MỤC LỤC
Trang
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài 1
II. Mục đích và phương pháp nghiên cứu 1
1. Mục đích 1
2. Phương pháp 2
III . Giới hạn của đề tài 2
IV . Kế hoạch thực hiện 2
B. PHẦN NỘI DUNG
I . Cơ sở lý luận 3
II. Cơ sở thực tiễn 4
III. Thực trạng và những mâu thuẫn 4
1.Thuận lợi……………………………………………………………………….4
2.Khó khăn……………………………………………………………………….4
IV . Các biện pháp giải quyết vấn đề 4
1. Xác định nguyên nhân, lập kế hoạch dạy học sinh yếu kém………………….4
2. Biện pháp dạy học bằng tình thương………………………………………….5
3. Biện pháp giao việc cho học sinh yếu kém 6
4. Biện pháp thư giãn (vui chơi) trong các tiết học 7
5. Tạo môi trường giáo dục tốt 8
6. Biện pháp tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp ………………………… 9
7. Phong trào “Giúp bạn vượt khó ”…………………………………………… 9
8. Phối hợp với phụ huynh học sinh …………………………………………….10
V . Hiệu quả áp dụng 11
C. KẾT LUẬN
I . Ý nghĩa của đề tài đối với công tác 13
II . Khả năng áp dụng 13
III . Bài học kinh nghiệm 13
Tài liệu tham khảo 15
A. PHẦN MỞ ĐẦU
2
- Tìm ra những nguyên nhân tại sao việc học sinh chán học và hiện tượng
học sinh có nguy cơ bỏ học vì học yếu vẫn còn.
- Đưa ra một số giải pháp trong việc đổi mới phương pháp giúp đỡ học sinh
yếu kém học tập có tiến bộ hơn, tạo môi trường học thân thiện gần gũi giúp học
sinh ham thích học tập, thích đi học nhiều hơn.
2. Phương pháp :
- Phương pháp lấy tư liệu.
- Phương pháp học mà chơi, chơi mà học.
- Phương pháp đàm thoạ.
- Phương pháp xử lý thông tin.
- Phương pháp thực nghiệm.
- Phương pháp cải tiến.
III. Giới hạn của đề tài:
- Học sinh khối 5 thuộc Trường Tiểu học An Thạnh 1. Đội ngũ thầy (cô)
cùng cô tổng phụ trách. Phụ huynh học sinh khối 5 của tường.
IV. Kế hoạch thực hiện:
- Chọn đề tài.
- Lập đề cương nghiên cứu.
- Đọc, thu thập đề tài, viết đề tài.
- Thu nhập thực tế.
- Hoàn thành sáng kiến.
3
B. PHẦN NỘI DUNG
I.C ơ s ở lý lu ậ n:
Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh tiểu học : Học sinh tiểu học lứa 6 đến
11 tuổi các em rất nghịch hiếu động, chưa làm chủ được bản thân, chưa nhận
thức được điều gì là đúng và điều gì là sai, hay bắt chước và chịu tác động của
mọi việc xảy ra xung quanh mình. Khả năng tiếp thu kiến thức nhanh hay chậm
thực tế như hoạt động giao lưu, tập thể và nhóm ; Qua sự tác động của môi
trường cơ sở vật chất như trường, lớp, qua thái độ của thầy cô, bạn bè. Do đó
trong nhà trường chúng ta phải tìm ra những giải pháp thích hợp để giáo dục đối
với từng đối tượng trẻ em, định hướng đúng đắn cho trẻ trong các hoạt động
giáo dục, dạy học và vui chơi của trẻ một cách phù hợp nhất, tạo một bầu không
khí, một môi trường thật thân thiện để mỗi học sinh thấy vui thích và trông đợi
được đến trường. Xem trường lớp như ngôi nhà thứ hai của mình. Chúng ta
không thể áp dụng cách thức giáo dục giống như THCS hay THPT cho học sinh
tiểu học. Trong mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của học sinh chúng ta cũng
không thể áp dụng một cách cứng nhắc, dập khuôn hình mẫu phát triển của học
sinh trong giai đoạn đó mà còn tuỳ thuộc vào tố chất, năng lực, thể lực của học
sinh đó cũng như những tác động của gia đình và xã hội của mỗi một cá nhân
học sinh mà ta có những cách thức giáo dục thích hợp nhất cho chúng để chúng
có thể phát triển một cách hài hoà trong học tập, nhận thức và hành vi khi chúng
tham gia vào các mối quan hệ với cộng đồng xã hội trong tương lai.
III. Thực trạng và những mâu thuẫn:
1.Thuận lợi:
- Đa số các em đều ngoan hiền, ham học và viết chữ rõ ràng, sạch sẽ.
- Học sinh có đầy đủ sách vở và đồ dùng học tập.
- Ban giám hiệu quan tâm sâu sát về cơ sở vật chất, trang bị đầy đủ thiết bị
dạy học phù hợp cho lớp.
2.Khó khăn:
- Một số em lười biếng, không thích học.
5
- Vài em học yếu, không chịu đến trường học phụ đạo.
- Một vài em cha mẹ nghèo, mồ côi cha mẹ, thiếu quan tâm, không người
đôn đốc, chăm sóc học tập.
- Gia đình không quan tâm, giáo dục cho các em thấy được lợi ích của việc đi
học và đi học đều.
IV. Các biện pháp giải quyết vấn đề :
phạm mẫu mực, gần gũi, ân cần với học sinh. Tôn trọng và đối xử công bằng với
học sinh.
Trong giảng dạy giáo viên lưu ý lời nói phải nhẹ nhàng, giữa giáo viên và
học sinh luôn có sự ăn ý nhịp nhàng, khi giảng bài giáo viên phải luôn quan sát
học sinh trong lớp, đặc biệt những em học yếu hay nghịch ngợm. Mỗi lần học
sinh có ý kiến nếu trả lời sai thì phải giúp học sinh hiểu cái sai, không nên để
cho học sinh ngồi xuống mà không biết mình sai điểm nào, đừng để học sinh bị
mất mặt trước mặt bạn bè, làm trò cười cho lớp học. Không sử dụng thước làm
công cụ đánh đập học sinh, sử dụng thước nhẹ nhàng tránh việc gõ thước quá
mạnh làm học sinh giật mình. Biết động viên, khích lệ học sinh dù các em chưa
thật sự tiến bộ hay tiến bộ rất chậm. Giáo viên biết sử dụng năng khiếu của mình
làm tiết học thêm sinh động. Ví dụ: Tìm những câu truyện vui kể cho các em,
hay pha một vài câu hài hước để học sinh cảm thấy thoải mái Một tiết học mà
học sinh hoạt động vui vẻ, có tiếng cười sẽ có hiệu quả hơn những tiết học mà
học sinh quá nghiêm túc.
Để các em yếu mạnh dạn hơn thì giáo viên phải biết yêu thương, gần gũi, tạo
sự thân tình để các em hòa đồng vào môi trường học tập ở trường lớp. Để từ đó
các em có ấn tượng tốt với trường lớp, thầy cô mà ham thích học tập.
Giáo viên phải biết gần gũi tâm sự, với trò chuyện với những học sinh yếu
đặc biệt những em nhút nhát. Hỏi các em về chuyện gia đình, về chuyện học
hành, để các em cảm thấy thân thiện với giáo viên hơn và qua đó giáo viên sẽ
hiểu được nguyên nhân vì sao các em học yếu, hiểu về tâm tư tình cảm, hoàn
cảnh các em để có biện pháp dục tốt hơn.
Ví dụ : Nhà em ở đâu? Bố mẹ làm gì ? Hôm nay ai chở em đi học? Hôm nay
em có hiểu bài không? Có cần cô giúp gì không vv
7
Nhiều khi chỉ một câu nói, một cử chỉ của thầy cô mà thay đổi cả cuộc đời
các em. Làm cho các em thấy thầy cô luôn quan tâm đến mình, không ghét bỏ
mình và các em thêm gần gũi, yêu mến thầy cô, tự tin vào bản thân mình (Như
một lời khen hay một lời khuyến kích, động viên, một cử chỉ thân mật). Đối với
với sự tôn trọng đó, xứng đáng với nhiệm vụ được giao nên đã tự giác sửa mình
tốt hơn, cố gắng học tập tốt để các bạn, thầy cô tôn trọng mình hơn.
Trong giảng dạy ở lớp cũng vậy giáo viên cũng phải biết giao cho các em
học yếu bài tập ở lớp cũng như về nhà, (nhằm giúp các em lấy lại kiến thức đã
mất) lưu ý là ở mức độ vừa phải tránh ngay lúc đầu đưa ra một lượng kiến thức
quá lớn khiến các em thấy việc học quá nặng nề. Do đó giao bài về nhà cho các
em thì lần đầu bài tập nên ít và dễ sau đó nâng dần số lượng và độ khó lên. Khi
giao việc giáo viên phải biết được việc đó các em làm được không quá sức, và
phải kiểm tra thường xuyên việc thực hiện ở các em. Tránh các trường hợp học
sinh nhờ bố mẹ hay bạn bè làm giúp, phải khen ngợi khi em hoàn thành công
việc Tránh không kiểm tra công việc đã giao
4. Biện pháp thư giãn (vui chơi) trong các tiết học:
Trong học tập có rất nhiều môn học khô khan, nặng về kiến thức như toán,
tập làm văn, chính tả vv…Đối với học sinh thường không có hứng thú học
những môn này (trừ những em giỏi thì ham học vì có điểm cao). Như vậy để tạo
được sự hứng thú, ham thích việc học ở học sinh yếu giáo viên cần tăng cường
các trò chơi, hình thức học tập sinh động trong tiết học. Khi tổ chức một trò chơi
thì học sinh yếu sẽ tham gia hết mình và qua trò chơi giáo viên giúp học sinh
nắm được kiến thức, hiểu được bài hơn. Ngoài các trò chơi giáo viên cần tổ chức
các hình thức học tập sinh động khác để giúp học sinh yếu có hứng thú trong
học tập như đóng kịch, phỏng vấn… Trong các tiết ôn, tiết rèn giáo viên đều
phải tổ chức giờ học sinh động, vui tươi như vậy mới mang được hiệu quả cao.
Nhiều hình thức học tập sinh động khi tổ chức không nên cầu kì quá dẫn đến
mất thời gian, tốn kém… giáo viên nên chọn các hình thức học tập đơn giản
nhưng mang hiệu quả cao…
Trong thời gian chuyển tiết giữa các môn học giáo viên cần phải dành từ 5-7
phút cho học sinh vui chơi (chơi trò chơi, múa hát, kể chuyện, đóng kịch, thi
đố…). Để tạo cho học sinh những giây phút thư giãn giữa các tiết học, tạo cho
các em sự hưng phấn, thoải mái trở lại sau giờ học căng thẳng…
9
10
Giáo dục riêng đối với những trường hợp học sinh trốn học, nghỉ học không
phép, hay liên tục nghỉ học nhiều ngày và báo về để gia đình kịp thời nắm rõ có
biện pháp kết hợp với nhà trường quản lý các em.
6. Biện pháp tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp :
Để giúp đỡ học sinh yếu kém ngoài các tiết học chính khóa, giáo viên cần
thông qua các tiết hoạt động ngoài giờ lên lớp. Như tiết sinh hoạt lớp các hoạt
động ngoài trời…
Trong tiết sinh hoạt lớp giáo viên có thể tổ chức tuyên dương các em học
yếu (dù đó là những tiến bộ nhỏ nhất) nhằm làm cho các em có thêm hứng thú
trong học tập và để cho các em thấy mọi nổ lực các em luôn được giáo viên và
bạn bè đánh giá cao.
Giáo viên chủ nhiệm cần phối hợp với tổng phụ trách đội tổ chức các hội thi
giữa các lớp để giúp các em lấy lại kiến thức… Chú ý nội dung thi chỉ dành cho
học sinh yếu và câu hỏi đơn giản các em có thể trả lời được. Tránh các cuộc thi
chỉ có các em giỏi tham gia. VD : Như thi về kiến thức tiểu học, an toàn giao
thông, phòng tránh bệnh tật… Qua cuộc thi giúp các em ôn lại kiến thức và giúp
cho các em yếu ham học hơn. Phối hợp với tổng phụ trách tuyên dương các em
yếu kém có tiến bộ qua buổi chào cờ…
Hoặc giáo viên có thể tổ chức cho lớp mình hoạt động đọc lập. Giáo viên có
thể soạn một số câu hỏi (Nội dung câu hỏi là các kiến thức các em chưa nắm
bắt được) giao cho các em yếu đại diện cho các tổ về học và tìm hiểu để hôm
sau lên thi…Và khi nhận trách nhiệm này các em yếu sẽ cố gắng học để và tìm
hiểu để hôm sau lên thi đua với các bạn. Một khi có hình thức thi đua trong các
hoạt động sẽ luôn kích thích các em cố gắng và làm những việc hàng ngày các
em không làm được… VD: trong lớp 3 một số em chưa thuộc bảng nhân, giáo
viên giao cho các em đó về học để hôm sau thi với các tổ khác. Tất nhiên khi
được giao các em đó sẽ cố gắng về học để thi được tốt hơn…
7. Phong trào “Giúp bạn vượt khó ”:
Trong lớp có một vài em học sinh vì hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, thiếu
8. Phối hợp với phụ huynh học sinh:
Học sinh học giỏi hay yếu trước hết phụ thuộc vào rất nhiều từ phía gia đình,
gia đình thiếu sự quan tâm trong việc giáo dục, chăm lo việc học hành của con
em mình. Thêm vào đó, những tác động xấu của môi trường xã hội đã lôi kéo
12
các em như ham chơi, đua đòi, nghe bạn bè xấu rủ rê, dẫn đến lơ là việc học
hành, không có kiến thức căn bản gây nên chán nản, bỏ học. Một gia đình êm
ấm, hòa thuận, cha mẹ biết chăm lo cho con cái, tạo điều kiện thuận lợi để con
em học hành, biết giáo dục con ích lợi của việc học thì học sinh sẽ học tốt hơn.
Ví dụ: Một học sinh làm hư viết, không có viết đến trường, học sinh đó sẽ sợ đi
học vì không có viết không chép bài, làm bài được, có thể sợ thầy, cô phạt. Nếu
cha mẹ kịp thời mua viết cho con, yêu cầu con cẩn thận hơn thì học sinh đó sẽ
vui vẻ đi học. Nếu bố mẹ la mắng hoặc không mua viết thì sẽ làm cho em đó đi
học với tâm trạng lo sợ thầy cô la và có thể trốn học. Từ đó trở thành học sinh
yếu kém
Vậy nhà trường cần biết phối hợp với phụ huynh trong việc tạo sự ham thích
cho học sinh khi đến trường. Hiện nay một số phụ huynh không biết cách giáo
dục con cái, thường đánh đập, la mắng khi con em mình mắc phải một lỗi lầm
nào đó ở trường lớp (như bị điểm kém, đánh nhau với bạn), làm cho các em sợ
sệt, ức chế khả năng học tập, lao động ở các em, giảm đi niềm ham thích học
tập. Do đó giáo viên chủ nhiệm cần trao đổi, hướng dẫn phụ huynh nên tạo điều
kiện tốt để cho để con em mình đến trường (bảo đảm thời gian đến trường, sắm
dụng cụ học tập, giúp con học ở nhà, cùng vui chơi học tập với con em mình,
nhắc nhở con cái giờ học…), khi giáo dục con em nên nhẹ nhàng, cần cho các
em hiểu việc đó đúng sai thay vì la mắng trừng phạt.
Việc quan tâm đến bạn bè của con em cũng rất quan trọng. Chơi với bạn xấu
trước sau gì các em cũng nhiễm thói xấu. Phụ huynh chú ý đến những thời gian
rảnh rỗi của con em mình, cần biết các em đi đâu, chơi chỗ nào. Đừng cho các
em quá nhiều thời gian tự do một mình mà cha mẹ không biết. Cần liên lạc với
giáo viên để biết tình hình của con em mình, như có đến trường không? Có đi
biện pháp đã trình bày ở trên.
II. Khả năng áp dụng:
Với đề tài này ta có thể áp dụng cho tất cả các khối lớp học sinh bậc tiểu học.
Tôi tin rằng những phương pháp đã thực hiện trong hiện tại và tương lai tỉ lệ
duy trì sĩ số của Trường Tiểu học An Thạnh 1 ngày càng được nâng cao.
III. Bài học kinh nghiệm, hướng phát triển:
Muốn duy trì sĩ số, giáo viên chủ nhiệm cần phải :
- Phải nhiệt tình, năng nổ, phải luôn tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để cải
tiến phương pháp giảng dạy lôi cuốn học sinh, được sự tin tưởng của phụ huynh
học sinh.
- Phải kết hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, với Đoàn thể, với địa phương,
tạo những điều kiện , môi trường giáo dục tốt.
- Phải tạo sự đoàn kết, yêu thương giúp đỡ của học sinh trong lớp qua các
phong trào. Tạo cho các em động cơ ham học, trong việc uốn nắn các em, giáo
viên chủ nhiệm phải luôn giữ thái độ bình tĩnh, không nóng vội, không dùng lời
lẽ nặng nề với các em, hòa hợp với các em, xem học sinh là con đẻ của mình,
chia sẻ vui buồn, cùng lắng nghe ý kiến học sinh để có biện pháp giáo dục phù
hợp .
- Học sinh lớp 5 trong độ tuổi biết tự ái, giận hờn, thích đựơc động viên khen
thưởng, giáo viên không nên dùng hình phạt, đánh mắng làm cho các em sợ sệt
không ham thích đến lớp, phải tạo cho các em một niềm tin để các em an tâm
học tập và xem giáo viên chủ nhiệm là người tin cậy.
- Nên tổ chức vui chơi tập thể trong các giờ ra chơi, giờ sinh hoạt lớp để tạo
sự gắn bó thương yêu trong học sinh và giáo viên. Trong chương trình giảng dạy
nên tổ chức những buổi vui học, học vui dưới hình thức ôn tập.
15
Việc chuyên cần học tập cuả học sinh đã quyết định sự tiến bộ của các em,
hơn nữa các em học sinh lớp 5, nếu để các em nghỉ học một hai lần với lý do
không cần thiết lắm thì các em sẽ thích nghỉ học đi chơi hơn là đến lớp bởi nhiều
lý do: Sợ bị phạt, sợ bị chế giễu. Giáo viên nên giải thích tai hại của việc đi học