ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LỤC THẾ HƯNG
TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH
TIỀN GIẢ, NGÂN PHIẾU GIẢ, CÔNG TRÁI GIẢ
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ
THỰC TIỄN TẠI ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG)
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LỤC THẾ HƯNG
TỘI LÀM, TÀNG TRỮ, VẬN CHUYỂN, LƯU HÀNH
TIỀN GIẢ, NGÂN PHIẾU GIẢ, CÔNG TRÁI GIẢ
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM (TRÊN CƠ SỞ
THỰC TIỄN TẠI ĐỊA BÀN TỈNH HÀ GIANG)
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. TRỊNH QUỐC TOẢN
và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả
các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
...........................................................................................................................3
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn.......................................................................................................3
Tôi xin chân thành cảm ơn!...............................................................................3
NGƯỜI CAM ĐOAN......................................................................................3
Lục Thế Hưng..................................................................................................3
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
BLHS
CA
: Bộ luật hình sự
: Công an
CQĐT
: Cơ quan điều tra
TA
: Tòa án
TAND
VKS
VKSND
: Tòa án nhân dân
2015 của Tòa án tỉnh Hà Giang
53
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) với quyết định chuyển
đổi phát triển kinh tế đất nước ta từ quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa với phát triển nhiều thành phần kinh tế
trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo đã làm cho nền kinh tế chuyển
dịch rõ rệt. Bộ mặt đất nước thay đổi từng ngày, kinh tế xã hội phát triển, đời
sống nhân dân được nâng cao, nước ta đã mở rộng quan hệ với nhiều nước
trên thế giới đây là lợi thế để phát triển đất nước nhưng mặt trái của sự phát
triển bao giờ cũng là những hiện tượng tiêu cực xã hội, tình hình tội phạm và
vi phạm pháp luật gia tăng. Tội phạm trong xã hội hiện đại là một hiện tượng
xã hội - pháp lý phức tạp với những biểu hiện khác nhau, công tác đấu tranh
phòng chống tội phạm cũng gian khổ, khó khăn hơn. Tình hình tội phạm diễn
ra ngày càng phức tạp, nghiêm trọng và có xu hướng gia tăng đột biến, có
nhiều loại tội phạm mới xuất hiện với thủ đoạn ngày càng tinh vi và xảo quyệt
hơn, tính chất của tội phạm ngày càng manh động, đặc biệt là tội phạm làm,
tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả nhằm
mục đích chiếm đoạt tài sản và các mục đích khác xuất hiện ngày càng nhiều.
Tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công
trái giả đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế của đất nước, phá hoại
chính sách tiền tệ. Người phạm tội thuộc nhiều thành phần khác nhau và thậm
chí bao gồm cả người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam. Tội phạm
này không chỉ xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà còn xâm phạm nhiều quan
hệ xã hội, nhiều trật tự quản lý khác, trong đó có trật tự quản lý hành chính.
Thực trạng trên đã và đang là những vấn đề bức xúc của toàn xã xã hội. Chính
(TA) trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trên đã đạt những thành
tựu nhất định. Số vụ về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, công
trái giả tuy có giảm về số lượng, nhưng phương thức và thủ đoạn phạm tội
của bọn tội phạm ngày càng tinh vi, áp dụng khoa học công nghệ tiến tiến,
gây khó khăn cho công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này.
2
Để nhìn nhận và đánh giá đúng thực trạng, tìm ra những giải pháp hữu
hiệu khắc phục tình trạng tội phạm này xảy ra trên địa bàn tỉnh Hà Giang, tác
giả chọn đề tài: Tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân
phiếu giả, công trái giả theo luật hình sự Việt Nam (Trên cơ sở thực tiễn
tại địa bàn tỉnh Hà Giang) làm luận văn thạc sĩ luật học nhằm đáp ứng yêu
cầu cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn đang đặt ra ở tỉnh Hà Giang hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đấu tranh, phòng chống, xử lý tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
nói chung và tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả,
công trái giả nói riêng đã được quy định trong BLHS và được một số nhà Luật
học đề cập một cách khái quát trong các bài giảng như: Giáo trình luật hình sự
Việt Nam (phần các tội phạm), của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011; Giáo trình luật Hình sự Việt Nam, tập II, của
Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2005; Bình luận
khoa học Bộ luật Hình sự 1999 (phần các tội phạm), của TS. Phùng Thế Vắc,
TS. Trần Văn Luyện, LS.ThS. Phạm Thanh Bình, TS. Nguyễn Đức Mai, ThS.
Nguyễn Sĩ Đại, ThS. Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001;
Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 (phần các tội phạm) của Thạc sĩ Đinh
Văn Quế, Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 2001; Luận án tiến sĩ: “Công tác điều
tra vụ án tiền Việt Nam đồng giả - những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả
Châu Nam Long, Học viện An ninh nhân dân, 2002; Đề tài khoa học cấp cơ sở:
hiệu quả trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung giải quyết các
nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Nghiên cứu, phân tích một số vấn đề lý luận về tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả hiện nay ở Việt Nam.
- Phân tích các quy định của BLHS về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu
hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả.
- Nghiên cứu tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu
giả, công trái giả ở một số nước trên thế giới.
4
- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự đối
với tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái
giả ở tỉnh Hà Giang, làm sáng tỏ thực tiễn áp dụng loại tội phạm này, nêu lên
những vướng mắc trong điều tra, truy tố, xét xử.
- Đưa ra các kiến nghị hoàn thiện BLHS và giải pháp nâng cao hiệu quả
áp dụng các quy định của BLHS về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành
tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh
phòng chống tội phạm.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là những vấn đề lý luận pháp lý
và thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành
tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả ở Việt Nam hiện nay, trực tiếp là hoạt động
điều tra, truy tố, xét xử loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
- Tập trung nghiên cứu tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả,
ngân phiếu giả, công trái giả theo Điều 180 Chương XVI BLHS năm 1999
(sửa đổi, bổ sung năm 2009).
6. Những điểm mới và đóng góp của đề tài
Qua kết quả nghiên cứu và phân tích, đánh giá tình hình tội phạm đối với
tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả,
tác giả đã chỉ ra những vướng mắc, bất cập, trong thực tiễn điều tra, truy tố,
xét xử loại tội phạm này. Đồng thời, đề xuất hệ thống các giải pháp có tính
khả thi nhằm nâng cao hiệu quả việc áp dụng những quy định của pháp luật
hình sự về tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả,
công trái giả.
Những kết quả đạt được của luận văn, các cơ quan chức năng tỉnh Hà
Giang có thể nghiên cứu vận dụng vào thực tiễn góp phần nâng cao hiệu quả áp
dụng những quy định của pháp luật hình sự hiện hành về tội làm, tàng trữ, vận
chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả. Thông qua kết quả
nghiên cứu và các đề xuất, tác giả mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình
vào việc phát triển khoa học luật hình sự nói chung, hoàn thiện về tội làm, tàng
6
trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả nói riêng.
Luận văn đề cập các giải pháp phòng, chống có hiệu quả tội phạm làm,
tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả để các cơ
quan lập pháp, hành pháp, tư pháp có thể tham khảo, hoàn thiện pháp luật xây
dựng kế hoạch tổ chức đấu tranh phòng, chống có hiệu quả đối với loại tội
phạm này.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích
dành cho không chỉ các nhà lập pháp, mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán
bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên
thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật. Kết quả
nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức
chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các Cơ quan điều tra
(CQĐT), VKS, TA và cơ quan Thi hành án trong quá trình giải quyết vụ án
nhà kinh tế học hiện đại tiền là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc
thanh toán để nhận hàng hóa, dịch vụ hoặc để trả nợ.
Căn cứ vào các quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 thì tiền là một
loại tài sản phổ biến trong giao lưu dân sự, nó thực hiện các chức năng thanh
toán thông dụng nhất và tiền chỉ do Ngân hàng Nhà nước phát hành. Hiện
nay, tiền được lưu hành trên lãnh thổ Việt Nam là tiền giấy, đơn vị tính là
Việt Nam đồng, được cấu tạo dưới dạng hợp chất polyme không thấm nước
và khó bị nhàu nát như tiền giấy trước đây [59, tr.24-25]
Ngân phiếu là: “Phiếu có ghi số tiền, dùng làm căn cứ nhận tiền tại ngân
hàng hoặc nhận tiền gửi qua bưu điện” [54, tr.65]. Đó là một dạng phiếu dùng
để thay thế tiền mặt, có in mệnh giá và thời hạn lưu hành. Trên thực tế thì
ngân phiếu, đặc biệt là ngân phiếu nhà nước có tác dụng tích cực. Nó làm
giảm khối lượng tiền mặt trong quá trình lưu thông tiền tệ, giúp đối phó với
một số thời điểm khó khăn do hệ thống ngân hàng thiếu tiền mặt tức thời
8
trong thanh toán. Ở Việt Nam thì ngân phiếu được giao cho Ngân hàng nhà
nước Việt Nam phát hành.
Công trái là: “Hình thức nhà nước vay vốn của các tầng lớp nhân dân,
người cho vay được quyền thu lại vốn và hưởng lãi theo quy định” [69]. Công
trái được Nhà nước phát hành bằng một giấy tờ gọi là phiếu công trái.
“Giả” theo từ điển tiếng Việt là “không phải là thật mà là được làm ra với
vẻ bề ngoài giống như cái thật” [54,tr.369]. Theo Nghị quyết số 02/2003/NQHĐTP ngày 17 tháng 4 năm 2003 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối
cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS thì: “Tiền giả bao gồm tiền
Việt Nam đồng giả và ngoại tệ giả; ngân phiếu giả, công trái giả bao gồm
ngân phiếu, công trái giả ngân phiếu, công trái của Việt Nam hoặc của nước
ngoài phát hành nhưng có giá trị thanh toán tại Việt Nam”.
Đến nay vẫn chưa có một tài liệu khoa học nào đưa ra định nghĩa thế nào
1.1.2. Đặc điểm của tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả
Tiền giả: Về mặt hình thức có thể là tiền giấy hoặc kim loại tuỳ theo loại
mà đối tượng làm giả hướng tới, có hình dáng hoa văn tương đối giống với
loại tiền thật tương ứng, có khả năng làm cho người tiếp nhận, trao đổi nhầm
lẫn với tiền thật.
Về nguồn gốc tiền giả được làm ra từ những cơ sở bất hợp pháp, do đó
về bản chất nó không được phép lưu hành.
Một số đặc điểm nhận biết tiền Việt Nam giả:
Trước hết, với yếu tố giấy in tiền, tờ tiền giả được in bằng giấy in thông
thường, không phải là giấy Polymer. Có thể nhận biết điều này qua quan sát hoặc
xé nhẹ bằng tay ở mép tờ tiền; nếu thấy tờ tiền có các vết rách ở mép thì cần kiểm
tra cẩn thận vì hiện tượng này ít xảy ra đổi với tiền in trên giấy Polymer.
Trên tờ tiền giả có cắt dán các hình cửa sổ lớn và cửa sổ nhỏ bằng cách
khoét thủng hình hai cửa sổ và dùng màng mỏng nilon trong suốt dán lên.
Trong cửa sổ nhỏ không có hình bông hoa sen chìm và khi nhìn dưới ánh
sáng đèn đỏ sẽ không có ánh ngũ sắc như ở tiền thật. Trên cửa sổ lớn có dập
số 50.000, 100.000, 200.000 v.v những nét thô và không rõ như trên tờ tiền
thật. Nhìn bằng mắt thường có thể nhận ra vết dán quanh mép hình cửa sổ.
10
Hình bóng chìm chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh và chữ Việt Nam
(nằm dưới vị trí bóng chìm hình chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh) trong tờ
tiền giả đậm hơn nền giấy, không tinh vi và rõ nét; không sáng trắng khi soi
tờ tiền trước nguồn sáng như trên tờ tiền thật.
Về màu sắc của tờ tiền giả, nhìn tổng thể có màu sắc gần giống như màu
của tờ tiền thật.
Các yếu tố phát quang, tờ tiền giả không có yếu tố mực phát quang khi
soi dưới ánh sáng đèn cực tím. Cụ thể: mặt trước tờ tiền giả không có cụm số
ghi mệnh giá, không màu phát quang dưới ánh sáng đèn cực tím; các chi tiết
- Không phải do cơ quan chức năng phát hành như: Chính Phủ, Ngân hàng.
- Cũng giống như tiền giả, ngân phiếu giả, công trái được làm giả từ những
cơ sở bất hợp pháp, do đó về bản chất nó cũng không được phép lưu hành.
1.2. Khái niệm tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân
phiếu giả, công trái giả trong Luật hình sự Việt Nam và tác hại của nó
đối với chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước
Tội phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 8, BLHS năm 1999 (sửa đổi,
bổ sung năm 2009) định nghĩa như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho
xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách
nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế
độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng an ninh, trật tự toàn xã hội, quyền lợi,
lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân
phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm
phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”.
Định nghĩa tội phạm trên đây có tính khoa học thể hiện quan điểm của
Nhà nước ta về tội phạm. Định nghĩa này là cơ sở khoa học thống nhất cho
việc xác định những loại tội phạm cụ thể quy định trong BLHS. Đồng thời là
cơ sở cho việc nhận thức và áp dụng đúng đắn điều luật quy định cho từng tội
phạm cụ thể.
Tiền giả xuất hiện từ rất lâu đời từ khi xuất hiện tiền trong lưu thông tiền
tệ. Ngay từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa giành được độc lập năm
12
1945, song song với các vấn nạn, tệ nạn xã hội thì nạn tiền giả đã xuất hiện
nhiều và Chính phủ đã phải xây dựng chính sách hình sự về loại tội phạm
này.
Trong BLHS Việt Nam, tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả,
ngân phiếu giả, công trái giả được quy định tại Điều 180 BLHS năm 1999
số lượng tiền giả đang lưu hành trên thị trường còn lớn hơn rất nhiều. Ngoài 2
loại tiền giả phổ biến có mệnh giá 50.000 đồng và 100.000 đồng, các đối
tượng buôn bán tiền giả đang “đầu tư” vào loại 20.000 đồng.
Tội phạm làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả,
công trái giả (sau đây gọi tắt là “tội phạm về tiền giả”) là loại tội phạm xâm
phạm trật tự quản lý kinh tế, tính chất mức độ của nó gây ra không những ảnh
hưởng đến chính sách tiền tệ của Nhà nước ta, trực tiếp phá hoại nền kinh tế
của đất nước mà còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân
dân. Thời gian qua, do có lợi nhuận cao, dễ thực hiện nên loại tội phạm này
không ngừng gia tăng với thủ đoạn ngày càng tinh vi, đa dạng hơn gây không
ít khó khăn cho công tác phòng chống tội phạm này. Tội phạm về tiền giả
không chỉ xảy ra ở khu vực thành phố, thị xã, mà bọn tội phạm còn lợi dụng
các địa bàn như vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc, các chợ buôn bán
tiền ở vùng biên giới để thực hiện tội phạm. Đặc biệt, bọn tội phạm đã lợi
dụng một số người không có công việc làm, những người nghèo, người già,
trẻ em tham gia vào hoạt động phạm tội để kiếm sống làm cho tình hình tội
phạm về tiền giả diễn biến ngày càng phức tạp. Trong khi đó, quan hệ phối
hợp phòng, chống tội phạm về tiền giả giữa các quốc gia còn nhiều hạn chế,
bất cập, cho nên cuộc đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này sẽ gặp nhiều
khó khăn [57].
Càng ngày thì bọn tội phạm càng biết áp dụng những công nghệ hiện đại
để làm ra tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả (tội phạm về tiền giả) khiến
cho Chính phủ phải vất vả ngăn chặn. Hậu quả của việc đưa tiền giả lưu thông
ngoài thị trường làm cho nền kinh tế bị lũng đoạn, số lượng tiền giả lưu thông
trôi nổi nằm ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước, tạo ra số lượng ảo về giá trị
đồng tiền, gây tâm lý hoang mang cho người dân khi đang sử dụng và tích luỹ
vốn bằng tiền Việt Nam; tiền giả ảnh hưởng đến nền an ninh tài chính, tiền tệ
15
quốc gia, làm thiệt hại đến giá trị hay khó dễ cho sự lưu hành giấy bạc Việt
Nam”. Theo điều 1 sắc lệnh đã quy định: “ Những người đầu cơ tiền tệ, làm
giấy bạc giả, lưu hành giấy bạc giả, tàng trữ hay lưu hành những giấy bạc
của địch hay đã có lệnh cấm, hoặc có những hành động có tính cách phá
hoại nền tài chính quốc gia sẽ bị truy tố trước Toà án quân sự”.
Như vậy, mặc dù đất nước mới được tái thiết, các quy định về hình sự
nhằm trấn áp tội phạm còn rất hạn chế nhưng Chính phủ đã quan tâm đặc biệt
hành vi làm, tàng trữ và lưu hành tiền giả. Việc quy định hành vi làm, tàng
trữ, lưu hành giấy bạc giả đã đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống tội phạm về
tiền giả. Qua đó thể hiện được tính chất nguy hiểm cho xã hội của loại tội
phạm này và thái độ của Nhà nước đối với loại tội phạm này là rất nghiêm
khắc. Có thể nói đây chính là những quy định đầu tiên của Nhà nước ta về tội
làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả. Trong quy định này, các nhà làm
luật chưa xây dựng định mức trách nhiệm hình sự. Tuy vậy, việc ban hành
văn bản này là cần thiết và kịp thời trong hoàn cảnh đất nước ta lúc bấy giờ.
Thời kỳ 1954 -1975, đất nước ta liên tục có chiến tranh, cả nước tập
trung toàn bộ sinh lực vào cuộc chiến đấu bảo vệ đất nước, các văn bản pháp
luật mang tính hình sự ra đời cũng chỉ tập trung vào quy định các tội có liên
quan đến cuộc chiến như: tội phản cách mạng, tội xâm phạm tài sản xã hội
chủ nghĩa; các tội về kinh tế như tội đầu cơ, buôn bán hàng cấm .. có ảnh
hưởng nhiều tới cuộc chiến tranh. Nhằm ổn định thị trường, thắt chặt sự quản
lý của Nhà nước đối với nền kinh tế, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hoà
Miền nam Việt Nam ban hành Sắc luật số 03.SL ngày 15/3/1976 quy định về
tội phạm và hình phạt. Tại Điều 6 - Tội kinh tế của sắc luật này đã quy định:
“Tội kinh tế là tội gây thiệt hại về tài chính cho Nhà nước, cho Hợp tác xã
hoặc cho tập thể nhân dân, gây trở ngại cho việc khôi phục và phát triển sản
xuất, cho việc ổn định đời sống nhân dân, gồm các tội: Làm bạc giả, hoặc
tiêu thụ bạc giả;….
bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mười năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Trong hơn mười năm có hiệu lực, BLHS năm 1985 đã được sửa đổi, bổ
sung bốn lần vào các ngày 28/12/1989, ngày 12/08/1991, ngày 22/12/1992 và
18
ngày 10/05/1997. Trong mỗi lần sửa đổi, bổ sung thì BLHS đều có những
thay đổi liên quan trực tiếp đến tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả,
tội phá hủy tiền tệ được quy định ở Điều 98 BLHS năm 1985. Trong lần sửa
đổi thứ nhất vào ngày 28/12/1989, do Đất nước mới chuyển hướng nền kinh
tế theo con đường kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nên hướng
sửa đổi chủ yếu tập trung vào các tội có tính chất nghiêm trọng và đặc biệt
nghiêm trọng có ảnh hưởng lớn đến vận mệnh quốc gia như tội đầu cơ, tội
trốn thuế, tội buôn lậu, tội phạm về chức vụ… Đối với quy định về tội làm
tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ thì cả bốn lần sửa
đổi, bổ sung đều không có sự thay đổi về điều luật mà chỉ có sự thay đổi về
hình phạt bổ sung đối với loại tội này. Cụ thể lần sửa đổi, bổ sung năm 1991
quy định “Người nào phạm một trong các tội quy định ở các Điều 88, 95, 96
và 99, thì có thể bị phạt tiền từ ba trăm nghìn đồng (300.000 đồng) đến ba
triệu đồng (3.000.000 đồng)”; lần sửa đổi, bổ sung năm 1992 quy định
“Người nào phạm một trong các tội quy định ở các điều 88, 95, 96, 98 và 99,
thì có thể bị phạt tiền từ ba trăm nghìn đồng (300.000 đồng) đến ba triệu
đồng (3.000.000 đồng)”; lần sửa đổi, bổ sung năm 1997 quy định “2. Công
dân Việt Nam phạm một trong các tội thuộc Mục A hoặc một trong các tội
quy định tại Điều 87, Điều 88, các Điều từ Điều 94 đến Điều 99, thì bị phạt
quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm. 3- Người nào phạm một
trong các tội quy định tại Điều 88, 95, 96, 98 và 99, thì có thể bị phạt tiền từ
ba trăm nghìn đồng đến ba triệu đồng; phạm tội quy định tại Điều 97, thì bị
phạt tiền đến mười lần trị giá hàng phạm pháp. 4- Người nào phạm một trong
các tội thuộc Mục A, thì bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản; phạm một