ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU NGÂN
THI HÀNH HÌNH PHẠT
CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
MÃ SỐ: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Chu Thị Trang Vân
Hà Nội – 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa
học của riêng tôi. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận
văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những
kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố
trong bất kì công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Thu Ngân
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
not defined.
2.1.1. Tòa án. ................................................... Error! Bookmark not defined.
2.1.2. Viện kiểm sát......................................... Error! Bookmark not defined.
2.1.3. Hệ thống tổ chức cơ quan thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ
theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.Error!
Bookmark
not
defined.
2.1.4. Công an cấp xã: ..................................... Error! Bookmark not defined.
2.1.5. Gia đình, các cơ quan, tổ chức, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở cơ sở,
cộng đồng dân cư nơi người bị kết án cư trú:Error!
Bookmark
not
defined.
2.1.6. Người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ:Error!
Bookmark
not defined.
2.2. Nội dung thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ:Error!
Bookmark
not defined.
Bookmark
not
defined.
2.4. Nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế trong công tác thi hành hình phạt
cải tạo không giam giữ. ......................... Error! Bookmark not defined.
2.4.1. Một số quy định pháp luật về thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ
còn bất cập, chưa hoàn thiện. ................ Error! Bookmark not defined.
2.4.2. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành hình
phạt cải tạo không giam giữ còn hạn chế.Error!
Bookmark
not
defined.
2.4.3. Công tác cán bộ, cơ sở vật chất, điều kiện tổ chức thi hành hình phạt cải
tạo không giam giữ còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình.
............................................................... Error! Bookmark not defined.
2.4.4. Công tác phối hợp và tổ chức thi hành án chưa đồng bộ, chặt chẽ.
............................................................... Error! Bookmark not defined.
CHƯƠNG III: HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ
THI HÀNH HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ VÀ MỘT SỐ
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH HÌNH PHẠT CẢI
TẠO KHÔNG GIAM GIỮ........................... Error! Bookmark not defined.
3.1. Yêu cầu của việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về thi hành hình
3.3.1. Tiếp tục đổi mới về nhận thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối
với công tác thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ. ............... Error!
Bookmark not defined.
3.3.2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật thi hành
hình phạt cải tạo không giam giữ. ......... Error! Bookmark not defined.
3.3.3. Phát huy năng lực, trách nhiệm của các chủ thể thi hành hình phạt cải
tạo không giam giữ. .............................. Error! Bookmark not defined.
3.3.4. Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các chủ thể thi hành hình phạt cải tạo
không giam giữ. .................................... Error! Bookmark not defined.
3.3.5. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm hành vi vi phạm
pháp luật thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.Error! Bookmark
not defined.
3.3.6. Đảm bảo các điều kiện cần thiết và có chế độ chính sách cho cán bộ
làm công tác thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ. .............. Error!
Bookmark not defined.
KẾT LUẬN .................................................... Error! Bookmark not defined.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 30
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật hình sự
BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự
THAHS: Thi hành án hình sự
UBND: Ủy ban nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
“Thi hành án hình sự (THAHS) là một hoạt động mang tính quyền lực
phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm trong quản lý, chỉ đạo, tổ chức thực hiện,
kiểm tra, giám sát, nhất là vai trò, trách nhiệm của Tòa án, Ủy ban nhân dân
(UBND) các cấp, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; Cơ chế giám sát, chế tài
cưỡng chế khi người bị kết án không chấp hành hoặc chấp hành không
nghiêm, có vi phạm chưa được quy định đầy đủ, kịp thời, bảo đảm tính răn
đe, giáo dục, phòng ngừa tái phạm; Công tác đào tạo, bồi dưỡng, chế độ chính
sách, nâng cao trình độ cho cán bộ thực thi và cơ sở vật chất cho công tác thi
hành án chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra… Tất cả những tồn tại và hạn
chế nêu trên đã làm giảm hiệu quả của công tác thi hành hình phạt cải tạo
không giam giữ ở Việt Nam hiện nay.
Xu hướng hiện nay của các quốc gia trên thế giới đang dần hướng tới
việc tăng cường áp dụng các hình phạt không tước tự do nhằm tạo điều kiện
cho người phạm tội có nhiều cơ hội hoàn lương mà không phải tách khỏi đời
sống xã hội, giảm chi phí cho Nhà nước trong việc giam giữ người phạm tội,
góp phần tăng cường hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong
đời sống nhân dân. Xu hướng này cũng đang được các nhà làm luật Việt Nam
quan tâm vì việc áp dụng và thi hành các hình phạt không tước tự do này
không chỉ tạo điều kiện cho người phạm tội có cơ hội hòa nhập cộng đồng,
giảm bớt thời gian tái hòa nhập cộng đồng mà còn giảm chi phí công tác thi
hành án hình sự, thể hiện nguyên tắc nhân đạo, chính sách khoan hồng trong
pháp luật hình sự Việt Nam.
Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật và thực tiễn
để làm sáng tỏ về mặt khoa học, đưa ra phương hướng, giải pháp nâng cao
hiệu quả thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ là tất yếu. Điều đó không
chỉ có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng mà còn là lý do luận
2
chứng cần thiết để tôi lựa chọn đề tài "Thi hành hình phạt cải tạo không
- Làm rõ một số nội dung cơ bản về lý luận khoa học và quy định của
pháp luật đối với thi hành hình phạt và thi hành hình phạt cải tạo không giam
giữ về: khái niệm, đặc điểm, chủ thể, nội dung, hình thức thi hành hình phạt
cải tạo không giam giữ.
- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thi hành hình phạt cải tạo không giam
giữ trên cơ sở có so sánh, đối chiếu, đánh giá tình hình thực tiễn trên địa bàn
thành phố Hà Nội, tỉnh Điện Biên và tỉnh Quảng Ninh. Địa bàn thành phố Hà
Nội có đặc điểm là thủ đô của cả nước, trung tâm văn hóa – kinh tế - chính trị
nên tình hình tội phạm và thi hành hình phạt cũng được quan tâm. Tỉnh
Quảng Ninh với đặc thù là một tỉnh ven biển, có biên giới tiếp giáp Trung
Quốc, tình hình giao thông, buôn bán thuận lợi nên tình hình tội phạm cũng
diễn biến phức tạp. Còn đối với địa bàn tỉnh Điện Biên vốn là một địa phương
có đặc thù là tỉnh miền núi, kinh tế còn nhiều khó khăn, có đông bà con dân
tộc sinh sống, các tội phạm về ma túy là đặc trưng nên tỉ lệ phạm tội cũng khá
cao. Địa bàn Hà Nội tiêu biểu cho các khu vực có kinh tế, văn hóa phát triển.
Địa bàn tỉnh Quảng Ninh tiêu biểu cho các tỉnh thành có điều kiện phát triển
vể kinh tế, giao thông thuận lợi. Địa bàn tỉnh Điện Biên tiêu biểu cho các tỉnh
còn kém phát triển, đông dân tộc thiểu số.
- Phân tích, làm rõ những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, khó
khăn trong việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ trong khoảng thời
gian từ năm 2011 đến năm 2015.
- Trên cơ sở nghiên cứu để đề xuất phương hướng và giải pháp nâng
cao hiệu quả công tác thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu, giải quyết những vấn đề xung quanh lý luận và
thực tiễn thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ, nguyên nhân của những
tồn tại, hạn chế để đề xuất, kiến nghị một số giải pháp góp phần hoàn thiện
pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành trong thực tiễn.
phạt cải tạo không giam giữ để từ đó xây dựng khái niệm thi hành hình phạt
6
cải tạo không giam giữ, bảo đảm tính chính xác, khoa học, đồng thời làm rõ
quá trình phát triển, hoàn thiện pháp luật và các đặc điểm, nội dung cơ bản
của thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ trong mối tương quan so sánh
với một số chế định tương tự.
- Nghiên cứu, đánh giá làm sáng tỏ tình hình thực tiễn thi hành hình
phạt cải tạo không giam giữ trên một số địa bàn; chỉ ra những tồn tại, hạn chế
trong thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ cũng như những nguyên nhân
cơ bản của các tồn tại, hạn chế đó.
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã đề
xuất phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành hình phạt cải tạo
không giam giữ trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách
tư pháp hiện nay.
6. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của Luận văn được chia làm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về thi hành hình phạt cải tạo không
giam giữ.
Chương II: Quy định về thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ
trong pháp luật tố tụng hình sự hiện hành và thực tiễn thi hành.
Chương III: Hoàn thiện các quy định pháp luật về thi hành hình phạt
cải tạo không giam giữ và một số giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành hình
phạt cải tạo không giam giữ.
7
của hình phạt thể hiện ở chỗ người bị kết án có thể bị tước bỏ hoặc hạn chế
quyền tự do, quyền về tài sản, về chính trị thậm chí cả quyền sống. Bên cạnh
đó, hình phạt cũng để lại hậu quả pháp lý là án tích cho người bị kết án trong
thời hạn nhất định theo quy định của pháp luật.
Thứ hai: Hình phạt phải được quy định trong BLHS. Hình phạt trong
BLHS Việt Nam được quy định ở cả Phần chung và Phần các tội phạm.
Phần chung của BLHS quy định những vấn đề có tính nguyên tắc liên quan
đến hình phạt như mục đích của hình phạt, hệ thống hình phạt, căn cứ
quyết định hình phạt, quyết định hình phạt trong các trường hợp phạm
nhiều tội, tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, miễn chấp hành hình phạt,
giảm mức hình phạt đã tuyên,…Phần các tội phạm của BLHS quy định các
loại hình phạt và mức hình phạt cho từng loại tội cụ thể. Trong mọi trường
hợp không được áp dụng hình phạt đối với những hành vi không được
BLHS quy định là tội phạm và cũng không được áp dụng bất cứ loại hình
phạt nào không quy định trong BLHS.
Thứ ba: Hình phạt do Tòa án áp dụng đối với chính cá nhân người đã
thực hiện một tội phạm và theo một trình tự riêng biệt theo quy định của
pháp luật. Điều 102, Hiến pháp 2013 quy định Tòa án nhân dân là cơ quan
xét xử của Nhà nước; Khoản 2, Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014
quy định chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền xét xử các vụ án hình sự, dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, lao động, hành chính. Và theo Điều 26,
BLHS 1999 cũng như Điều 30, BLHS 2015 đều quy định cơ quan duy nhất
có quyền áp dụng hình phạt đối với người phạm tội là Tòa án. Chỉ có Tòa
án mới có quyền nhân danh Nhà nước quyết định một người có phải chịu
hình phạt hay không và nếu phải chịu hình phạt loại nào và mức hình phạt
cụ thể được áp dụng như thế nào.
9
10
Từ những đặc điểm và khái niệm trên, tác giả có thể tổng hợp và đưa ra
khái niệm về thi hành hình phạt: Là hoạt động tư pháp do cơ quan, tổ chức,
người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục pháp luật đã quy định, kết
hợp giữa phương pháp giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế để đảm bảo lợi ích
của Nhà nước, tổ chức và công dân, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
1.1.2. Khái niệm thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Theo Từ điển Luật học, cải tạo không giam giữ là việc buộc người
phạm tội phải tự cải tạo dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức
xã hội nơi họ làm việc hoặc cư trú qua việc phải thực hiện những nghĩa vụ
nhất định. Hình phạt cải tạo không giam giữ được đề cập lần đầu tiên trong
Luật nghĩa vụ quân sự được Quốc hội thông qua ngày 30/12/1981:
“Người nào đang ở lứa tuổi làm nghĩa vụ quân sự mà không chấp hành
đúng những quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự, không chấp hành lệnh gọi
nhập ngũ, lệnh gọi tập trung huấn luyện thì tùy mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị
xử lý bằng biện pháp hành chính, bị phạt cải tạo không giam giữ từ ba tháng
đến hai năm, hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm.” [29]
Tại Điều 6 Pháp lệnh Trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả,
kinh doanh trái phép năm 1982, hình phạt cải tạo không giam giữ một lần nữa
được nhắc tới:
“Người nào kinh doanh không có giấy phép hoặc không đúng với nội
dung được phép, trốn thuế, không niêm yết giá, nâng giá cao hơn giá niêm
yết, không đăng ký nhãn hiệu hàng hóa, sử dụng trái phép nhãn hiệu hàng
hóa hoặc dùng thủ đoạn khác để lừa dối cơ quan nhà nước và người tiêu
dùng thì bị phạt cải tạo không giam giữ từ ba tháng đến hai năm, hoặc bị
phạt tù từ ba tháng đến hai năm, và bị phạt tiền gấp ba lần trị giá hàng phạm
pháp.” [22]
Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 lần đầu tiên đã
Nếu người bị kết án đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm
12
giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ
01 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ.
2. Tòa án giao người bị phạt cải tạo không giam giữ cho cơ quan, tổ
chức nơi người đó làm việc, học tập hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người
đó cư trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối
hợp với cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc giám sát,
giáo dục người đó.
3. Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số
nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần
thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được
thực hiện hàng tháng. Trong trường hợp đặc biệt, Tòa án có thể cho miễn
việc khấu trừ thu nhập, nhưng phải ghi rõ lý do trong bản án.
Không khấu trừ thu nhập đối với người chấp hành án là người đang
thực hiện nghĩa vụ quân sự.
4. Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm
hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực
hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo
không giam giữ.
Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một
ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
Không áp dụng biện pháp lao động phục vụ cộng đồng đối với phụ nữ
có thai hoặc đang nuôi con dưới 06 tháng tuổi, người già yếu, người bị bệnh
hiểm nghèo, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ
quy định tại Luật thi hành án hình sự.” [36]
Đặc điểm thứ nhất: Cải tạo không giam giữ là hình phạt chính nghiêm
khắc nhất trong số các hình phạt không phải tù, nhẹ hơn hình phạt tù, nặng
hơn phạt tiền và cảnh cáo. Tòa án có thể lựa chọn và áp dụng đối với các
14
trường hợp phạm tội mà nếu áp dụng hình phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền thì
chưa đủ để trừng trị và giáo dục, răn đe người phạm tội, răn đe người khác
nhưng cũng không cần thiết phải sử dụng hình phạt tù – hình phạt mà tính
trừng trị nghiêm khắc được đảm bảo rõ nét. Là hình phạt chính nên khi Tòa
tuyên áp dụng cải tạo không giam giữ cho người phạm tội có thể đồng thời
tuyên một hoặc nhiều hình phạt bổ sung kèm theo.
Đặc điểm thứ hai: Bản chất của hình phạt vẫn là sự hạn chế tự do thể
hiện ở việc người bị kết án dù được cải tạo, giáo dục tại địa phương nhưng tự
bản thân họ luôn biết việc làm của họ đều bị theo dõi, giám sát, hoàn toàn
không được tự do như bình thường.
Đặc điểm thứ ba: Cải tạo không giam giữ có nội dung, điều kiện và
giới hạn áp dụng cụ thể riêng so với các hình phạt khác. Người bị kết án phải
thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị
khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ nhà nước.
Trên cơ sở phân tích quy định của pháp luật về hình phạt cải tạo
không giam giữ, xuất phát từ bản chất của loại hình phạt cải tạo không
giam giữ, có thể đưa ra khái niệm: Cải tạo không giam giữ là hình phạt
chính trong hệ thống hình phạt, có thời hạn từ sáu tháng đến ba năm, tạo
điều kiện cho người phạm tội được cải tạo, học tập trong môi trường xã
hội bình thường, khuyến khích họ cải tạo thành người có ích, được áp dụng
đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng đang
có nơi làm việc ổn định hoặc nơi cư trú rõ ràng và xét thấy không cần cách
ly họ ra khỏi xã hội.
nước pháp quyền và chủ trương của Bộ chính trị tại Nghị quyết 49-NQ/TW
ngày 2/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020: “Giảm hình phạt
tù, mở rộng áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với một số loại tội
phạm”. Hơn nữa, về bản chất, hình phạt cải tạo không giam giữ là hình phạt
chính còn án treo chỉ là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.
16
Như vậy, cải tạo không giam giữ là một chế định pháp lý được quy
định trong BLHS và BLTTHS, được thể hiện cụ thể bằng bản án hoặc quyết
định của Tòa án, việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ là một bộ
phận của THAHS và phải được cơ quan có thẩm quyền tổ chức thực hiện
nghiêm túc theo đúng trình tự, thủ tục quy định. Việc thi hành hình phạt cải
tạo không giam giữ nhằm tạo điều kiện cho người bị kết án phạt cải tạo không
giam giữ lao động, học tập và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình ngay
trong môi trường xã hội bình thường, dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan,
tổ chức, đơn vị quân đội, cơ sở giáo dục, đào tạo hoặc UBND xã, phường, thị
trấn nơi người bị kết án cư trú và gia đình người đó. Người bị kết án phải
chấp hành hình phạt dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức giám sát,
giáo dục và gia đình người đó. Theo quy định tại Điều 3 Luật THAHS năm
2010: “Thi hành án phạt cải tạo không giam giữ là việc cơ quan, người có
thẩm quyền theo quy định của Luật này giám sát, giáo dục người chấp hành
án tại xã, phường, thị trấn và khấu trừ thu nhập sung quỹ nhà nước theo bản
án đã có hiệu lực pháp luật.” [34]
Từ những phân tích trên có thể đưa ra được khái niệm: Thi hành hình
phạt cải tạo không giam giữ là một bộ phận của THAHS, hiện thực hóa một
trong những hình phạt chính nhưng không nghiêm khắc hơn thi hành hình
phạt tù cho hưởng án treo và có tính nhân đạo sâu sắc, do cơ quan không
chuyên trách, tổ chức xã hội, người có thẩm quyền thực hiện theo trình tự, thủ