Sáng kiến kinh nghiệm một vài biện pháp nhằm duy trì sĩ số học sinh - Pdf 42

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TP. PLEIKU

TÊN ĐỀ TÀI:

MỘT VÀI BIỆN PHÁP NHẰM DUY TRÌ SĨ SỐ
HỌC SINH

NĂM HỌC : 2011 - 2012

1


MỘT VÀI BIỆN PHÁP NHẰM DUY TRÌ SĨ SỐ HỌC SINH
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong bối cảnh kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn như hiện nay,
việc học sinh, nhất là học sinh người dân tộc thiểu số bỏ học đã trở thành
nỗi bức xúc của tồn xã hội. Việc thực hiện chủ trương phổ cập giáo dục
trung học cơ sở của Đảng và Nhà nước đúng kế hoạch có lẽ là vấn đề nan
giải đối với một tỉnh miền núi điều cv``kiện phát triển kinh tế còn gặp
nhiều khó khăn như Gia Lai. Vì vậy, vấn đề duy trì sĩ số ở trường phổ
thơng trong giai đoạn hiện nay có một tầm quan trọng hết sức đặc biệt. Dư
luận xã hội, ý kiến của những người có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục
hết sức lo lắng trước tình trạng nghỉ học, bỏ học của học sinh phổ thơng.
Nền kinh tế thị trường tạo những tiền đề thuận lợi cho sự phát triển
tồn diện của nền kinh tế nước ta. Tuy vậy, một số nhược điểm của nó
cũng đã bộc lộ, đó là sự cạnh tranh kinh tế, quy luật phát triển khơng đồng
đều đã tạo ra sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc. Khoảng cách của
mức sống giữa nơng thơn và thành thị, giữa người giàu và người nghèo
ngày càng lộ rõ, mặc dù Đảng và Nhà nước ta ln có những chủ trương và
chính sách để hỗ trợ người nghèo.
Mặt khác những hạn chế của nền kinh tế thị trường đã và đang tác

nghỉ học hiện nay.

3


PHẦN THỨ HAI
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I.Vị trí vai trò, tầm quan trọng của công tác chủ nhiệm lớp với vấn đề
duy trì sĩ số học sinh:
Đất nước đang ở vào thời kỳ chuyển mình mạnh mẽ để hội
nhập vào trào lưu phát triển chung của toàn cầu. Sự hội nhập và phát triển
của đất nước đang đặt ra cho từng địa phương từng gia đình và từng cá
nhân những cơ hội lớn lao để phát triển. Bên cạnh cơ hội là những yêu cầu
hết sức khó khăn mà từng đối tượng phải nỗ lực để vượt qua. Nhà trường
trong tình hình phát triển mới của ngành giáo dục và của đất nước rõ ràng
mang trên mình trách nhiệm càng lớn lao hơn .
Trường học không những chỉ phải đào tạo những thế hệ học sinh học
giỏi, đạo đức tốt mà còn phải là những con người năng động, sáng tạo. Do
đó công tác giáo dục trong bối cảnh mới cũng phải có những yêu cầu mới
phù hợp hơn.
Sự nghiệp giáo dục nước nhà đang ở vào giai đoạn cải cách, đang
gặp những khó khăn nhất định. Tuy nhiên, như Bác Hồ đã nói “ Dù khó
khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt, trên nền tảng
giáo dục chính trị và lãnh đạo tư tưởng tốt, phải phấn đấu nâng cao chất
lượng văn hoá và chuyên môn, nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do
cách mạng nước ta đề ra và trong thời gian không xa đạt những đỉnh cao
của khoa học và kỹ thuật” (Trích “ Thư của Bác Hồ gửi ngành giáo dục
nhân dịp khai giảng năm học 1968 -1969”.
Dạy học là nhiệm vụ quan trọng của nhà trường phổ thông. Cụ thể,
nhiệm vụ vinh quang này được trao cho đội ngũ thầy cô giáo; nhưng để

Ngoài mức độ trên, chúng ta không thể đòi hỏi người giáo viên bộ
môn có trách nhiệm cao hơn được nữa. Nhất là trong hoàn cảnh ngành giáo
dục cả nước vừa mới thay đổi chương trình, sách giáo khoa, người thầy
giáo đang còn phải tận lực để tiếp cận, thâm nhập chương trình với khối
lượng kiến thức lớn để vận dụng tốt những phương pháp dạy học mới.
Giáo viên chủ nhiệm - người có vị trí quan trọng - trước hết là người
thay mặt Hiệu trưởng nhà trường triển khai cụ thể và đôn đốc học sinh thực
hiện các chủ trương hoạt động của trường; là người phối hợp trách nhiệm
của các giáo viên bộ môn dạy ở lớp; còn là người lãnh đạo, tổ chức và
hướng dẫn tất cả mọi hoạt động của lớp; là người làm cầu nối cho mối
quan hệ gia đình - nhà trường - xã hội; chính vì vậy nên công tác chủ
nhiệm được quy đổi tương đương một số tiết dạy nhất định. Do những đặc
điểm về vai trò đó, giáo viên chủ nhiệm luôn phải theo sát học sinh, nắm
bắt kịp thời những diễn biến tư tưởng, tâm lý các em để có thể giúp đỡ,
giáo dục các em kịp thời và có hiệu quả.
II .Tìm hiểu tình hình nghỉ, bỏ học của học sinh và các biện pháp ngăn
ngừa, vận động:
1. Đặc điểm tình hình của lớp:
Năm học 2011 – 2012 tôi được nhà trường giao chủ nhiệm lớp 8N,
một trong những lớp yếu nhất của trường. Theo tình hình ban đầu:
- Tổng số học sinh của lớp 42 em
- Hạnh kiểm:
 Tốt: 19 em
 Khá: 16 em
 Trung bình: 7 em
- Học tập:
5


 Giỏi: 5 em

Khối đoàn kết, tình thân ái giữa học sinh trong lớp không cao, niềm
vui của lứa tuổi học trò bị thiếu. Đây chưa phải là nguyên nhân chính,
nhưng nó chính là chất dính quan trọng để tạo nên sự gắn kết giữa các
thành viên trong lớp, giúp các em có thêm niềm vui để đến trường sinh
hoạt và học tập tốt hơn.
Sau khi tìm hiểu tình hình tư tưởng của lớp, và nắm được những yếu
tố tác động đến ý thức, tác phong học tập của các em cùng những đặc điểm

6


cụ thể của lớp, tôi đã đề ra những biện pháp phù hợp để thực hiện quá trình
giáo dục của mình.
2. Tổ chức hoạt động nắm tình hình và tư tưởng nghỉ học của học sinh.
a. Tìm hiểu hoàn cảnh của học sinh:

Vị trí vai trò của người giáo viên chủ nhiệm rõ ràng hết sức quan
trọng đối với chiều hướng duy trì sĩ số của một lớp. Để có thể đề ra những
giải pháp đúng đắn nhằm thực hiện trọn vẹn vai trò của mình, việc tìm hiểu
và nắm chính xác các thông tin về tình hình mọi mặt của lớp, nhất là vấn đề
bỏ học của học sinh là một công việc tốn nhiều công sức. Trong quá trình
tìm hiểu tình hình chung cần tập trung chú ý đến khả năng học tập và hoàn
cảnh gia đình của các em; đặc biệt lưu ý đến những em học sinh vốn đã học
yếu lại có hoàn cảnh gia đình khó khăn .
Để nắm tình hình về học sinh một các toàn diện, sâu sắc, tôi đã tiến
hành nhiều hoạt động.
Trước hết, tôi yêu cầu các em lập cho tôi một bản “sơ yếu lý lịch”
trích ngang. Nội dung của lý lịch ngắn gọn nhưng phản ánh đầy đủ các
thông tin về tình hình gia đình (nghề nghiệp của cha mẹ, số nhân khẩu
trong nhà…), quan hệ gia đình - xã hội (tôn giáo, diện chính sách xã

em thiếu sự quan tâm lo lắng của gia đình. Những phụ huynh của các em
này hầu như giao khoán việc học của con em họ cho nhà trường (em Mai,
Hà, Thái, Dung). Có em, dù còn ít tuổi nhưng ngoài các buổi đi học ở
trường còn phải tự làm việc để kiếm tiền lo cho việc học và phụ giúp gia
đình.
Thực hiện công tác điều tra nêu trên, đã giúp tôi có một bức tranh
tổng thể về lớp chủ nhiệm và những công việc mà tôi phải thực hiện trong
năm học. Sau đó, để hiểu về các em một cách rõ ràng và có tính chính xác
cao hơn tôi đã tìm gặp trao đổi với những người liên quan đến các em (giáo
viên chủ nhiệm năm học trước, một số giáo viên bộ môn có tâm huyết và
dạy môn học có số tiết được phân bố nhiều như Toán, Văn…; bạn cùng
xóm, cùng trường…). Ngoài ra, để tìm hiểu và đánh giá các em một cách
khách quan, chân thực hơn tôi còn phải để thời gian và tập trung chú ý
quan sát các em qua các hoạt động như lao động, sinh hoạt văn nghệ, kể cả
cách chơi đùa của các em trong giờ giải lao. Qua tìm hiểu tôi thấy c ó em
sống trong gia đình rất nghèo nhưng lại được sự quan tâm chu đáo của bố mẹ.
Có em sống trong gia đình rất sung túc nhưng bố mẹ lại thờ ơ đến việc giáo
dục con em. Có em phải làm việc nhiều hơn là học. Và cũng có em sống trong
hoàn cảnh hết sức đặc biệt như mồ côi, gia đình không hạnh phúc… và như
vậy cứ mỗi một hoàn cảnh đều liên quan đến đạo đức, học tập của các em từ
đó có nguy cơ dẫn đến các em bỏ học, vi phạm đạo đức hoặc giao du với
những phần tử xấu của xã hội.
Công việc cực kỳ quan trọng (không thể bỏ qua) tiếp theo là thăm
hỏi gia đình học sinh. Vì không thể bố trí đủ thời gian để đi đến tất cả mọi
gia đình của các em trong lớp, tôi phải ưu tiên chọn ra một số em để đi
thăm, ưu tiên số một là học sinh có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn,
cha mẹ làm nông hoặc làm các nghề tự do, buôn bán nhỏ lẻ ở chợ. Sau đó
là các em thuộc gia đình chính sách xã hội và các thành phần khác. Với
trình tự như thế, tôi bố trí lịch đến thăm vào các ngày chủ nhật hoặc các
ngày tôi rảnh rỗi. Có em tôi báo trước thời gian nhưng cũng có em tôi đi

Như chúng ta đã biết đối với học sinh ở lứa tuổi thiêu niên đã có những
biến đổi đáng kể về đời sống tâm lý, các em thích được làm người lớn, muốn
được người lớn tôn trọng và xác nhận việc làm của mình.Vì thế chúng ta phải
hết sức khéo léo và ứng xử phù hợp với lứa tuổi các em. Nếu không các em
dễ dàng bị tự ái hoặc bị tổn thương.
Trường hợp ở lớp có em Thịnh. Thịnh sinh ra trong một gia đình khá
giả và trí thức. Bố là kỹ sư cầu đường làm việc tại Hoàng Anh. Mẹ là y tá của
bệnh viện đa khoa thành phố. Bản thân em học giỏi nhưng thường hay cúp
giờ, đánh nhau, bỏ nhà đi. Tìm hiểu kỹ tôi được biết bố em là người rất
nguyên tắc và cứng nhắc. Mọi hoạt động của em được bố quản lý một cách
chặt chẽ, sáng đưa đi học, trưa đón về… Còn mẹ em là người đàn bà yếu đuối
quá nuông chiều con, chăm sóc cho em từng ly từng tý. Mỗi khi em yêu cầu
gì mẹ em đều đáp ứng: nào là mua cho xe đạp xịn, điện thoại di động... Khi
em vi phạm tôi gọi điện, có khi gặp trực tiếp trao đổi thì chị luôn tỏ ra bênh
vực con, cho con mình là ngoan và luôn giấu ba em về những sai phạm hay
những đòi hỏi quá đáng của em.
Trong một lần tâm sự, em đã thổ lộ với tôi, em nghĩ rằng bố em không
tin em, còn mẹ em cứ xem em như một đứa bé. Tôi biết em đã bị tổn thương
vì nghĩ bố không tin mình và tự ái vì không được làm người lớn. Tôi đã trao
đổi với gia đình nên thay đổi cách giáo dục em, nên động viên giúp đỡ em là
9


chính, không nên áp đặt con theo cách nghĩ của mình hoặc quá nuông chiều
con. Từ đó Thịnh đã dần dần thay đổi.

3. Các giải pháp thực hiện:
Việc xây dựng tập thể lớp vững mạnh, đoàn kết thân ái là vấn đề hết
sức cần thiết trong công tác của một giáo viên chủ nhiệm. Vì sống và sinh
hoạt trong tập thể tốt các em sẽ học được tinh thần làm chủ, tình nhân ái

không những đến bản thân em Thái mà còn có tác động phụ đến gia đình,
làm thay đổi dần suy nghĩ của cha em Thái.
Sự quan tâm giúp đỡ chu đáo và tận tình của ban cán sự lớp không
những đã giúp cho em Thái nhanh chóng khỏi bệnh mà còn có tác dụng
10


khác lớn hơn. Em Thái, sau khi đi học trở lại đã trở nên thân thiện, cởi mở
hơn với bạn bè trong lớp. Em vui vẻ, gần gũi và nghe lời góp ý của các
bạn, em mặc đồng phục gọn gàng khi đến trường. ý thức và thái độ học tập
của em tiến bộ rõ rệt.
Để đảm bảo hiệu quả vững chắc trong việc giúp em Thái không bỏ
học, cần có sự tác động phối hợp giúp đỡ của các bạn đồng nghiệp, những
thầy cô giáo dạy các bộ môn văn hóa trong lớp. Tôi trình bày hoàn cảnh
của em với những giáo viên có tâm huyết và đề nghị họ quan tâm giúp đỡ
em Thái. Tôi được sự đồng tình của các bạn đồng nghiệp. Em Thái được
động viên lên bảng giải những bài tập, trả lời những câu hỏi từ dễ đến khó.
Đạt được những điểm số khá cao tương ứng, em càng phấn khởi và ý thức
ham học càng được khơi gợi rõ hơn.
Sau khi em Thái đi học một thời gian, tôi lại đến thăm gia đình em,
gặp mẹ em và tôi nêu về tiến bộ trong việc học tập của em đồng thời thăm
dò thái độ, suy nghĩ của gia đình về việc học của em. Mẹ em hết sức vui
mừng, với tâm trạng phấn khởi, mẹ em bộc lộ với tôi: “Chúng tôi nghĩ
rằng, cháu nó học quá yếu, gia đình lại hết sức khó khăn, trước đây cha
cháu định xin phép nhà trường cho cháu nó nghỉ học đi phụ thợ hồ với bác
của cháu, kiếm thêm thu nhập đỡ gánh nặng cho gia đình. Vì cháu có học
nữa, chắc cũng không làm nên cơm cháo gì”. Sự vui mừng và lời tâm sự
chân tình của mẹ em đã giúp tôi khẳng định được hiệu quả của giải pháp
tôi thực hiện.
Biện pháp phối hợp với các lực lượng xã hội (Chi hội phụ huynh học

con thứ hai. Kinh tế khó khăn, mẹ bán rau ở chợ, cha làm thợ nề, thu nhập
của gia đình rất bấp bênh, vì vậy, mặc dù muốn con được học hành để có
được vốn văn hóa làm hành trang cho cuộc sống sau này, nhưng gia đình
bất lực, không đủ lo cho con. Trước tình hình đó, Ban chấp hành chi hội
quyết định tổ chức cuộc vận động quyên góp trong phạm vi các phụ huynh
của lớp. Số tiền quyên góp được tuy không nhiều nhưng cũng đủ mua cho
em Huệ 1 chiếc xe đạp cũ nhưng còn rất tốt và một số tiền để em mua sách
vở, dụng cụ học tập. Trở lại thăm nhà em Huệ lần thứ hai, với món quà đầy
ý nghĩa, Hội phụ huynh đã làm cho cha, mẹ em Huệ rất xúc động. Gia đình
em cảm kích trước hoạt động năng động và tấm lòng của Hội phụ huynh.
Việc làm này đã tiếp thêm sức mạnh cho họ và họ đã động viên em Huệ đi
học trở lại.
Sự tham gia của nhiều lực lượng, nhiều tiếng nói khác nhau kết hợp
với một sự giúp đỡ nhỏ và chân tình về vật chất của Hội đã tác động mạnh
đến tư tưởng, tình cảm và suy nghĩ của gia đình em Huệ. Việc em Huệ trở
lại trường học đã khẳng định điều này.
Biện pháp phát huy vai trò của cộng đồng: Đây là giải pháp khó thực
hiện nhưng sẽ phát huy hiệu quả tốt nếu vận dụng đúng trong bối cảnh cụ
thể, đặc biết đối với những vấn đề liên quan tới học sinh người dân tộc
thiểu số tại địa phương. Tập tục và luật tục của đồng bào các dân tộc thiểu
số ở Tây Nguyên nói chung, Gia Lai nói riêng từ trước đến nay vẫn luôn
tin tưởng và tôn trọng già làng. Uy tín và ảnh hưởng của già làng đối với
các thành viên trong làng rất lớn, xét về góc độ cộng đồng và xã hội thì
tiếng nói của họ có lúc còn có tác dụng mạnh hơn cả tiếng nói của chính
quyền địa phương. Hiểu rõ tập tục này, tôi hết sức quan tâm vận dụng nó
khi có những trường hợp học sinh người dân tộc thiểu số bỏ học.
Lớp tôi chủ nhiệm có 7 em học sinh người dân tộc JaRai. Các em
sống ở làng Plei Ngõ. Kết thúc học kỳ I của năm học, em Rơ Mah Khan
nghỉ học. Qua tìm hiểu, tôi được biết: Sở dĩ em nghỉ học vì kết quả học kỳ
I của em quá thấp, xếp loại học lực kém. Kiểm tra lại sơ yếu lý lịch trích

của em Khan.
Cũng qua nhiều năm làm công tác chủ nhiệm, tôi rút được kinh
nghiệm: Để hỗ trợ tốt cho giáo viên trong việc quản lý lớp nói chung, duy
trì sĩ số của lớp nói riêng thì việc có một Ban cán sự lớp năng động, tích
cực và học tốt, có uy tín là điều không thể thiếu được. Biết được điều này,
trong quá trình tổ chức bộ máy cán bộ lớp tôi hết sức quan tâm việc chọn
nhân sự và luôn theo dõi quá trình, cung cách làm việc của các em. Nhờ
xây dựng bộ máy cán bộ lớp tốt, các em đã giúp tôi thực hiện tốt nhiều
việc. Thực tế ở lớp tôi chủ nhiệm, có học sinh bỏ học vì những lý do tế nhị
mà em không bao giờ nói được với thầy cô giáo hoặc với cha mẹ. Những
vấn đề tế nhị đó chỉ được trao đổi hẹp trong nội bộ các em với nhau. Vì
vậy, qua các thành viên trong Ban cán sự lớp, tôi luôn tìm cách tìm hiểu,
nắm thông tin về hoàn cảnh, suy nghĩ của học sinh khi có em bỏ học, nghỉ
học. Trên cơ sở hiểu rõ nguyên nhân nghỉ học của các em, tôi mới có cách
13


xử lý phù hợp. Cụ thể, ở lớp tôi chủ nhiệm có em Mai, một học sinh nữ, có
hoàn cảnh gia đình khá khó khăn, học lực trung bình, hạnh kiểm tốt bỏ học
ngay sau khi sơ kết học kỳ I. Việc em Mai bỏ học nằm ngoài dự kiến của
tôi. Gia đình của em có khó khăn nhưng không phải quá khó đến mức phải
nghỉ học. Với lực học của em thì lý do em bỏ học chắc chắn không phải vì
học yếu. Tôi gọi em Đức, lớp trưởng và là một học sinh được bạn bè yêu
mến, tin cậy. Tôi bảo em tìm hiểu và cho tôi biết lý do em Mai bỏ học.
Bằng cách thăm dò các bạn trong lớp, em Đức báo cho tôi rõ: Mai bỏ học
vì gia đình khó khăn. Suốt cả học kỳ I, Mai đến trường chỉ với một bộ đồng
phục (quần xanh, áo trắng) duy nhất. Tôi dự đoán: Em Mai là một học sinh
nữ, tính tình hiền lành, ít nói, không đua đòi ăn diện nhưng ở lứa tuổi các
em, các em dễ buồn và mặc cảm với bạn bè trong cách ăn mặc nên đã bỏ
học.


huynh, Hội khuyến học, tập thể lớp, trao đổi với gia đình...). Tất cả đều
không hiệu quả. Em vẫn nghỉ học. Tại sao như thế?
Thực tế nêu trên làm cho tôi suy nghĩ rất nhiều để rồi đi đến khẳng
định: Em nghỉ học là điều không thể thay đổi, bởi vì, với độ tuổi của em,
các bạn cùng lứa đã ngồi học ở lớp 11 bậc THPT, nếu có tiếp tục học, em
cũng có khả năng tiếp tục lưu ban ở năm lớp 8 và khả năng này là rất lớn.
Tình hình kinh tế gia đình không cho phép em được lưu ban một lần nữa.
Qua phân tích, nhận định như thế, tôi quyết định dừng các cố gắng tác
động của mình, chấp nhận thất bại với lời động viên cuối cùng của tôi với
em: “Có nhiều con đường để bước vào đời, không học ở nhà trường phổ
thông, em có thể vừa đi làm giúp cha mẹ, vừa đi học ở các lớp bổ túc văn
hóa vào ban đêm để có vốn văn hóa trang bị cho đời sống sau này”. Em đã
thực hiện đúng như lời khuyên của tôi, ban ngày đi phụ thợ hồ, ban đêm đi
học bổ túc văn hóa.
Việc giúp đỡ, động viên em tiếp tục học ở nhà trường phổ thông đã
vượt quá khả năng của nhà trường và tầm của một giáo viên chủ nhiệm lớp
như tôi. Mặc dù đã thất bại trong việc ngăn chặn tình trạng bỏ học của em
Sơn nhưng tôi vẫn xin được nêu ra ở đây để các đồng nghiệp cùng suy nghĩ
và có thể có những giải pháp hiệu quả để thực hiện thành công.

15


PHẦN THỨ BA :
KẾT QUẢ VÀ VIỆC PHỔ BIẾN ỨNG DỤNG
NỘI DUNG VÀO THỰC TIỄN
I.KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
Qua một số biện pháp thực hiện như đã nêu trên tơi thu được kết quả
thực tế đáng phấn khởi: sau ba năm học làm cơng tác chủ nhiệm lớp, tơi đã


Yếu
TS
0

%

- Học lực:

số
42

Giỏi
TS
15

Khá
%
35,7

TS
13

%
31

Trung bình
TS
%
12

chuyển tiếp từ trẻ con sang người lớn. Thật sự hiểu sâu sắc và thông cảm
với những suy nghĩ, tâm tư của phụ huynh học sinh, nhất là đối với những
người ở trong gia cảnh mà kinh tế gặp khó khăn, điều kiện lo cho con ăn
học bị hạn chế. Đây là tiền đề và cũng là động lực thúc đẩy người thầy có
những suy nghĩ và giải pháp hoạt động đúng đắn để góp phần ngăn chặn
tình trạng bỏ học.
Từ tiền đề và động lực nêu trên, ngay từ những ngày đầu, khi nhận
trách nhiệm làm công tác chủ nhiệm, giáo viên phải thực sự quan tâm đến
vấn đề duy trì, đảm bảo sĩ số của lớp. Phải đặt mục tiêu duy trì, đảm bảo sĩ
số lớp ngang tầm với các mục tiêu giáo dục khác. Có kế hoạch thực hiện,
cùng những giải pháp được tính toán, cân nhắc, lựa chọn cẩn thận.
Thường xuyên quan tâm, theo dõi sĩ số của lớp, hết sức lưu ý đến
những đối tượng học sinh ở trong diện có khả năng bỏ học. Khi có học sinh
nghỉ học 2 ngày mà không có phép, không có lý do thì giáo viên chủ nhiệm
phải đến nhà học sinh này để tìm hiểu nguyên nhân từ đó vận động học
sinh và gia đình để em này tiếp tục đi học lại càng sớm càng tốt, không nên
để các em nghĩ học nhiều ngày vì nếu nghĩ lâu việc thuyết phục các em trở
lại trường sẽ gặp nhiều khó khăn. Phải làm cho các em thấy việc học vừa là
nghĩa vụ vừa là quyền lợi lại vừa là niền vui. Tuyệt đối tránh tình trạng để
các em nghỉ với thời gian quá lâu giáo viên mới xử lý nhằm hạn chế tư
tưởng e ngại và mặc cảm của các em.
Các giải pháp tuyên truyền, vận động học sinh (khi có học sinh bỏ
học) đi học trở lại, phải được suy nghĩ, chọn lựa thật thận trọng và tùy theo
nguyên nhân bỏ học, đặc điểm, hoàn cảnh cụ thể của từng em để có giải
pháp cụ thể. Khi học sinh đi học trở lại, giáo viên không chủ quan, cần có
những giải pháp hỗ trợ cần thiết giúp học sinh củng cố niềm tin, an tâm học
tập, vì có thể có tình trạng tái bỏ học. Nếu để hiện tượng tái bỏ học xảy ra
thì có lẽ sẽ không có biện pháp nào có thể làm cho học sinh đi học lại một
lần nữa.
Hãy giúp đỡ các em để các em tiếp thu được kiến thức một cách

làng, trưởng thôn…) là những lực lượng hết sức quan trọng. Giáo viên chủ
nhiệm không thể nào thực hiện được mục tiêu duy trì sĩ số nếu không thực
hiện được vai trò trung tâm của mình, không tạo được sự hỗ trợ tổng hợp
và tận tình của các lực lượng này.
III.KẾT LUẬN :
Việc duy trì sĩ số học sinh là nhiệm vụ quan trọng trong công tác dạy
và học của các nhà trường. Đặc biệt làm tốt công tác duy trì sĩ số học sinh
(đặc biệt là học sinh dân tộc) là góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của
nhà trường góp phần phổ cập giáo dục trung học cơ sở ở địa phương.
Từ thực tế tôi nhận thấy, duy trì sĩ số học sinh hơn hết đòi hỏi người
giáo viên phải có sự đam mê nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm cao, hết
lòng vì học sinh. Cảm nhận và chia sẻ với những tâm tư, nguyện vọng và
hoàn cảnh mà các em học sinh phải vượt qua. Người làm nghề dạy học như
18


chúng ta ngoài chữ “tâm” còn phải có chữ “nhẫn”. Dạy học sinh không
phải chỉ bằng những quy định hà khắc mà phải bằng sự thuyết phục, cảm
hóa , động viên, khích lệ. Muốn chinh phục học sinh có hiệu quả, bản thân
giáo viên phải là tấm gương sáng, mẫu mực trong từng lời ăn tiếng nói,
trong cách ứng xử với học sinh. Đối xử với học sinh phải công bằng khách
quan nhưng vẫn đảm bảo sự tế nhị cần thiết.
Đồng thời, giáo viên phải tạo được sự gần gũi, thân thiết với học
sinh, làm sao phải xoá bỏ được cảm giác e ngại của các em, có như thế thì
các em sẽ mạnh dạn bày tỏ những điều các em chưa biết hoặc biết chưa sâu
để từ đó giáo viên dễ dàng giúp các em tự giác học tập, yêu mến thích thú
khi được đến trường, “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”.
Để có một nền giáo dục phát triển không phải chỉ là nhiệm vụ và do
nhà trường quyết định mà còn phải có sự phối hợp chặt chẽ với các cấp
ngành và phụ huynh học sinh, của toàn xã hội. Giáo viên chủ nhiệm phải

PHẦN III: Kết quả và việc phổ biến ứng dụng nội dung
vào thực tiễn...............................................................................................16
I. Kết quả đạt được .................................................................................…16
II.Bài học kinh nghiệm………………….…………..……………………16
III. Kết luận ………………………………………………………….…...18

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status