Sáng kiến kinh nghiệm một vài kinh nghiệm sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học môn hình học lớp 9 - Pdf 42

MỘT VÀI KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ TRONG DẠY HỌC
MÔN HÌNH HỌC LỚP 9
hỗ trợ học sinh học toán hình thông qua một số ứng dụng công nghệ
thông tin
PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN :
Hiện nay một trong những trọng tâm của việc đổi mới chương trình
và thay sách giáo khoa là đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường ứng dụng
công nghệ thông tin vào việc dạy học. Thực hiện dạy học phát huy tính tích
cực, chủ động sáng tạo của học sinh dưới sự hướng dẫn đúng mức của của
giáo viên nhằm hình thành nhu cầu tự học, tạo hứng thú và niềm tin trong
học tập của học sinh đang là sự quan tâm hàng đầu của các nhà giáo dục.
Năm học 2010 - 2011 là năm học với chủ đề : “tiếp tục đổi mới quản lý,
nâng cao chất lượng giáo dục". tiếp tục thực hiện phong trào “Xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Thực hiện Chỉ thị số 55/2008/CTBGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GDĐT về tăng cường giảng dạy,
đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn
2008-2012.
Trên tinh thần nội dung đó Sở GD-ĐT Gia Lai đã chỉ đạo và tổ chức
hướng dẫn cho giáo viên các môn học triển khai việc tích hợp, lồng ghép, ứng
dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào quá trình dạy các môn học của mình.
Cụ thể là : Giáo viên (Gv) bộ môn cần tự khai thác, trực tiếp thiết kế giáo án,
sử dụng các phần mềm dạy học phù hợp với nội dung và phương pháp bộ của
môn .
Đổi mới phương pháp giáo dục nhằm tích cực hoá quá trình học tập của
học sinh; để thực hiện được điều này, ngoài sự nghiên cứu về phương pháp
truyền giảng, phương pháp tổ chức lớp học thì giáo viên còn phải nghiên cứu
sử dụng các thiết bị công nghệ, các phần mềm hỗ trợ dạy học để ứng dụng.
CNTT trong trường học được đẩy mạnh ứng dụng trong nhiều năm qua đã
từng bước nâng cao chất lượng dạy học, tích cực thực hiện đổi mới phương
pháp giáo dục.

II.CƠ SỞ THỰC TIỄN :
1.Kết quả khảo sát học sinh khi chưa áp dụng CNTT:
Thời gian trước đây mặc dù đã sử dụng nhiều phương pháp và phương
tiện trong dạy học bộ môn toán nhưng kết quả cho thấy học sinh muốn học bộ
môn toán không nhiều vì đây là bộ môn “khô khan”, đòi hỏi học sinh phải tư
duy nhiều, qua khảo sát 350 học sinh lớp 9 của trường …, kết quả như sau:
- 55% 193/350 học sinh thích học toán hình.
- 25% 85/350 học sinh thích môn toán nhưng không muốn học.
- 20% 72/350 học sinh không chú ý trong bài dạy môn toán hình.
2. Sự cần thiết của ứng dụng CNTT trong dạy học, thực hiện đổi mới
phương pháp giáo dục:
a.CNTT trong dạy học :
Học là một quá trình thu nhận thông tin; dạy là phát thông tin và giúp
người học thực hiện quá trình trên một cách có hiệu quả, nếu nội dung bài chỉ
truyền tới người học bằng văn bản thì người học có thể sẽ kém hứng thú. Nhờ
sự phát triển của khoa học kỹ thuật, quá trình dạy học có thể sử dụng các
phương tiện dạy học sau:
- Đèn chiếu Overhead,Video, projector.
- Phần mềm dạy học, sử dụng Internet.
Ở đây tôi đã ứng dụng projector trong bài giảng, dạy học với phương
tiện tôi thấy có các ưu thế sau:
- Giáo viên chuẩn bị một lần mà được sử dụng để giảng dạy nhiều lần.
- Các projector dạy học thay thế giáo viên thực hành, tăng tính năng động cho
người học.
2


- Giáo viên trình bày bài giảng sinh động, dễ dàng cập nhật thích nghi với sự
thay đổi nhanh chóng của khoa học hiện đại.
- Phương tiện hỗ trợ làm tăng thêm hiệu quả đối với những bài giảng khó,

mạnh ứng dụng CNTT trong dạy học với tất cả các môn học, dần dần chất
lượng giờ dạy được nâng cao, học sinh hứng thú hơn với môn học và bước
dầu đã đạt được những kết quả nhất định.
Với môn toán, khi được học và thực hành bằng những thiết bị công
nghệ và các phần mềm được ứng dụng, đa số các em đều rất thích thú và chất
lượng thực hành cũng cao hơn hẳn. Giờ học được tiến hành nhẹ nhàng hơn,
lôi cuốn hơn. Các em có năng khiếu thì việc tiếp thu kiến thức mới tốt hơn,
bài học trở nên đơn giản và chất lượng, các em chưa phát triển được năng
khiếu cũng tích cực hơn trong học tập. Đa số học sinh dần dần yêu thích môn
3


học hơn, việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy đã lôi cuốn các em, phương
pháp dạy học hiện đại đã được chứng minh qua kết quả cụ thể.
PHẦN II : THỰC TRẠNG
VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT
I.THỰC TRẠNG :
1. Thực trạng chung:
Trước tiên chúng ta phải nhìn nhận một thực tế là học sinh ngày càng
lười môn toán, tư duy toán học ngày càng kém cỏi, đặc biệt học sinh rất sợ
học hình học. Vì vậy số học sinh khá giỏi toán càng giảm đi để làm tăng thêm
số lượng lớn học sinh yếu toán. Điều này đã, đang và sẽ còn xảy ra mặc dù
Đảng và Nhà Nước đã đầu tư rất lớn cho giáo dục trong những năm qua. Theo
tôi, thực trạng trên xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:
- Một bộ phận cha mẹ học sinh bị cuốn vào vòng xoáy của cơ chế thị
trường, không quan tâm, quản lý đến việc học của con em mình. Bản thân học
sinh chưa ý thức được sự quan trọng của việc học, còn ham chơi hơn ham học
hoặc bị cám dỗ bởi nhiều trò chơi điện tử ngoài xã hội.
- Nội dung chương trình còn nặng so với thực tế học sinh vùng xã,
vùng khó khăn.

Tuy nhiên vẫn còn có một số vấn đề bất cập trong việc sử dụng bài
giảng điện tử của giáo viên như:
- Giáo viên chưa chú ý đến lựa chọn bài nào để sử dụng giáo án điện tử
để đạt kết quả học tập cao nhất, không phải là bài dạy nào cũng có thể sử
dụng giáo án điện tử.
- Trong một số tiết dạy, giáo viên chọn bài để dạy bài giảng điện tử
chưa phù hợp, hoặc còn quá lạm dụng dẫn đến bài dạy chỉ mang tính trình
chiếu, không phát huy được tính tích cực của học sinh và không rèn được kỹ
năng giải toán cho học sinh.
- Trong một số bài vì quá lạm dụng trong việc soạn giảng bằng bài
giảng điện tử nên việc phân bố thời gian không hợp lý giữa phần lý thuyết và
phần luyện tập (có nhiều trường hợp giáo viên đi quá nhanh phần nội dung
trọng tâm của bài mà dành nhiều thời gian cho các trò chơi sau tiết học), cụ
thể là phụ thuộc quá mức vào máy tính xách tay và máy chiếu.
- Trình độ vi tính của một số ít giáo viên còn hạn chế, chưa tự mình
thiết kế được các bài giảng điện tử một cách khoa học và sáng tạo, chỉ coppy
hoặc lấy từ trên mạng Internet về để dạy, thiếu sự sáng tạo của giáo viên và
đôi khi không phù hợp với đối tượng học sinh của mình.
- Các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ còn thiếu nên khi soạn giáo án điện tử
chỉ ở mức độ đơn giản, hình ảnh âm thanh đôi khi chưa bảo đảm về chất
lượng, làm giảm tác dụng minh hoạ.
Bởi vậy trước đây, dư luận đã có nhiều ý kiến phê phán tình trạng thầy
đọc, trò chép là kiểu dạy máy móc, thụ động thì hiện nay lại xuất hiện tình
trạng mới là nhìn – chép (giáo viên ít khi nhìn vào học trò mà chủ yếu quay
mặt vào màn hình máy tính còn học sinh thì dán mắt vào màn chiếu để chép).
Nói tóm lại, cần tránh nhầm lẫn khái niệm giáo án điện tử là các bài
trình chiếu powerpoint hoặc các phần mềm khác. Cần xác định công nghệ
thông tin là phương tiện hỗ trợ, nhằm nâng cao chất lượng dạy học nên hiệu
quả của nó phụ thuộc chủ yếu vào cách thức sử dụng của giáo viên. Từ đó
giáo viên cần tránh lạm dụng công nghệ thông tin, gây phản tác dụng như

dây chuyền liên hệ giữa kiến thức cũ và mới, học sinh không chủ động tìm
tòi. Giống như tình trạng thầy đọc trò chép trước đây, học sinh thấy kiến thức
dàn trải, không cô đọng và sau khi học xong tìm hiểu thì các em nói cứ thuộc
lòng các công thức trên một cách máy móc mà không biết gắn kết chân lý đã
biết để xác lập chân lý mới. Dĩ nhiên là sau một thời gian ngắn, các em sẽ
quên hết các kiến thức này và chỉ nhớ những hình ảnh “bay lượn trên màn
hình” của bài học hôm đó.
III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT
1. Công tác chuẩn bị :
* Đối với giáo viên :
- Biết soạn giảng bằng bài giảng điện tử.
- Công tác chuẩn bị cho việc soạn bài giảng điện tử: Sưu tầm hình ảnh
minh hoạ, kiến thức bổ trợ.
- Thiết kế và lồng ghép các hình ảnh vào bài giảng cho phù hợp; kiến thức
bổ trợ phù hợp với đối tượng học sinh.
* Đối với học sinh :
- Hs tham gia tích cực cùng với giáo viên trong việc chuẩn bị bài .
- Cùng với giáo viên sưu tầm hình ảnh minh học cho bài học.
Nếu trước kia “Sử dụng bài giảng điện tử” trong tiết dạy giáo viên tiết
kiệm được thời gian, chỉ việc đưa những kiến thức liên quan đến bài giảng rồi
cho Hs nhìn chép, thì chẳng khác gì phương pháp dạy học giáo viên đọc, học
6


sinh chép sẽ không phát huy tính tích cực của các em sau mỗi giờ học. Vì vậy
phải đòi hỏi giáo viên khi chuẩn bị “ bài giảng điện tử ” phải đầu tư công phu,
kỹ lưỡng hơn.
Để phát huy tích cực của công nghệ thông tin vào dạy học đối với bài
“Diện tích hình tròn, hình quạt tròn ”giáo viên có thể áp dụng CNTT dưới
nhiều hình thức, ở đây tôi đưa ra hình thức sử dụng CNTT ở mức độ minh

hiện đại hơn như máy chiếu, đầu video, băng hình...Việc sử dụng các phương
tiện dạy học hiện đại kết hợp với phương tiện dạy học truyền thống đem lại
nhiều thuận lợi trong quá trình giảng dạy cho cả giáo viên và học sinh, đặc
biệt là đối với bộ môn hình học lớp 9.
2) Bài soạn minh họa
Bài “ Diện tích hình tròn, hình quạt tròn”
Bước 1 : Cho học sinh chuẩn bị ở nhà các yêu cầu sau đây :
7


1: Nắm chắc các công thức tính độ dài đường tròn, cung tròn.
2: Ôn lại công thức tính diện tích hình tròn đã học ở lớp dưới.
3: Tìm hiểu một số vật dụng trong thực tế có dạng hình quạt tròn.
Bước 2 : Giáo viên và học sinh thực hiện tại lớp.
Phần 1 . Kiểm tra bài cũ
Gọi Hs lên bảng thực hiện các yêu cầu sau :
Câu 1:Hãy nêu công thức tính độ dài đường tròn và công thức tính độ dài
cung tròn ?
Câu 2 :Cho hình vẽ hãy tính độ dài cung AmB với bán kính 6 cm ? m
Giải: Ta có ta có sđ ¼
AmB = ·AOB ( Đ/ n góc ở tâm )
B
A
0
0
0
¼
do đó sđ AmB =120 nên n = 120
120°
Độ dài cung AmB là: l ¼AmB =

= π58R2
tròn ta cần biết đại lượng nào ?
( S: diện tích hình
H : Vận dụng công thức hãy tính diện tích hình tròn bán kính R)
tròn biết bán kính đường tròn bằng 3 cm ?(S= π
R2= π 32 ≈ 9.3,14= 28,36 (cm2))
 Hs lên bảng thực hiện .
Gv : Cho Hs quan sát lại bài sửa trên đèn chiếu.
Gv : Như vậy từ công thức S = π R2 để tính diện
tích hình tròn ta cần biết bán kính của đường tròn
đó – Vậy nếu biết diện tích hình tròn ta có thể tính
được bán kính của hình tròn đó hay không ? *)
Lưu ý : Từ S = π R2 ⇒ R =

S
π

Trên cơ sở các em đã nắm được công thức tính
diện tích hình tròn bây giờ chúng ta cùng tìm hiểu
8


hình quạt tròn là hình như thế nào và cách tính diện 2 -Cách tính diện tích
tích của nó ra sao ta cùng sang mục 2
hình quạt tròn
Hoạt động 2: Cách tính diện tích hình quạt tròn
- Giáo viên chỉ vào hình vẽ từ phần kiểm tra bài cũ Hình quạt tròn : Sgk
( trên đèn chiếu )
A
R

S =

π R 2n
khi biết số đo độ cung và bán kính
360

πR 2 n
S=
(1)
360
lR
hay S = (2)
2

quạt. Vậy nếu chỉ biết độ dài cung và bán kính quạt
tròn thì liệu ta có tính được diện tích của quạt tròn
không ?
(l là độ dài cung n0
π R.n R
R
l.R
π R 2n
của hình quạt tròn)
× = l× =
Ta biến đổi S =
=
360

180


Giải : ta có sđ ¼
AmB = ·AOB ( Đ/ n góc ở tâm )
0
0
0
do đó sđ ¼
AmB =120 nên n = 120
Diện tích hình quạt tròn là:
π R 2 n π .62.120 3,14.36.120
S=
=

≈ 37, 68(cm 2 )
360
360
360

Ngoài cách tính này, chúng ta còn có cách làm
nào khác ?
( dùng công thức S =

l.R
)
2

Gv : Như vậy để tính diện tích hình quạt tròn ta
cần biết những yếu tố nào ? ( bán kính và số đo độ
cung hoặc độ dài cung và bán kính quạt tròn)
Vì vậy khi thực hiện tính toán các em cần biết vận
dụng linh hoạt các công thức đã học.

và R =
R
l

H :Tương tự từ công thức S =

3 . Luyện tập củng cố :
Gv : Cho Hs quan sát đống đá dăm trên màn hình.
Gv : Giới thiệu Chân đống đá dăm đổ trên một
nền nằm ngang là một hình tròn. Nêu một vài cách
để xác định diện tích của phần mặt bằng bị đống đá
chiếm chỗ ?
Gv gợi ý : Ta có cần dời đống đá đi để đo bán kính không ?
Hs hoạt động theo nhóm tìm cách để xác định diện tích của phần mặt bằng bị
đống đá chiếm chỗ .
Gv : Gọi Hs đại diện nhóm trình bày cách thực hiện.
10


Gv Hd :Để tính diện tích hình tròn ta cần biết đại lượng nào ? Vậy để tìm bán
kính R ta làm thế nào ?
1 - Đo chu vi đáy C suy ra bán kính đáy R , rồi từ C = 2 π R ⇒ R =
2 - Tính S từ công thức S = π R2
Hs áp dụng kiến thức vừa học làm bài 78.Sgk
Tóm tắt : C = 12 m
S=?

C



phục chúng bằng cách tính và điền vào ô trống trong bảng sau (Làm tròn kết
quả đến chữ số thập phân thứ nhất).
Bán kính
Độ dài
Diện tích
Số đo của
Diện tích
đường tròn đường tròn
hình
cung tròn
hình quạt
o
(R)
(C)
tròn(S)
(n )
tròn (Sq)
o
a)
13,2 cm
47,5
b)
2,5 cm
12,50 cm2
c)
37,8 cm2
10,60 cm2
Chia lớp thành 2 nhóm - Hs hoạt động theo nhóm làm bài tập trên
Gv: Yêu cầu đại diện nhóm nêu cách tính ?
Gv: Hd sửa sai - Sau đó yêu cầu Hs nhắc lại công thức tính diện tích hình tròn


20m

20m

B
20m

C

H: Hãy nhận xét về diện tích cỏ của mỗi con dê có thể ăn được trong cách
buộc thứ nhất? Diện tích cỏ có thể ăn được của con dê buộc ở A? Diện tích cỏ
có thể ăn được của con dê buộc ở B?
H:Từ đó suy ra diện tích cỏ của cả hai con dê có thể ăn được trong cách buộc
thứ nhất ?
Tương tự tính diện tích cỏ có thể ăn được của cả hai con dê trong cách buộc
thứ hai?
H : Vậy cách buộc nào diện tích cỏ có thể ăn được của hai con dê lớn hơn?
*) Chuyển biến của sự việc :
- Không khí lớp học rất sinh động, hoạt động của giáo viên và học sinh
trên lớp, diễn ra sôi nổi, liên tục. Hầu hết các em chú ý vào việc trả lời hệ
thống câu hỏi của giáo viên đặt ra. Có một số ít học sinh lơ là, không suy nghĩ
khi giáo viên đặt câu hỏi, nguyên nhân là không chuẩn bị trước ở nhà những
yêu cầu đã dặn dò ở tiết trước, bộ phận này nhỏ và giáo viên có thể khắc phục
dần.
- Học sinh nắm được nguồn gốc của vấn đề, hiểu được tại sao có được
công thức và tính chất đó. Từ đó khi xem và học bài lại ở nhà rất nhanh thuộc
và khó quên.
- Học sinh nắm được liên hệ dây chuyền trong hệ thống kiến thức của
bài, hiểu được một vấn đề có được là do những nguyên nhân nào. Dần dần

tài trong những năm học qua tôi đã thu được một số kết quả như sau :
-Học sinh hứng thú với môn học, không còn cảm thấy “sợ ” học hình
như trước nữa.
- Khắc sâu được nội dung trọng tâm của bài nhưng vẫn đảm bảo được
chuẩn kiến thức, kỹ năng của bài học, có nhiều điều kiện rèn kỹ năng cho học
sinh nhờ ứng dụng CNTT.
Thống kê kết quả khảo sát sau bài học.
Lớp TS
9/1
9/2

42
43

Điểm
Điểm
Điểm
Điểm
Điểm
Trên TB
Từ 0 đến Từ 3.25 Từ 5,0 Từ 6,25 Từ 8,0
TS
%
3,25
đến 4,75 đến 6,25 đến 7, 75 đến 10
5
11
16
10
37

giúp đỡ học sinh học lực yếu kém.
- Phải nhìn rõ được các nét điển hình trong dạy học toán. Bởi vì dạy
học toán là dạy hoạt động toán học, do đó giáo viên cần phải hiểu rõ: Dạy học
toán ứng dụng CNTT không phải là đưa hết tất cả các kiến thức, rót kiến thức
vào học sinh mà chủ yếu là quá trình giáo viên thiết kế, tổ chức, điều khiển
các hoạt động của học sinh theo chuẩn kiến thức kỹ năng của bài học, đặc biệt
phải biết kết hợp phương pháp dạy học hiện đại (qua việc ứng dụng CNTT)
và phương pháp truyền thống “phấn trắng bảng đen” không phải đưa tất cả
nội dung bài học lên màn hình trình chiếu.
- Cần chuẩn bị kỹ hệ thống bài tập và câu hỏi nhằm gieo tình huống,
hướng dẫn từng bước cách giải quyết vấn đề phù hợp từng loại đối tượng học
sinh.
- Nội dung bài dạy, kiến thức được đưa ra cần lựa chọn để ưu tiên cho
học sinh đại trà tương ứng với yêu cầu tối thiểu của bài học, bởi vì học sinh
đại trà thường chiếm đa số trong lớp học. Tuy nhiên vẫn phải có những bài
tập có yêu cầu cao hơn cho học sinh khá, giỏi giúp học sinh biết quá trình
sáng tạo trong việc vận dụng công thức hay định lí, định nghĩa, ... vào việc
giải toán. Từ đó học sinh có niềm tin vào khả năng toán học của mình. Ở sau
mỗi kiến thức đưa ra ngoài những kiến thức kĩ năng mà học sinh đạt được
giáo viên cần phải chú ý nhiều đến việc hình thành kĩ năng vận dụng kiến
thức đã học vào giải toán. Giáo viên phải biết khai thác để học sinh tự phát
hiện và giải quyết một cách chủ động sáng tạo các vấn đề có liên quan đến
mỗi dạng bài tập.
- Đối với tiết dạy bằng “bài giảng điện tử”, mỗi bài dạy, mỗi tiết dạy
đều có những nét chung, nét riêng cần chú ý, không tiết nào giống tiết nào nên
giáo viên không được vận dụng một phương pháp nào đó một cách máy móc.
Nội dung của tiết dạy bằng “bài giảng điện tử” cần được giáo viên lựa chọn
14



động, máy móc nhìn chép.
Học sinh lấy lại được niềm tin khi chính bản thân mình giải quyết được
một vấn đề dù là vấn đề nhỏ.
Nâng dần khả năng suy luận lôgic của học sinh. Biết giải thích một vấn
đề nhỏ từ những chân lý đã biết.
III. KẾT LUẬN :
Hiện nay sự nghiệp giáo dục – đào tạo của đất nước đang có những cơ
hội để phát triển. Chưa bao giờ sự quan tâm của Đảng và Nhà nước với giáo
dục lớn như bây giờ. Phó Thủ tướng, nguyên bộ trưởng Bộ GD & ĐT Nguyễn
Thiện Nhân cũng tha thiết căn dặn :“ Mỗi thầy cô giáo phải là một tấm
gương sáng về đạo đức, tấm gương sáng về tự học và sáng tạo”. Đó là những
luận điểm vô cùng quan trọng để mỗi thầy cô giáo vận dụng, phấn đấu, nhằm
15


mục đích cuối cùng là đào tạo cho đất nước những thế hệ công dân tốt nhất
vai trò của đôi ngũ nhà giáo được đề cao hơn bao giờ hết. Dạy học là một
nghề vinh quang, và vinh quang chỉ đến khi mỗi nhà giáo thực sự là tấm
gương sáng về đạo đức, bậc thầy thực sự về kiến thức đối với người đi học.
Ngành giáo dục thành phố Pleiku, trong những năm vừa qua, đã và
đang khởi sắc, hoà nhịp chung cùng sự đổi mới của giáo dục cả nước. Đầu tư
về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, quan tâm sâu sát đến đội ngũ giáo
viên, khơi dạy ý thức trách nhiệm, lòng nhiệt tình và nâng cao năng lực hành
động của đội ngũ các nhà giáo. Với quyết tâm đổi mới trong giáo dục, nhằm
đạt hiệu quả cao nhất.
Chính vì vậy, hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ giáo viên chúng ta cần phải
đầu tư hơn nữa đến công tác dạy học của mình. Làm thế nào để nâng cao chất
lượng giáo dục của đơn vị mình nói riêng, ngành giáo dục Pleiku nói chung.
Rất mong sự góp ý, giúp đỡ của quý thầy cô giáo, bạn đọc để đề tài này
thực sự hấp dẫn và có hiệu quả khi đến với các em học sinh.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status