ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ NHIÊN
KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ NHIÊN
KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
TRONG GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số
: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIAI ĐOẠN KHỞI TỐ
7
VÀ HOẠT ĐỘNG KIỂM SÁT KHỞI TỐ TRONG TỐ
TỤNG HÌNH SỰ
1.1.
Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án
7
hình sự
1.1.1. Khái niệm giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
9
1.1.2. Đặc điểm giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
11
1.1.3. Ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
12
1.2.
Quy định của pháp luật về kiểm sát hoạt động tư pháp trong
28
giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
2.1.1. Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố
28
2.1.2. Kiểm sát quyết định khởi tố và quyết định không khởi tố vụ
36
án hình sự
2.1.3. Kiểm sát việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ
40
2.2.
52
Thực tiễn kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố
vụ án hình sự
2.2.1. Tình hình và kết quả áp dụng trong thực tiễn
72
QUẢ KIỂM SÁT HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP TRONG GIAI
ĐOẠN KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ
3.1.
Cơ sở và định hướng của việc nâng cao hiệu quả kiểm sát
72
hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
3.1.1. Cơ sở của việc nâng cao hiệu quả kiểm sát hoạt động tư pháp
72
trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
3.1.2. Định hướng của việc nâng cao hiệu quả kiểm sát hoạt động tư
76
pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
3.2.
Tiếp tục hoàn thiện pháp luật
78
3.3.
BLTTHS
: Bộ luật tố tụng hình sự
CQĐT
: Cơ quan điều tra
CQTHTT
: Cơ quan tiến hành tố tụng
TTHS
: Tố tụng hình sự
VKS
: Viện kiểm sát
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC
: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
XHCN
57
của cả nước từ năm 2006 - 2015
2.4
Số liệu các trường hợp CQĐT đình chỉ (khoản 2 Điều 107
61
BLTTHS) của cả nước từ 2010 đến 2015
2.5
Số liệu các trường hợp VKS đình chỉ (khoản 2 Điều 107
62
BLTTHS) của cả nước từ 2010 đến 2015
2.6
Số liệu về lệnh bắt khẩn cấp của CQĐT không được VKS
64
phê chuẩn từ năm 2006 - 2015
2.7
Số liệu VKS đã hủy bỏ quyết định tạm giữ theo khoản 3
67
căn cứ của các quyết định khởi tố vụ án hình sự và không khởi tố vụ án hình
sự của các cơ quan có thẩm quyền; kịp thời phát hiện những vi phạm của Cơ
quan điều tra (CQĐT) trong giai đoạn khởi tố vụ án để có biện pháp khắc
phục nhằm đảm bảo quá trình khởi tố vụ án chính xác, đúng quy định của
pháp luật.
Bên cạnh kết quả đạt được, quá trình kiểm sát hoạt động tư pháp trong
giai đoạn khởi tố vụ án hình sự của VKS vẫn còn có những hạn chế như nhiều
nơi chưa chú trọng công tác kiểm sát tin báo tố giác tội phạm hoặc kiến nghị
1
khởi tố nên tin báo giải quyết quá hạn còn nhiều; việc phát hiện các vi phạm
của CQĐT trong quá trình bắt, tạm giữ còn hạn chế, vẫn để xảy ra trường hợp
lạm dụng bắt khẩn cấp, tạm giữ, gia hạn tạm giữ không cần thiết; tình trạng
khởi tố không đúng tội danh, oan, sai vẫn còn xảy ra... đã ảnh hưởng lớn đến
quyền con người được pháp luật bảo vệ. Nguyên nhân của những hạn chế nêu
trên xuất phát từ việc các quy định của pháp luật chưa cụ thể, rõ ràng; các bộ
luật mới ra đời chưa có thông tư hướng dẫn; công tác phối hợp giữa VKS và
CQĐT chưa chặt chẽ; trình độ một số cán bộ, Kiểm sát viên làm công tác
kiểm sát còn hạn chế…
Trước yêu cầu cải cách tư pháp mà Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
02/6/2005 của Bộ Chính trị đã đề ra đòi hỏi vai trò của VKS không chỉ tăng
cường trách nhiệm của công tố trong hoạt động điều tra mà còn tăng cường
kiểm sát hoạt động tư pháp, trong đó nghiên cứu chuyên sâu chức năng kiểm
sát hoạt động tư pháp ngay từ giai đoạn khởi tố vụ án và thực tiễn thực hiện
chức năng này là vấn đề cần thiết. Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài "Kiểm sát hoạt
động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự theo luật tố tụng hình
sự Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu trên đây cho thấy, ở nước ta chưa có
công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về chức năng kiểm sát hoạt
động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự.
Như vậy, tình hình nghiên cứu trên đây khẳng định việc nghiên cứu đề
tài "Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự theo
luật tố tụng hình sự Việt Nam" là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính
lý luận, vừa có tính thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu chức năng "Kiểm sát hoạt động
tư pháp của Viện kiểm sát trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự"; thực tiễn
thực hiện chức năng này của VKS dựa trên kết quả đạt được, những tồn tại
3
hạn chế từ đó luận văn đưa ra giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng
của việc thực hiện chức năng này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ
yếu sau:
- Làm sáng tỏ lý luận về giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; hoạt động
kiểm sát khởi tố trong tố tụng hình sự (TTHS).
- Nghiên cứu thực trạng kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn
khởi tố vụ án hình sự của VKS, đồng thời phân tích, chỉ ra những kết quả, hạn
chế và nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động kiểm sát khởi tố vụ
án hình sự
- Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp kiến nghị để nâng cao hiệu quả kiểm
sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự trong thực tiễn.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
tố vụ án hình sự thể hiện Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VKS năm 2014
(sửa đổi) và Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015. Đồng thời, trong
quá trình nghiên cứu tác giả có sự so sánh giữa các quy định của BLTTHS
năm 2003 với các quy định của BLTTHS năm 2015 để thấy được những điểm
mới liên quan đến hoạt động kiểm sát khởi tố vụ án hình sự. Nghiên cứu,
đánh giá làm sáng tỏ thực tiễn thực hiện kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai
đoạn khởi tố vụ án hình sự; những tồn tại, hạn chế cũng như những nguyên
nhân cơ bản của các tồn tại, hạn chế đó. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận
và thực tiễn, luận văn đã đề xuất giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả kiểm
sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự trong thực tiễn.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo bổ ích cho các nhà
nghiên cứu lập pháp, các cán bộ giảng dạy pháp luật, nghiên cứu sinh, học
viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự . Kết quả
nghiên cứu của luận văn còn trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán
bộ kiểm sát trong hoạt động nghiệp vụ của mình.
5
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về giai đoạn khởi tố và kiểm sát hoạt
động khởi tố trong vụ án hình sự.
Chương 2: Pháp luật về kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn
khởi tố vụ án hình sự và thực tiễn kiểm sát.
Chương 3: Những giải pháp, kiến nghị để nâng cao hiệu quả kiểm sát
hoạt động tư pháp trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự.
6
hoặc đình chỉ vụ án hình sự tương ứng.
7
Giai đoạn truy tố có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật
định kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các hành vi tố tụng
mà CQĐT có thẩm quyền đã áp dụng để bảo đảm cho các quyết định của
VKS được chính xác và khách quan góp phần truy cứu trách nhiệm hình sự
đúng tội, đúng người và đúng pháp luật. Thời điểm của giai đoạn này được
bắt đầu từ khi VKS nhận được các tài liệu của vụ án hình sự (bao gồm cả kết
luận điều tra và đề nghị truy tố) do CQĐT chuyển đến và kết thúc bằng việc
VKS ra một trong ba loại quyết định sau: 1) Truy tố bị can trước Tòa án bằng
bản cáo trạng (kết luận về tội trạng), 2) Trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung
hoặc là 3) Đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án hình sự tương ứng).
Giai đoạn xét xử vụ án hình sự có chức năng thực hiện các nhiệm vụ
cụ thể do luật định để: 1) Áp dụng các biện pháp tố tụng cần thiết để chuẩn bị
cho việc xét xử vụ án tại phiên tòa, 2) Xét xử theo thủ tục sơ thẩm (hoặc xét
xử theo thủ tục phúc thẩm - nếu bản án hay quyết định sơ thẩm chưa có hiệu
lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị, hoặc kiểm tra lại tính hợp pháp và có
căn cứ của bản án hay quyết định đã có hiệu lực pháp luật - nếu bị kháng nghị)
và cuối cùng, 3) Tuyên bản án (quyết định) của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Như vậy, giai đoạn TTHS được hiểu:
Là bước của quá trình tố tụng hình sự tương ứng với chức
năng nhất định trong hoạt động tư pháp hình sự của từng loại chủ
thể tiến hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện các nhiệm vụ
cụ thể do luật định, có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc để
giải quyết vụ án hình sự một cách công minh, khách quan, có căn
cứ và đúng pháp luật, góp phần củng cố pháp chế và trật tự pháp
luật, bảo vệ vững chắc các quyền và tự do của công dân [7, tr. 24].
quyết định đó là quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định
không khởi tố vụ án hình sự [8, tr. 64].
Tác giả Lê Cảm khái niệm:
Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng đầu tiên mà trong
đó cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào các quy định
9
của pháp luật tố tụng hình sự tiến hành việc xác định việc có (hay
không) các dấu hiệu của tội phạm trong hành vi nguy hiểm cho xã hội
đã được thực hiện, đồng thời ban hành quyết định về việc khởi tố (hoặc
không khởi tố) vụ án hình sự liên quan đến hành vi đó [7, tr. 26].
Các quan điểm trên đều có điểm chung cho rằng khởi tố vụ án hình sự
là giai đoạn đầu của quá trình tố tụng. Là một giai đoạn TTHS nên nó cũng có
thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc. Do vậy, thời điểm bắt đầu của giai
đoạn khởi tố vụ án hình sự được xác định kể từ khi các CQTHTT phát hiện
hoặc tiếp nhận thông tin về tội phạm như: Tố giác của công dân; tin báo của
cơ quan, tổ chức, cá nhân; tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;
kiến nghị khởi tố của các cơ quan nhà nước; Cơ quan có thẩm quyền tiến
hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm; người phạm tội tự thú.
Thời điểm kết thúc của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là khi các cơ quan có
thẩm quyền ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự. Khoảng
thời gian của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự tùy thuộc vào tính phức tạp hay
không phức tạp của các tin báo, tố giác về tội phạm mà các CQTHTT đã tiếp
nhận, thụ lý. Theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì thời gian tối thiểu của
giai đoạn khởi tố vụ án hình sự là 20 ngày và tối đa không quá bốn tháng kể
từ khi CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều
tra nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố tiến hành kiểm
tra, xác minh và ra quyết định giải quyết.
Thứ tư, các biện pháp mà các cơ quan có thẩm quyền được sử dụng
trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự bao gồm: Biện pháp yêu cầu cơ quan
nhà nước, tổ chức xã hội hoặc công dân cung cấp tài liệu cần thiết liên quan
đến thông tin về tội phạm; yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc
công dân có liên quan giải thích làm rõ sự việc; khám nghiệm hiện trường và
tiến hành các biện pháp khác theo quy định của pháp luật để xác định dấu
hiệu của tội phạm; nếu bắt người trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội
quả tang thì lấy lời khai của người bị bắt...
11
1.1.3. Ý nghĩa của giai đoạn khởi tố vụ án hình sự
Về mặt pháp lý: Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn mở đầu có tính
chất định hướng cho các giai đoạn TTHS tiếp theo để giải quyết vụ án hình
sự. Nếu khởi tố vụ án hình sự không chính xác sẽ dẫn đến các giai đoạn tiếp
theo cũng không chính xác, bởi các giai đoạn TTHS tuy độc lập nhưng có sự
gắn kết chặt chẽ với nhau nhằm tìm ra sự thật của vụ án. Việc xác định một
người có tội hay không có tội ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người được
pháp luật bảo vệ. Vì vậy giai đoạn này rất quan trọng đòi hỏi vai trò của các
CQTHTT cần nghiên cứu thận trọng căn cứ khởi tố vụ án hình sự để đảm bảo
việc khởi tố vụ án nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật. Thực hiện việc
khởi tố vụ án hình sự làm phát sinh quyền của các CQTHTT như CQĐT,
VKS, Tòa án, Thi hành án hình sự trong việc xác định tội phạm và xử lý
người phạm tội, góp phần đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN). Thời
điểm bắt đầu áp dụng các qui định của Bộ luật hình sự (BLHS) và BLTTHS
là khi các CQTHTT có thẩm quyền quyết định khởi tố vụ án hình sự, từ thời
điểm này các quan hệ pháp luật hình sự được thực hiện. Nếu không có giai
đoạn khởi tố vụ án hình sự thì sẽ không có các giai đoạn tố tụng tiếp theo.
Về mặt chính trị - xã hội: Ngày nay đất nước ta đang phải đối mặt với
HÌNH SỰ
1.2.1. Sự hình thành và phát triển chức năng kiểm sát các hoạt
động tư pháp trong luật tố tụng hình sự ở nước ta từ năm 1945 đến nay
Sau khi cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã đưa
nước ta giành được độc lập và khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Tình hình trong nước bọn phản cách mạng và tội phạm diễn ra phức tạp.
Trước yêu cầu đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm xây dựng các cơ quan
chuyên trách như cơ quan Công tố và Tòa án với mục tiêu bảo vệ chế độ Nhà
nước của nhân dân, bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân,
trừng trị kẻ phạm tội và phòng ngừa các tội phạm hình sự.
Tiền thân của cơ quan VKS là cơ quan Công tố viện được thành lập
theo Sắc lệnh số 33/SL ngày 13/9/1945, vào giai đoạn đó Công tố viện là một
13
bộ phận trong hệ thống cơ quan Tòa án, sau Nhà nước ta đã ban hành các Sắc
lệnh số 13 ngày 24/1/1946; Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946; Sắc lệnh số 51 ngày
20/7/1946 và sắc lệnh số 19 ngày 16/2/1947... quy định thành lập hệ thống Tòa
án nhân dân (tòa án thường), trong đó Công tố viện là một tổ chức bên cạnh Tòa
án và trực thuộc Bộ tư pháp quản lý. Hệ thống Công tố ở Tòa thượng thẩm và
Tòa án đệ nhị cấp do một Viện trưởng lý đứng đầu, lúc này Công tố viện chỉ có
chức năng truy tố người phạm tội ra Tòa án để xét xử. Cho nên trong giai đoạn
lịch sử từ năm 1945 đến 1950 tổ chức Công tố nằm trong hệ thống Tòa án.
Thực hiện nghị quyết của Quốc hội thông qua ngày 29/4/1958, thực
hiện việc cải cách tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước nên Quốc hội đã quyết
định thành lập cơ quan Viện công tố trung ương và hệ thống viện công tố. Từ
thời điểm này, Viện công tố tách khỏi hệ thống Tòa án và trực thuộc Hội đồng
Chính phủ. Sau đó Phủ Thủ tướng đã ban hành Nghị định 256/TTg ngày
Trên cơ sở đó, Luật tổ chức VKSND năm 1981 đã quy định cụ thể
chức năng kiểm sát khởi tố tại chương II. Tuy nhiên trong giai đoạn này chưa
có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định một cách chặt chẽ, cụ thể về
hoạt động kiểm sát khởi tố vụ án hình sự, từ đó dẫn đến việc gặp nhiều khó
khăn trong công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm.
Ngày 28/6/1988, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa VIII đã thông qua
BLTTHS đầu tiên của nước ta đánh dấu bước phát triển mới trong hoạt động
lập pháp của Quốc hội. Bộ luật tố tụng đã quy định chặt chẽ trình tự, thủ tục
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ
và quyền hạn của các CQTHTT, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố
tụng. Bên cạnh đó, có quy định về hoạt động kiểm sát khởi tố của VKS với
mục đích là nhằm xử lý kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm
và không làm oan người vô tội. BLTTHS năm 1988 quy định:
Viện kiểm sát có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật
tố tụng hình sự, thực hiện quyền công tố bảo đảm cho pháp luật
được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Trong các giai đoạn
của tố tụng hình sự, Viện kiểm sát có trách nhiệm áp dụng những
15
biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp
luật của bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào [28, Điều 23].
Quy định này tạo điều kiện để VKS kiểm sát việc tuân theo pháp luật
đối với toàn bộ hoạt động tố tụng của CQĐT trong quá trình giải quyết vụ án
hình sự. Như vậy, từ giai đoạn này trở đi, hoạt động kiểm sát khởi tố được
thực hiện theo quy định của một văn bản quy phạm pháp luật và trong suốt
thời gian thực hiện BLTTHS, chức năng kiểm sát khởi tố của VKS đã góp
phần quan trọng trong công cuộc phòng chống, đấu tranh các loại tội phạm,
đảm bảo việc ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội, đồng thời tăng
không làm oan người vô tội [36, Điều 20].
Như vậy, trong suốt quá trình hình thành và phát triển hệ thống cơ
quan VKS thì chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong khởi tố vụ án
hình sự ngày càng được khẳng định vị trí, vai trò quan trọng trong công cuộc
đấu tranh phòng và chống tội phạm, nhằm mục đích là sự tuân thủ nghiêm
minh và thống nhất các quy định pháp luật TTHS của các CQTHTT, người
tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong khởi tố vụ án hình sự.
1.2.2. Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn
khởi tố vụ án hình sự
a) Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự
Chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp là một trong hai chức năng của
VKS, được quy định trong Hiến pháp năm 1992, trên cơ sở kế thừa các bản Hiến
pháp trước đó và được khẳng định lại trong Hiến pháp năm 2013 (Điều 107).
Bên cạnh đó, luật tổ chức VKSND năm 2014 cũng quy định rõ VKS thực
hiện chủ yếu hai chức năng đó là thực hành quyền công tố và kiểm sát các
hoạt động tư pháp. Chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp là một vấn đề
được đưa ra tranh luận trong suốt quá trình lập Hiến và lập pháp cũng như
trong quá trình đổi mới cải cách tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp
nước ta trong thời gian qua. Với mục đích đi sâu nghiên cứu làm rõ chức năng
kiểm sát các hoạt động tư pháp trong TTHS để giúp chúng ta nhận thức và
phân biệt hình thức hoạt động của VKS với hoạt động của các cơ quan nhà
17
nước khác. Đồng thời đưa đến sự nhận thức chung, thống nhất của toàn thể
cán bộ ngành kiểm sát nhằm thực hiện tốt và có hiệu quả các quy định của Luật
tổ chức VKSND năm 2014 trong thực tiễn, góp phần bảo vệ pháp chế XHCN.
Chức năng theo định nghĩa chung nhất được hiểu là những phương
diện, hướng hoạt động của tổ chức, cá nhân thể hiện bản chất của hoạt động