Thi hành án phạt cải tạo không giam giữ theo pháp luật thi hành án hình sự việt nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh thanh hóa) - Pdf 48

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

V VN ễNG

THI HàNH án PHạT CảI TạO KHÔNG GIAM GIữ
THEO PHáP LUậT THI HàNH áN HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thanh Hóa)

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2017


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

V VN ễNG

THI HàNH án PHạT CảI TạO KHÔNG GIAM GIữ
THEO PHáP LUậT THI HàNH áN HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thanh Hóa)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04

LUN VN THC S LUT HC

Ngi hng dn khoa hc: TS. NGUYN KHC HI

H NI - 2017



1.1.1. Khái niệm thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ ......................... 9
1.1.2. Các đặc điểm của thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ ........... 13
1.2.

Nội dung thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ theo
pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam ........................................ 15

1.3.

Các nguyên tắc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ ........ 22

1.3.1. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa .............................................. 23
1.3.2. Nguyên tắc dân chủ ............................................................................ 24
1.3.3. Nguyên tắc nhân đạo .......................................................................... 25
1.3.4. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật ............................................... 26
1.3.5. Nguyên tắc kết hợp giáo dục, cải tạo với cưỡng chế ......................... 27
1.3.6. Nguyên tắc phân hóa và cá thể hóa nghĩa vụ chấp hành bản án,
quyết định của tòa án .......................................................................... 28
1.3.7. Nguyên tắc tôn trọng, bảo đảm các quyến và tự do cơ bản của
con người và của công dân ................................................................. 29
1.3.8. Nguyên tắc bảo đảm sự phôi hợp giữa các cơ quan thi hành án
với các cấp chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước khác,
các tổ chức xã hội và mọi công dân trong hoạt động thi hành án ...... 29


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG THI HÀNH ÁN PHẠT CẢI TẠO KHÔNG
GIAM GIỮ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THANH HÓA VÀ CÁC
NGUYÊN NHÂN CƠ BẢN CỦA CÁC VƢỚNG MẮC TRONG
THI HÀNH ............................................................................................................ 32


Nguyên nhân của những tồn tại, khó khăn trong thi hành án
phạt cải tạo không giam giữ ............................................................ 55

2.3.1. Một số quy định pháp luật về thi hành án phạt cải tạo không
giam giữ còn bất cấp, chưa hoàn thiện ............................................... 55
2.3.2. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành
án phạt cải tạo không giam giữ .......................................................... 61


2.3.3. Công tác cán bộ, cơ sở vật chất, điều kiện tổ chức thi hành án
phạt cải tạo không giam giữ còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu
tình hình .............................................................................................. 63
2.3.4. Công tác phối hợp và tổ chức thi hành án của một số cấp ủy,
chính quyền, cơ quan chức năng chưa đồng bộ, chặt chẽ .................. 64
2.3.5. Các cơ quan hữu quan chưa phát huy hết trách nhiệm và phối
hợp thực hiện trong công tác thi hành án ........................................... 66
Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
BẢO ĐẢM THI HÀNH HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG
GIAM GIỮ ........................................................................................ 68
3.1.

Sự cần thiết phải bảo đảm việc thi hành hình phạt cải tạo
không giam giữ ................................................................................. 68

3.1.1. Bảo đảm hiệu quả thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ bắt
nguồn từ những đòi hỏi của thực tiễn phải khắc phục những tồn
tại trong quá trình thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ ........... 68
3.1.2. Bảo đảm công tác thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ bắt
nguồn từ sự đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới, xây dựng Nhà nước

vi phạm pháp luật thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ ........... 92
KẾT LUẬN .................................................................................................... 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 98


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS:

Bộ luật hình sự

BLTTHS:

Bộ luật tố tụng hình sự

HĐND:

Hội đồng nhân dân

MTTQ:

Mặt trận Tổ quốc

THAHS:

Thi hành án hình sự

TTXH:

Trật tự xã hội.


1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành án hình sự là một trong những hoạt động quan trọng của Nhà
nước nhằm đưa các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ra
thi hành trong thực tế; liên quan trực tiếp đến bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn
trật tự an toàn xã hội, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích
hợp pháp của tổ chức, cá nhân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, phục vụ
yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hoạt động thi hành án hình sự là khâu cuối cùng và có ý nghĩa quan
trọng trong bảo đảm hiệu quả thực hiện quyền tư pháp, hiện thực hóa công lý
mà Tòa án đã nhân danh Nhà nước ra bản án, quyết định; mặt khác, thi hành
án kịp thời, nghiêm chỉnh các phán quyết của Tòa án đối với các hành vi
phạm tội chính là biện pháp khôi phục lại các quyền, lợi ích hợp pháp của
Nhà nước, của tổ chức và cá nhân bị xâm hại, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp
pháp của công dân.
Việt Nam đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về "Một số
nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới"; Nghị quyết số 48NQ/TW ngày 25/4/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược xây dựng và hoàn
thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm
2020"; và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về
"Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020" với nội dung: coi trọng việc
hoàn thiện chính sách hình sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả
phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình
phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ đối
với một số loại tội phạm… Xác định rõ trách nhiệm của UBND xã, phường,
thị trấn và của cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh, thành phố trong việc thi

1


hành các hình phạt không phải là hình phạt tù để thực hiện nghiêm túc các

Hiện nay, khoa học tư pháp hình sự trong và ngoài nước đã có một số
công trình khoa học nghiên cứu về thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ,
tuy nhiên chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện về lý luận
trên cơ sở thực tiễn tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa về cải tạo không giam giữ.
Việc tăng cường áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, bao gồm cả
cải tạo không giam giữ, thể hiện rõ nét nhất chính sách phân hóa trách nhiệm
hình sự và nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự, tạo điều kiện cho người
phạm tội có cơ hội hoàn lương mà không phải cách ly khỏi xã hội; đồng thời
còn giúp giảm bớt chi phí của Nhà nước trong việc giam giữ người phạm tội,
tăng cường tính răn đe, giáo dục trong cộng đồng, góp phần hiệu quả vào
công cuộc phòng, chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác....
Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật và thực tiễn
để làm sáng tỏ về mặt khoa học, đưa ra phương hướng, giải pháp nâng cao
hiệu quả thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ có ý nghĩa lý luận, thực
tiễn và lập pháp. Đó chính là tính cấp thiết của đề tài "Thi hành hình phạt
cải tạo không giam giữ theo pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam (trên
cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thanh Hóa)".
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Do thi hành hình phạt nói chung và thi hành hình phạt cải tạo không
giam giữ có vị trí, vai trò quan trọng trong chính sách hình sự của mỗi quốc
gia, thể hiện được hiệu quả đạt được của cả hệ thống tư pháp, nên trong
những năm qua đã có khá nhiều công trình nghiên cứu khoa học ở những mức
độ khác nhau, những khía cạnh, phương diện khác nhau về thi hành án hình
sự và hệ thống các hình phạt.
Trước hết, hoạt động thi hành án hình sự được phân tích trong một số
giáo trình và sách tham khảo như: Luật Thi hành án hình sự năm 2010; Tài
liệu tập huấn chuyên sâu Luật Thi hành án hình sự, Nxb Lao Động, năm

3




quản lý công tác thi hành án hình sự - thực trạng và phương hướng hoàn
thiện mô hình quản lý của Nguyễn Ngọc Anh năm 2013..v.v...
Vấn đề thi hành hình phạt không cách ly người bị kết án ra khỏi xã hội,
bao gồm cả thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ, còn được nhiều văn bản
pháp lý quốc tế quan trọng đề cập đến như: Công ước chống đối xử hoặc hình
phạt tàn bạo, được thông qua bằng Nghị quyết số 39/46 ngày 10/2/1984 của
Đại hội đồng Liên hợp quốc; Các quy tắc chuẩn, tối thiểu của Liên hợp quốc về
các biện pháp không giam giữ (các quy tắc Tôkyô, 1990), được thông qua bằng
Nghị quyết số 45/110 ngày 14/12/1990 của Đại hội đồng Liên hợp quốc...v.v...
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khảo sát trên đây cho thấy, ở nước ta đã
có một số công trình nghiên cứu cơ bản về hệ thống hình phạt và thi hành án
hình sự nói chung, hoặc các khía cạnh chuyên sâu về thi hành hình phạt tù, tử
hình, trục xuất, còn riêng đối với thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ
chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức hoặc chỉ mới được thể hiện một
phần trong kết quả của các công trình nghiên cứu khác về hình phạt, thi hành
án hình sự, các quy định của pháp luật có liên quan chứ chưa được triển khai
nghiên cứu độc lập, chuyên sâu, đánh giá lý luận và tổng kết thực tiễn ở nhiều
tỉnh, trong đó có tỉnh Thanh Hóa. Do vậy, việc nghiên cứu đề tài này không
trùng với bất kì công trình nào đã được nghiên cứu trước đây.
Như vậy, tình hình nghiên cứu trên đây lại một lần nữa cho phép khẳng
định việc nghiên cứu đề tài "Thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ
theo pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn
tỉnh Thanh Hóa)" là đòi hỏi khách quan, cấp thiết, vừa có tính lý luận, vừa
có tính thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật và


Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật

6


lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà
nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể
hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng khóa VII, VIII, IX, X, XI và các
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày
26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các
phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học xã hội nói chung và khoa học
luật học nói riêng như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so
sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp
thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng
các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn.
Các phương pháp nghiên cứu đề tài sử dụng số liệu trong các báo cáo
của các ngành Công an, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp, Ủy
ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, kết hợp với các thông tin từ các nguồn có uy
tín để phân tích, đánh giá, tổng hợp các vấn đề lý luận và thực tiễn xung
quanh hoạt động thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa nên sẽ cho ra những kết quả với độ tin cậy cao.
5. Những đóng góp về khoa học và thực tiễn của luận văn
Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ thống ở cấp độ một luận
văn thạc sĩ luật học về thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ trên cơ sở
thực tiễn địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa
quan trọng, góp phần giải quyết nhiều vấn đề về phương diện lý luận và thực
tiễn thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Những đóng góp cơ bản của
luận văn là:

Chương 2: Thực trạng thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ trên
địa bàn tỉnh Thanh Hóa và những nguyên nhân cơ bản của các vướng mắc
trong thi hành.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thi hành
hình phạt cải tạo không giam giữ.

8


Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ THI HÀNH HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ
1.1. Khái niệm và các đặc điểm của thi hành hình phạt cải tạo
không giam giữ
1.1.1. Khái niệm thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ
Theo Từ điển tiếng Việt, thi hành là: "Thực hiện điều đã chính thức
quyết định" [41, tr.1599]. Như vậy, thi hành án có thể được hiểu là thực hiện
bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế; còn thi hành án hình sự là thực
hiện các bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trên
thực tế. Thi hành án hình sự là một hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước
nhằm đưa các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án ra thi
hành trên thực tế. Hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử chỉ có ý nghĩa
trên thực tế khi các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật được
đưa ra thi hành một cách nghiêm túc, kịp thời và có hiệu quả. Việc này một
mặt bảo đảm thực hiện quyền tư pháp của Nhà nước, thể hiện sự tôn trọng của
xã hội và công dân đối với phán quyết của cơ quan nhân danh Nhà nước là
Tòa án, mặt khác nó là biện pháp hữu hiệu để khôi phục các quyền, lợi ích
hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân bị xâm hại. Bên cạnh đó, thi
hành án hình sự còn nhằm cải tạo, giáo dục người bị kết án để họ không phạm
tội mới và trở thành người có ích cho xã hội, nhằm mục đích phòng ngừa

đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Nếu mục đích của thi hành án không đạt
được thì toàn bộ hoạt động của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử trước đó cũng
trở nên vô nghĩa. Nếu như một bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực
pháp luật không được thi hành hoặc thi hành không nghiêm thì trật tự kỷ
cương xã hội bị vi phạm, quyền lực Nhà nước bị xem thường.
Quyết định hình phạt của Toà án sẽ chỉ dừng lại ở mức đánh giá, lên án

10


hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện mà không có tác dụng giáo dục, răn
đe, phòng ngừa người phạm tội. Chính vì vậy, pháp luật hình sự đã có những
quy định cụ thể về thi hành án hình sự, các ngành tư pháp trung ương nói
chung và Toà án nhân dân tối cao nói riêng cũng đã ban hành một số Thông
tư liên tịch, Nghị quyết để hướng dẫn một số quy định của Bộ luật hình sự,
Bộ luật tố tụng hình sự về thi hành án hình sự nhằm đảm bảo việc thi hành
nghiêm túc các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc
chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay.
Hình phạt cải tạo không giam giữ có vai trò quan trọng không chỉ bảo
đảm nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự và cá thể hoá hình phạt mà còn
thể hiện được rõ chính sách nhân đạo của Luật Hình sự. Hoạt động thi hành án
hình sự đối với hình phạt cải tạo không giam giữ bên cạnh những đặc điểm
chung còn có những đặc thù riêng biệt. Sự khác biệt này xuất phát từ đặc thù
của từng loại hình phạt và mục đích, đối tượng áp dụng. Người bị kết án không
bị cách ly khỏi xã hội, họ được cải tạo, giáo dục, thi hành án trong môi trường
sống và hoạt động với các công dân bình thường khác. Tuy nhiên, họ vẫn phải
chịu sự giám sát của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương nơi họ làm
việc hoặc sinh sống. Môi trường không giam giữ sẽ có những đặc thù riêng và
mỗi hình phạt cải tạo không giam giữ lại có thêm những đặc thù riêng.
Hiện nay còn có các quan điểm khác nhau về bản chất của thi hành

bản án, quyết định của Tòa án chưa được thực hiện trên thực tế. Ở đây, thi
hành hình phạt cải tạo không giam giữ là “giai đoạn cuối cùng” trong quá
trình tố tụng. Lập luận cho quan điểm: bản chất của thi hành hình phạt cải tạo
không giam giữ là một giai đoạn tố tụng, những người theo quan điểm này
cho rằng, bản án, quyết định của Tòa án, kết quả của giai đoạn xét xử là cơ sở,
là căn cứ để tiến hành hoạt động thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
Thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ dường như là sự tiếp tục của giai
đoạn xét xử và chịu sự chi phối của cơ quan tố tụng, đặc biệt là Tòa án. Quyết

12


định thi hành hình phạt, xóa án là do Chánh án Tòa án nhân dân ra quyết định,
thủ tục ở các khâu quan trọng trong thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ
đều do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện. Việc thi hành các loại hình phạt
đều được tiến hành dựa trên các nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng,
thậm chí được quy định trong luật tố tụng.
Như vậy, có thể nêu một cách khái quát định nghĩa về khái niệm thi
hành hình phạt cải tạo không giam giữ như sau: Thi hành hình phạt cải tạo
không giam giữ là hoạt động của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo
quy định của pháp luật buộc người chấp hành hình phạt cải tạo không giam
giữ phải tuân thủ, chấp hành các hình phạt, biện pháp mà Tòa án đã tuyên án
đối với họ tại phiên tòa, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội
phạm do họ gây ra nhằm bảo đảm lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân,
bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và ngăn ngừa họ phạm tội mới, cũng như
phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.
1.1.2. Các đặc điểm của thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ
Xét về bản chất, tố tụng là việc giải quyết các tranh chấp thông qua
thủ tục xét xử của Tòa án. Điều đó có nghĩa là khi Tòa án đã đưa ra phán
quyết về chân lý của sự việc, về việc phạm tội hay không phạm tội và về

giáo dục họ ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích của cá nhân, của Nhà
nước và xã hội, giáo dục họ trở thành người công dân có ích với xã hội.
Phương pháp ở đây là thuyết phục giáo dục và mệnh lệnh hành chính;
Bốn là, việc thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ, như cải tạo
không giam giữ, phạt tiền, cảnh cáo, được giao cho cơ quan thi hành án dân
sự hay cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương thực hiện theo thủ tục quản
lý hành chính. Như vậy, có thê nói trong quá trình thi hành án hình sự, pháp
luật được áp dụng chủ yếu không phải là pháp luật tố tụng, mà là các quy định
pháp luật về hành chính - tư pháp;
Năm là, thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ trước hết là hoạt

14


động của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, quá
trình xã hội hóa hoạt động thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ cũng
đang được tiến hành với nhiều triển vọng khả quan. Đây là điểm khác biệt so
với hoạt động tố tụng, hoàn toàn mang tính quyền lực tư pháp chặt chẽ.
Tóm lại, thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ tuy có quan hệ chặt
chẽ với các giai đoạn tố tụng trước đó nhưng vẫn là một hoạt động có tính đặc
thù, và có mục đích trực tiếp riêng biệt. Nếu tất cả các hoạt động tố tụng đều
nhằm đạt đến một phán quyết đúng đắn của Tòa án, thì thi hành án lại nhằm
thực hiện các nội dung trong phán quyết của Tòa án. Mọi hoạt động tố tụng
hình sự đều dừng lại ở việc phán quyết của Tòa án, còn thi hành án lại được
triển khai bắt đầu từ một phán quyết của Tòa án có hiệu lực thi hành. Hơn
nữa, các mối quan hệ phát sinh trong quá trình thi hành hình phạt cải tạo
không giam giữ tuân theo các nguyên tắc mang đậm tính hành chính hơn là
tính tố tụng. Nhưng mặt khác, không thể không thấy mối quan hệ biện chứng
giữa quá trình tố tụng hình sự và thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ: tố
tụng là tiền đề, khởi đầu của thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ; ngược

Thi hành án phạt cải tạo không giam giữ là:
Một bộ phận của thi hành án hình sự, hiện thực hóa một trong
những hình phạt chính nhưng không nghiêm khắc hơn thi hành án
treo và có tính nhân đạo sâu sắc, do cơ quan không chuyên trách, tổ
chức xã hội, người có thẩm quyền thực hiện theo trình tự, thủ tục
pháp luật quy định, kết hợp chặt chẽ giữa trừng trị và giáo dục,
khuyến khích, tạo điều kiện để người chấp hành án phạt cải tạo
không giam giữ tự lao động, học tập, cải tạo trở thành người lương
thiện và nhanh chóng tái hòa nhập xã hội trong môi trường cuộc
sống bình thường, nhằm đưa bản án, quyết định của Tòa án ra thực
hiện trên thực tế và đạt được hiệu quả xã hội cao, bảo đảm được lợi
ích của Nhà nước, tổ chức và công dân, bảo vệ trật tự pháp luật xã
hội chủ nghĩa.

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status