Trờng thpt chuyên Nguyễn tất thành yên bái
đỗ lê nam
đặc trng thi pháp
văn học trung đại Việt Nam
A. Tìm hiểu chung về thi pháp:
- Khái niệm: Thi pháp có hai cách hiểu. Thứ nhất, đó là các nguyên tắc, biện pháp chung để làm cho
một văn bản trở thành một tác phẩm nghệ thuật. Thứ hai, thi pháp là các nguyên tác, biện pháp nghệ
thuật cụ thể để tạo nên giá trị đặc sắc của một tác phẩm, tác giả, trào lu
B. Đặc trng thi pháp văn học trung đại Việt Nam
I. Hệ thống ớc lệ:
Hệ thống ớc lệ này có 3 tính chất:
- Tính uyên bác và cách điệu hoá cao độ
- Tính sùng cổ
- Tính phi ngã
1.Tìm hiểu chung về tính ớc lệ:
- Văn học nghệ thuật bao giờ cũng có tính ớc lệ nhất định. Bởi văn học nghệ thuật không hoàn toàn là
đời sống thực tại, không sao chép y nguyên hiện thực. Tuy trong văn học mọi thời kì đều sử dụng ớc lệ
nhng chỉ có thời kì trung đại ớc lệ mới đợc sử dụng một cách phổ biến, phức tạp và nghiêm ngặt nên đợc
coi là một đặc trng về mặt thi pháp.
- Ước lệ là một quy ớc của cộng đồng ngời. Họ đặt ra những biểu tợng riêng để thay thế cho các sự vật,
hiện tợng trong cuộc sống thực. Trong nghệ thuật đó là quy ớc chung của nghệ sĩ và độc giả. Ví dụ trong
nghệ thuật kịch, cái sân khấu 10m2 là ớc lệ cho toàn bộ hiện thực đợc phản ánh trong vở diễn. Hoặc
cách ớc lệ trong nhân vật và động tác:
Góc bể chân trời tam tứ bộ
Thiên binh vạn mã ngũ lục nhân.
- Vì sao văn học trung đại lại có tình ớc lệ. Vì xã hội phong kiến vốn phân chia đẳng cấp: cao thấp, sang
hèn (quí tiện). Sự phân biệt này ảnh hởng đến cả văn học. Trong văn chơng cũng phân chia thành bình
dân và bác học. Văn học trung đại thuộc lĩnh vực bác học, vì thế nó cần hệ thống ớc lệ để thể hiện sự
cao sang, quí phái.
2.Biểu hiện của tính ớc lệ:
a.Tính chất uyên bác và cách điệu hoá cao độ:
các tác giả đời trớc nh Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch C Dị.
Lặp lại hoặc mô phỏng văn chơng của ngời xa chẳng những không bị chê trách là đạo văn mà còn đợc
coi là tài ba, thành công. Còn những sáng tạo mới lạ, độc đáo thờng không đợc không đợc khuyến khích,
thậm chí bị coi là phi chính thống. Vì thế, các tác giả ngày trớc luôn cố gắng đa đợc các điển tích, điển
cố vào sáng tác.
c. Tính phi ngã:
- Thời pk ý thức cá nhân cha phát triển. Con ngời luôn đợc đặt trong quan hệ ràng buộc với cộng đồng,
họ hàng, tầng lớp. Chính vì thế, hôn nhân không phải là chuyện riêng t, tự nguyện của hai ngời mà là
vấn đề môn đăng hộ đối của hai gia đình, dòng họ. Ngời có văn hóa, giáo dục là ngời biết thu nhỏ, hạ
thấp cái tôi cá nhân của mình lại. Vì thế, trong văn học, yếu tố cá nhân cũng bị giấu đi, khiến văn ch ơng
có tính phi ngã: không có dấu ấn cái tôi cá nhân. Nhà văn hiếm khi xng tôi, xng ta, không bộc lộ trực
tiếp cảm xúc mà dùng lối gián tiếp: tả cảnh ngụ tình. Nói chung, họ thờng sử dụng các công thức có sẵn
để sáng tác chứ không sáng tạo ra cái mới. Tả anh hùng thì phải râu hùm, hàm én, vai năm tấc rộng,
thân mời thớc cao, tả mĩ nhân thì làn thu thuỷ nét xuân sơn, hoa ghen, liễu hờn
* Nói chung tính uyên bác, tính cách điệu hoá, sùng cổ và phi ngã có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và
đều là biểu hiện cho tính ớc lệ của thi pháp văn học trung đại.
II.Thiên nhiên trong thơ văn trung đại:
1. Vai trò của thiên nhiên trong thơ văn trung đại:
- Trong văn chơng xa, thiên nhiên là yếu tố rất phổ biến và đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc
biểu lộ tình cảm, ý chí của con ngời. Ngời xa coi thiên nhiên là một ngời bạn để họ tâm tình, thổ lộ. Hồ
Chí Minh đã từng tổng kết điều đó trong bài Cảm tởng đọc Thiên gia thi:
Cổ thi thiên ái thiên nhiên mĩ
Sơn thuỷ yên hoa tuyết nguyệt phong
2. Đặc điểm của thiên nhiên trong văn học trung đại
- Thiên nhiên cha đợc nhìn nhận nh là một khách thể, một hiện thực khách quan của cuộc sống có vẻ
đẹp, giá trị riêng. Thiên nhiên thờng chỉ là công cụ, là t liệu, là cái cớ để nhà văn ngụ ý giáo huấn:
Xuân qua trăm hoa rụng
Xuân tới trăm hoa tơi
Trớc mắt việc đi mãi
Trên đầu, già đến rồi
Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi
Hơng âm vô cải mấn mao tồn
Nhi đồng tơng kiến bất tơng thức
Tá vẫn khách tòng hà xứ lai
(Hạ Tri Chơng)
Ngời xa quan niệm thời gian tuyến tính là thời gian của cuộc đời trần thế, phàm tục, chứa đầy
hình ảnh, màu sắc cụ thể; thời gian chu kỳ là thời gian của cõi trời, cõi tiên, thế giới thanh cao và bất tử,
thấm đẫm tính chất đạo lý, triết lý.
Thế sự du du nại lão hà
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỉ độ long tuyền đới nguyệt ma.
(Đặng Dung).
IV.Con ngời trong văn chơng trung đại
1.Con ngời vũ trụ:
- Ngời xa quan niệm con ngời là một phần của thế giới trong trục thiên - địa - nhân. Vì thế cá nhân đợc
thể hiện trong quan hệ với vũ trụ hơn là trong quan hệ với xã hội.
- Thi đề quen thuộc của thơ trữ tình là con ngời một mình đối diện, đàm tâm với thiên nhiên vũ trụ:
Tiền bất kiến cổ nhân
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên đại chi du du
Độc thờng nhiên nhi lệ hạ
(Trần Tử Ngang Đăng U Châu đài ca)
Ngời anh hùng đợc nhắc đến với tầm vóc sánh ngang vũ trụ:
Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu
Tam quân tì hổ khí thôn ngu
(Phạm Ngũ Lão)
Trí chủ hữu hoài phù địa trục
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
có.
- Chú ý đến con ngời xã hội hơn con ngời tự nhiên, chú ý đạo đức hơn trí tuệ và bản năng.
- Con ngời do Trời sinh và chịu sự chi phối của Trời về tính và mệnh
+ Tính: con ngời sinh ra vốn mang tính thiện, sẵn mầm mống nhân, nghĩa, lễ, trí. Nhng do hoàn cảnh mà
nhiều khi bị nhiễm tính ác vì thế cần phải tu thân để hoàn thiện.
+ Mệnh: giàu nghèo, sớng khổ, sống chết là do số Trời. Nhng con ngời phải tự chịu trách nhiệm về trí và
ngu, có đức và vô đức.
- Đọc bài Quan niệm của nhà nho về con ngời ở phần Tri thức đọc hiểu.