1
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI
BÀI TẬP CÁ NHÂN
LUẬT SO SÁNH
Đề bài: Anh/chị hãy bình luận về cơ chế bảo hiến trong các hệ
thông pháp luật tại Pháp, Đức và Mỹ.
Họ và tên:
Phan Quốc Nghiệp
Mã số sinh viên:
1353801010057
Lớp:
K1B
Hà Nội, 2016
2
MỞ ĐẦU
Hiến pháp như đạo luật cơ bản, đạo luật tối cao của mỗi quốc gia
đòi hỏi sự bảo vệ đặc biệt về mặt pháp lý nhằm bảo đảm sự tuân thủ
hiến pháp, ngăn ngừa sự vi phạm hiến pháp của công dân và tổ chức
cũng như của các cơ quan quyền lực nhà nước. Trên nguyên tắc, bảo
vệ hiến pháp là nhiệm vụ và trách nhiệm của tất cả các cơ quan quyền
lực nhà nước và các quan chức có liên quan, được thực hiện thông qua
NỘI DUNG
I.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ BẢO HIẾN.
1. Khái niệm.
Hiến pháp như đạo luật cơ bản, đạo luật tối cao của mỗi quốc gia
đòi hỏi sự bảo vệ đặc biệt về mặt pháp lý nhằm bảo đảm sự tuân thủ
hiến pháp, ngăn ngừa sự vi phạm hiến pháp của công dân và tổ chức
cũng như của các cơ quan quyền lực nhà nước. Trên nguyên tắc, bảo
vệ hiến pháp là nhiệm vụ và trách nhiệm của tất cả các cơ quan quyền
lực nhà nước và các quan chức có liên quan, được thực hiện thông qua
việc áp dụng những phương tiện pháp lý khác nhau trong khuôn khổ
thẩm quyền của mình.
Để bảo vệ được hiến pháp của quốc gia cần phải có các cơ chế
bảo hiến. Vậy bảo hiến là gì? Theo sự tìm hiểu của tôi thì:
Hiện nay, ở các nước trên thế giới không có một khái niệm thống
nhất về cơ chế bảo vệ Hiến pháp. Ở Anh và Mỹ có một khái niệm là
“judical review” có thể tạm dịch là kiểm tra tư pháp và hiểu là thẩm quyền
của các tòa án của một quốc gia được xem xét và đánh giá tính hợp
hiến của các đạo luật hoặc quyết định của các cơ quan lập pháp, hành
pháp, tư pháp. Bản chất của khái niệm này là dùng để chỉ việc kiểm tra
của cơ quan tư pháp đối với tính hợp hiến của các đạo luật do cơ quan
lập pháp đưa ra. Khái niệm này tương đương với khái niệm “bảo hiến”
hay “kiểm hiến”.
Bảo hiến (bảo vệ hiến pháp) về ý nghĩa cốt lõi được hiểu là kiểm
soát tính hợp hiến của các đạo luật, là xem xét xem những đạo luật
được đưa ra có phù hợp với tinh thần và nội dung của Hiến pháp hay
thống pháp luật của Đức từ năm 1180 (về sau được đề cập trong Hiến
pháp Weimar). Ngoài ra, các hình thức sơ khai của bảo hiến cũng xuất
hiện ở một số nước châu Âu khác như ở Pháp (từ giữa thế kỷ XIII), Bồ
Đào Nha (từ thế kỷ XVII), Na Uy, Đan Mạch, Hy Lạp, Áo, Romania (thế
kỷ XIX). Mặc dù không có hiến pháp thành văn, nước Anh cũng được coi
là có đóng góp quan trọng vào sự phát triển của lý luận và pháp luật về
bảo hiến, vì từ thời trung cổ, người Anh đã khởi xướng ra thủ tục
impeachment (hạch tội để bãi miễn quan chức nhà nước), đồng thời từ
năm 1610 đã đề xướng nguyên tắc về tính tối thượng (supremacy) của
5
Hiến pháp và quyền của tòa án được xem xét tính hợp hiến của các hoạt
động của chính phủ - những điều mà sau đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ
đến việc thiết lập cơ chế bảo hiến ở Hoa Kỳ.
Ở Hoa Kỳ, vào cuối thế kỷ XVIII, tòa án đã ra một phán quyết
tuyên bố các luật của đế chế Anh không có hiệu lực trên lãnh thổ các
bang Bắc Mỹ. Tuy nhiên, phải đến năm 1803, trong vụ án nổi tiếng
Marbury kiện Madison, quyền bảo hiến của tòa án mới được xác lập một
cách chính thức ở Hoa Kỳ. Vụ Marbury kiện Madison cũng xác lập mô
hình bảo hiến kiểu Hoa Kỳ, do các tòa án thực hiện - một trong những
mô hình bảo hiến chính trên thế giới hiện được áp dụng ở nhiều quốc
gia.
Trong thời gian giữa hai cuộc Chiến tranh thế giới thứ I và thứ II
Giai đoạn này được gọi là “thời kỳ của nước Áo” (the Austrian
Period). Chịu ảnh hưởng từ tư tưởng của hai nhà luật học Adolf Merkl và
Hans Kelsen, Hiến pháp năm 1920 của Áo đã xác lập nền tảng của Tòa
án Hiến pháp nước này, với độc quyền xem xét tính hợp hiến của các
đạo luật. Mô hình tòa án hiến pháp chịu trách nhiệm về bảo hiến sau đó
được áp dụng ở nhiều quốc gia khác, đặc biệt là ở châu Âu, trở thành
Thượng viện bổ nhiệm 1/3, Chỉ tịch Hạ viện bổ nhiệm 1/3 với nhiệm kì 9
năm và các thành viên không ai được phép giữ chức vụ này quá một
nhiệm kì.
Ngoài 9 thành viên nói trên, các cựu tổng thống Pháp (nếu không
từ chối) đều là thành viên của Hội đồng bảo hiến.
Hội đồng Hiến pháp đảm bảo cho cuộc bầu cử Tổng thống được
tiến hành hợp lệ. Hội đồng Hiến pháp xem xét, giải quyết các khiếu nại
và công bố kết quả bầu cử. Trong trường hợp có khiếu nại, Hội đồng
bảo hiến có quyền xem xét về tính hợp lệ của cuộc bầu cử Hạ viện và
Thượng viện. Hội đồng Hiến pháp đảm bảo cho các hoạt động trưng cầu
ý kiến nhân dân được tiến hành hợp lệ và tuyên bố kết quả trưng cầu ý
kiến nhân dân. Các đạo luật về tổ chức, trước khi được được ban hành,
và các Quy chế hoạt động của Hạ viện và Thượng viện, trước khi được
áp dụng, phải trình lên Hội đồng bảo hiến để xem xét tính hợp hiến của
các văn bản đó.
Đối với các đạo luật khác, trước khi được ban hành, cũng có thể
được trình lên Hội đồng bảo hiến để xem xét tính hợp hiến khi có yêu
cầu của Tổng thống, Thủ tướng, Chủ tịch Hạ viện, Chủ tịch Thượng viện
7
hoặc 60 Hạ nghị sỹ hoặc 60 Thượng nghị sỹ. Trong các trường hợp nêu
trên, Hội đồng bảo hiến phải xem xét và cho ý kiến trong thời hạn một
tháng. Tuy nhiên, trong trường hợp khẩn cấp, theo yêu cầu của Chính
phủ, thời hạn này có thể rút lại còn 8 ngày. Cũng trong những trường
hợp trên, việc chuyển văn bản sang cho Hội đồng bảo hiến xem xét tính
hợp hiến sẽ tạm đình chỉ thời hạn ban hành văn bản. Quy định bị tuyên
bố không hợp hiến thì không được ban hành và áp dụng. Các quyết định
của Hội đồng bảo hiến không bị khiếu nại, kháng cáo, kháng nghị. Các
quyết định này có hiệu lực áp dụng bắt buộc đối với tất cả các cơ quan
viện Liên bang và một nửa do Thượng viện Liên bang bầu ra với đa số
tuyệt đối (hai phần ba số phiếu thuận). Thẩm phán Tòa án hiến pháp
phải là những người uyên thâm trong lĩnh vực pháp luật, 6 thẩm phán
được lựa trong số các thẩm phán của Toà án Liên bang, 10 thẩm phán
còn lại là những nhân vật ngoài 40 tuổi, hội đủ các điều kiện để được
chọn thành dân biểu Hạ viện, đã tốt nghiệp đại học chuyên ngành luật,
có khả năng chuyên môn cần thiết để hành nghề thẩm phán. Quyền hạn
và nhiệm vụ của các thẩm phán Toà án Bảo hiến Liên bang kéo dài 12
năm nhưng có thể ngắn hơn nếu đã đến tuổi nghỉ hưu. Các thẩm phán
Tòa án hiến pháp chỉ có thể giữ chức vụ của mình một nhiệm kì và
không được tái nhiệm.
Tòa án hiến pháp chia làm 6 Hội đồng xét xử, mỗi hội đồng gồm 3
thẩm phán, chịu trách nhiệm giải quyết phần lớn các khiếu kiện gồm hai
loại: Thứ nhất là các khiếu kiện của người dân về các bản án, quyết định
hay hành vi hành chính, trừ trường hợp khiếu kiện đó liên quan đến vấn
đề chưa từng được giải quyết trước đó hoặc khiếu kiện về tính hợp hiến
của văn bản luật; Thứ hai là các yêu cầu của các thẩm phán về kiểm tra
tính hợp hiến của một văn bản pháp luật cụ thể. Khi xem xét tính hợp
hiến của các đạo luật , Tòa án hiến pháp có thể tuyên bố đạo luật là vi
hiến và xóa bỏ đạo luật đó. Tòa án hiến pháp có thể xem xét tính hợp
hiến của các đạo luật ngay cả khi vấn đề về tính hợp hiến không nảy
sinh từ vụ việc cụ thể - giám sát trừu tượng.
Tòa án Hiến pháp cũng thuộc mô hình bảo hiến trừu tượng (có
nghĩa là việc xem xét các hành vi vi hiến không cần xuất phát từ một vụ
tranh chấp cụ thể nào). Ở các quốc gia theo mô hình này, Tòa án Hiến
pháp thường được trao quyền tự động phán quyết xem một đạo luật hay
quyết định của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp có vi phạm
9
có tính chất chung thẩm và có giá trị bắt buộc với mọi đối tượng. Với
những ưu điểm của một thiết chế bảo hiến tập trung và sức mạnh của
các phán quyết tư pháp, Tòa án Hiến pháp tỏ ra là một trong những thiết
chế bảo hiến hiệu quả nhất. Chính vì vậy nó được nhiều quốc gia trên
thế giới lựa chọn.
10
IV.
CƠ CHẾ BẢO HIẾN CỦA MỸ.
Hiến pháp Mỹ ban hành năm 1789 và được coi là đạo luật cơ bản
của quốc gia, vì vậy bất kể nguồn luật nào trên đất nước Mỹ, kể cả luật
của liên bang và bang đều không tái với nội dung của Hiến pháp như đã
được Tòa án tối cao Mỹ giải thích. Theo René David, Hiến pháp Mỹ
không chỉ là bản hiến chướng chính trị mà còn là văn kiện sáng lập quốc
gia, dựa trên ý tưởng của trường phái pháp luật tự nhiên và bản hiến
pháp đã đưa vào thực tiễn khái niệm về thỏa ước xã hội.
Hiến pháp Mỹ không chỉ thừa nhận chính phủ mới mà mục đích
lớn hơn là nhằm thành lập nên một nhà nước mới từ những nhà nươc
đã có chủ quyền, là những thành viên của nhà nước liên bang mới thành
lập nhưng chủ quyền của cá bang vẫn tiếp tực được tôn trọng mà còn là
những công cụ để thành lập, tổ chức và trao quyền cho các nhánh
quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Hiến pháp Mỹ trao quyền lập pháp cho Quốc hội, hành pháp cho
Tổng thống và tư pháp cho Tòa án tối cao Mỹ. Hiến pháp cũng cho phép
thảo luận tự do trong Quốc hội và giới hạn cách cư xử tùy tiện của các
nghị sĩ, quy định trình tự thủ tự của cơ quan lập pháp và quyền của các
cơ quan lập pháp. Quyền lập pháp được chi thành chính quyền liên ban
người ta hay nhắc đến vai trò của Toà án Tối cao Mỹ (với 9 thẩm phán
cao cấp do Tổng thống bổ nhiệm và Thượng nghị viện phê chuẩn với
nhiệm kỳ suốt đời) vì trong một vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án Liên
bang, hai bên bao giờ cũng đem việc tranh tụng ra trước cơ quan tư
pháp cao nhất, phán quyết chung thẩm do vị thẩm phán cao nhất đưa ra.
Toà án Mỹ chỉ có quyền tuyên bố đạo luật không hợp hiến sẽ
không được áp dụng trong vụ án cụ thể chứ không có quyền tuyên bố
huỷ bỏ đạo luật đó. “Chúng ta không có quyền nói như một số người cho
rằng nếu các vị Chánh án có quyền tuyên bố một đạo luật trái với tinh
thần Hiến pháp là một đạo luật vô hiệu lực, các vị Chánh án sẽ có quyền
quyết định theo ý nghĩ riêng của mình, thay thế quyết định do cơ quan
lập pháp ban hành bằng một quyết định dựa trên ý kiến riêng của họ” .
Như vậy về nguyên tắc, hiệu lực phán quyết của Toà án chỉ giới hạn
trong các vụ án cụ thể. Tuy nhiên có một nguyên tắc bổ sung cho sự
12
thiếu hụt hiệu lực toàn vẹn của các phán quyết hiến pháp là nguyên tắc
xác định việc giải thích Hiến pháp của Toà án Tối cao liên quan đến tất
cả các toà án cấp dưới. Mặc dù về nguyên tắc, Toà án không có quyền
huỷ bỏ một đạo luật bất hợp hiến, đạo luật đó vẫn tồn tại, nhưng việc
Toà án từ chối áp dụng một đạo luật bất hợp hiến trong trường hợp cụ
thể trên thực tế đã vô hiệu hoá đạo luật đó. Với truyền thống tôn trọng
án lệ, trong những trường hợp tương tự, nếu đương sự viện dẫn đạo
luật đã bị Toà án tuyên bố bất hợp hiến, Toà thụ lý vụ án sẽ từ chối áp
dụng nó.
Toà án Tối cao Mỹ chú trọng bảo vệ các quyền tự do và bình đẳng
của công dân thông qua việc kiểm tra tính hợp hiến của các phán quyết
của toà án (đặc biệt trong lĩnh vực hình sự), các quyết định hành chính
và các văn bản quy phạm pháp luật.
bị hủy bỏ) thì nó cũng không còn giá trị trên thực tế vì không được các
tòa án áp dụng nữa.
Một khía cạnh khác đó là, phán quyết kiểm hiến của tòa án chỉ có
giá trị đối với các bên tham gia vụ việc mà không có giá trị với các chủ
thể khác. Điều đó có thể dẫn đến sự không thống nhất trong hệ thống
pháp luật nếu không có truyền thống án lệ. Nói cách khác, truyền thống
án lệ có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc bảo đảm tính thống nhất
của hệ thống pháp luật trong trường hợp quyền bảo hiến được giao cho
các tòa án thường. Thêm vào đó, mô hình này đòi hỏi quốc gia phải có
cơ chế đào tạo và tuyển dụng thẩm phán tiên tiến để có thể bảo đảm
rằng đội ngũ thẩm phán có năng lực chuyên môn giỏi, đủ khả năng xử lý
các vụ việc kiểm hiến thường rất phức tạp.
14
KẾT LUẬN
Trên đây, là bài viết của tôi khi viết về cơ chế bảo hiến của ba quốc
gia Pháp, Đức và Mỹ, là ba đại diện cho ba mô hình bảo hiến thông qua
toà thẩm quyền chung với đỉnh là toà án tối cao, toà án hiến pháp, hội
đồng bảo hiến… phổ biến hiện nay trên thế giới của các quốc gia. Qua
đó, có thể giúp các bạn hiểu một các sơ lược về một số cơ chế bảo hiến
của các quốc gia và đặc biệt là của ba quốc gia trên.
Do thời gian làm việc cũng như trình độ chuyên môn còn hạn chế
nên bài viết của tôi không thể tránh hỏi các sai sót. Vật nên rất mong
thầy cô và các bạn góp ý bổ sung để bài viết của tôi được hoàn thiện
hơn,
Xin chân thành cảm ơn !
15