
Trẻ được quan sát kỹ, có được đầy đủ các đặc điểm của đối tượng nên trẻ so
sánh rất tốt và phân loại rất nhanh .
Dạo chơi thăm quan hoạt động ngoài trời, không những để trẻ khám phá thế giới
xung quanh mình mà tôi còn giáo dục tình yêu thiên nhiên, ý thức bảo vệ môi
trường. Tôi cũng luôn chú ý kiến thức xã hội với trẻ về công việc của mỗi
người, về mối quan hệ giữa con người với nhau, đặc biệt là giáo dục Bảo vệ môi
trường. Với trẻ mặc dù kiến thức rất đơn giản như tạo cho trẻ thói quen vứt rác
đúng nơi quy định,chăm sóc vườn rau bắt sâu cho rau và ý thức bảo vệ môi
trường xanh sạch đẹp.
7) Phương pháp 7: Kết hợp với với phụ huynh.
Để nâng cao chất lượng hoạt động của trẻ trong trường mầm non để có sự giáo
dục toàn bộ giữa gia đình và nhà trường là một việc làm hết sức cần thiết tôi
thấy rằng tất cả mọi khó khăn trong học tập không thể thiếu được vai trò giải
quyết khó khăn của phụ huynh vì thế ngay từ đầu năm học để phụ huynh hiểu
thêm về các hoạt động của trẻ trong trường mầm non trường tôi đã tổ chức họp
phụ huynh và tuyên truyền đến các bậc phụ huynh.
Bản thân tôi là một cộng tác viên tuyên truyền của nhà trường ngoài việc tuyên
truyền các chuyên đề của nhà trường giao về lớp tôi đã làm tốt công tác tuyên
truyền tới các bậc phụ huynh như thông qua bảng tuyên truyền của lớp, trang trí
những hình ảnh của chủ đề đang học một cách sinh động. Thường xuyên trao
đổi về tình hình sức khoẻ của trẻ, tình hình học tập của trẻ đặc biệt qua các buổi
đón trả trẻ tôi đã trao đổi với các bậc phụ huynh về tình hình học tập của trẻ ở
lớp, về các chủ đề chủ điểm trẻ đang học giúp phụ huynh nắm rõ từ đó có thể tạo
điều kiện cho trẻ được trải nghiệm ở nhà, củng cố thêm kiến thức .
mang lại hiệu quả cao trong việc cho trẻ tiếp xúc với lĩnh vực khám phá khoa
học trong trường. Đồng thời cũng giúp trẻ luôn tìm tòi, học hỏi suy nghĩ, phát
hiện những điều hay, những cái mới về thế giới xung quanh trẻ.
17
Tôi nghĩ kết quả nghiên cứu này có thể ứng dụng cho độ tuổi 5-6 tuổi trong
trường mầm non.
VIII. Những thông tin cần được bảo mật: Không có
IX. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
-Điều kiện về cơ sở vật chất:
Đồ dùng, trực quan, đồ chơi phục vụ tiết học như: Bàn, ghế, bảng, tranh, mô
hình, các từ gắn với mỗi hình ảnh, vật mẫu ... Cần phải đầy đủ cho cô và trẻ
cùng hoạt động.
Đồ dùng của trẻ cũng phải đẹp, hấp dẫn, phong phú sinh động nhằm kích thích
hứng thú, tò mò lòng ham hiểu biết của trẻ, tôi thường sử dụng đồ thật, vật thật
hoặc hình ảnh động cho tiết học sinh động.
Dựa vào yêu cầu thực tế dạy trẻ, tôi đề nghị với ban giám hiệunhà trường trang
bị thêm thiết bị,đồ dùng dạy học như : Bảng,tranh ảnh,lôtô, ngoài ra còn cung
cấp thêm các công nghệ như máy tính, máy chiếu để phục vụ tốt cho các hoạt
động khám phá, với mỗi tiết cần có đồ dùng để phục vụ thật đầy đủ .
Với các bậc phụ huynh vận động họ mua thêm đồ dùng, tranh , truyện, đặc biệt
là tranh, sách, ảnh về các con vật, cây cối, hoa lá, quả ,... Sưutầm những câu ca
dao, tục ngữ, đồng dao để làm phong phú vốn hiểu biết về khám phá khoa
họccủa trẻ .
Với chính bản thân mình tôi tận dụng những nguyên vật liệu có sẵn ở địa
phương như: vải vụn, cọng rơm khô, lá khô, hoa ép khô, vỏ cây khô để làm
tranh ảnh cho tiết dạy. Sưu tầm các loại hạt, các loại vỏ trai ốc, hến sò ... để bổ
xung ra đồ chơi của trẻ .
đã đạt được kết quả như sau.
19
X.1. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
sáng kiến theo ý kiến của tác giả:
- Hiệu quả kinh tế:
Hiện nay việc giáo viên linh hoạt tạo ra môi trường hoạt động và sáng tạo ra
những nghệ thuật sư phạm cung cấp kiến thức kỹ năng khoa học và xã hội cho
trẻ làm quen, khám phá khoa học đạt hiệu quả mà không cần dùng đến các đồ
chơi, đồ dùng bằng nhựa nhàm chán. Mặt khác lại tạo ra khuôn viên trường lớp
với “hệ sinh thái” môi trường học tập đẹp, xanh, sạch thoáng mát ...Thu hút
được nhiều sự quan tâm và ủng hộ của các bậc phụ huynh.
- Hiệu quả xã hội:
Làm tăng vốn hiểu biết cho trẻ, các cháu hứng thú tham gia các hoạt động, sáng
tạo trong mọi công việc.
Bản thân tôi linh hoạt, tự tin hơn khi tiến hành hoạt động, bên cạnh đó tôi được
trau dồi kiến thức, kỹ năng, nghệ thuật chăm sóc và giảng dạy trẻ.
- Tạo được môi trường học phong phú với nội dung của từng chủ đề, đồ dùng đồ
chơi và trang thiết bị cũng đã được trang bị đầy đủ hấp dẫn trẻ.
- Các hoạt động khám phá khoa học không còn tẻ nhạt, khô khan đối với trẻ mà
trẻ tích cực tham gia hoạt động phát huy tính sáng tạo và khả năng tư duy khi
khám phá khoa học cụ thể trẻ có tiến bộ rõ rệt trong từng hoạt động. Trẻ có kỹ
năng quan sát, so sánh, phân loại tốt, hiểu biét rộng về tự nhiên cũng như xã hội
…
- Các bậc phụ huynh đã nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc dạy trẻ làm
quen với khám phá khoa học, cùng phối kết hợp với cô giáo tạo điều kiện cho
trẻ được làm quen với khám phá khoa học đạt kết quả cao nhất, điều đó cũng đã
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ.
20
74%
22
96%
65%
19
83%
61%
18
78%
các
+Về phía giáo viên
Cô giáo cần có lòng say mê khám phá khoa học, mong muốn tìm hiểu về các sự
vật hiện tượng lòng ham hiểu biết của cô giáo phải được thể hiện trong mọi hoạt
động để làm gương cho trẻ lôi cuốn trẻ vào các hoạt động khám phá, tìm hiểu về
khám phá khoa học
Giáo viên có những kiến thức cơ bản về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội ,
nắm vững nội dung chương trình và có kỹ năng sử dụng linh hoạt các phương
pháp, luôn có ý thức trong việc đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức cho trẻ
khám phá khoa học theo hướng tích cực các hoạt động của trẻ và lấy trẻ làm
trung tâm.
mỗi khi đến với khám phá khoa học. Do vậy mà các trẻ rất tự tin khi phát biểu
và nói lên ý kiến của mình. Chứng tỏ các phương pháp đã dần cụ thể hóa, trực
quan hóa các kiến thức khoa học trìu tượng, giúp các trẻ tiếp thu đễ dàng hơn.
22
Như vậy, kết quả thực nghiệm của tôi đã thành công và tạo được thêm cảm hứng
cho tôi thiết kế thêm nhiều các phương pháp mới nhằm phục vụ tốt hơn cho việc
giảng dạy.
X.2. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
sáng kiến theo ý kiến của tổ chức, cá nhân:
-Sáng kiến mang tính khả thi cao, có tính mới tính sáng tạo.
- Giáo viên thực sự yêu nghề mến trẻ, có năng lực sư phạm, nắm chắc chuyên
môn.
- Có sự hiểu biết về kỹ năng dạy trẻ làm quen với khám phá khoa học .
- Có sự sáng tạo trong mỗi tiết dạy, luôn có sự đổi mới trong phương pháp dạy
trẻ.
- Thường xuyên rèn luyện bản thân, kỹ năng dạy, thao tác, rèn luyện giọng nói
- Đồ dùng dạy trẻ phong phú sáng tạo hấp dẫn với trẻ .
- Làm tốt công tác tuyên truyền với các bậc phụ huynh .
- Luôn tạo được môi trường học mà chơi, chơi mà làm .
- Chú ý rèn trẻ ít nói, chậm hiểu có phương pháp hướng dẫn cụ thể .
- Động viên kịp thời và giúp trẻ tập luỵên thường xuyên .
- Tạo điều kiện tốt để trẻ có khả năng tư duc, phát triển tốt .
23