Header Page 1 of 126.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tiêm là một trong các biện pháp để đưa thuốc, chất dinh dưỡng vào cơ thể nhằm
mục đích chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh. Hàng năm, toàn thế giới có khoảng 16 tỷ
mũi tiêm. Trong đó, 90-95% số mũi tiêm nhằm mục đích điều trị và khoảng 5-10%
mũi tiêm dành cho dự phòng [18]. Trong điều trị, tiêm - truyền có vai trò rất quan
trọng, đặc biệt trong trường hợp người bệnh cấp cứu, người bệnh nặng. Tuy vậy, mũi
tiêm chỉ có thể đảm bảo mục đích điều trị nếu được kê đơn một cách phù hợp và được
thực hiện một cách an toàn.
“Tiêm an toàn (TAT) là mũi tiêm có sử dụng phương tiện tiêm vô khuẩn, phù
hợp với mục đích, không gây hại cho người được tiêm, không gây nguy cơ phơi nhiễm
cho người thực hiện tiêm và không gây chất thải nguy hại cho người khác”[17, 18, 30].
Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), tiêm không an toàn có thể gây ra những biến chứng
như: áp xe, teo cơ tại vị trí tiêm, choáng phản vệ và đặc biệt là nguy cơ lây truyền các
virus qua đường máu như virus viêm gan B, viêm gan C và HIV cho cả người bệnh,
nhân viên y tế và cộng đồng [31]. Thống kê năm 2000 của WHO cho thấy tiêm không
an toàn gây ra 32% số ca nhiễm HBV mới, 40% số ca nhiễm HCV mới và 5% số
nhiễm ca nhiễm HIV mới trên toàn cầu [18, 30].
Một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra thực trạng đáng báo động về TAT. Thống kê
cho thấy, có tới 70% số mũi tiêm được kê là không cần thiết và có thể được thay thế
bằng thuốc uống hoặc thuốc bôi [25]. WHO khẳng định, năm 2000, có tới 50% số mũi
tiêm ở các nước đang phát triển không an toàn. Tại Việt Nam, số liệu khảo soát cho
thấy 55% số nhân viên y tế còn chưa cập nhật thông tin về kiểm soát nhiễm khuẩn
trong tiêm. Nghiên cứu năm 2012 của Dương Khánh Vân tại 6 bệnh viện trung ương
và thành phố tại Hà Nội [14] cho thấy 46% số tai nạn thương tích do vật sắc nhọn xảy
ra trong quá trình tiêm, trong đó đa phần các tổn thương là xuyên thấu da. Chỉ có
khảng một nửa (55,2%) số cán bộ y tế sử dụng hộp đựng vật sắc nhọn đúng quy chuẩn
trong quá trình làm việc. Đáng chú ý, tỷ lệ dùng hai tay đóng nắp kim tiêm trước và
sau tiêm lần lượt là 14,5% và10,9%. Tác giả cũng khẳng định, tiêm là thực hành có
1
2
Footer Page 2 of 126.
Thang Long University Library
Header Page 3 of 126.
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN
1.1. KHÁI NIỆM VÀ CÁC LOẠI TIÊM.
1.1.1. Khái niệm.
Tiêm thuốc là đưa thuốc hoặc hóa chất qua da vào cơ thể nhằm phục vụ mục đích
tạo một tác dụng toàn thân để điều trị cho người bệnh.[2]
1.1.2. Các hình thức tiêm.
Thuốc có thể được đưa vào cơ thể bằng nhiều hình thức khác nhau như tiêm trong
da, dưới da, tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch hoặc một số đường khác cũng có thể được sử
dụng như tiêm vào động mạch, tiêm nội tủy, tiêm vào ổ khớp v.v…[2]
- Tiêm trong da: là tiêm thuốc vào dưới lớp thượng bì làm chậm sự hấp thụ của thuốc
vào cơ thể, thường áp dụng trong những trường hợp sau:
+ Thử phản ứng của cơ thể với thuốc.
+ Tiêm một số loại vắc xin phòng bệnh.
- Tiêm dưới da: là đưa thuốc vào mô liên kết dưới da, lượng thuốc (dịch) có thể đưa
vào nhiều tùy theo tình trạng bệnh lý và phương pháp điều trị. Mục đích làm chậm sự
hấp thụ của thuốc, duy trì tác dụng của thuốc lên cơ thể trong khoảng thời gian dài hơn
một số cách tiêm khác (ví dụ: tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch…)[2]
- Tiêm bắp: là đưa thuốc vào trong cơ (bắp thịt), thuốc được hấp thụ nhanh hơn đường
uống. …)[2]
- Tiêm tĩnh mạch: là đưa một lượng thuốc vào cơ thể qua đường tĩnh mạch. Cách tiêm
này giúp cho thuốc được hấp thụ nhanh, tác dụng toàn thân. …)[2]
trường xung quanh bệnh nhân có 14,6%(n=158) và chỉ có 4,6% (n=50) rửa tay sau khi
tiếp xúc với máu và dịch tiết do thái độ chủ quan nghĩ rằng mang găng nên không cần
rửa tay.
+ Chuẩn bị xe tiêm nhằm sử dụng dụng cụ, thuốc thích hợp, an toàn
Xe tiêm và dụng cụ cần được chuẩn bị theo đúng quy trình và đầy đủ. Cụ thể, xe
cần được lau sạch trước khi chuẩn bị dụng cụ và sau khi sử dụng. Trên xe có đầy đủ
dụng cụ phục vụ cho thủ thuật tiêm, bao gồm:
Bơm, kim tiêm vô khuẩn, kích cỡ phù hợp cho mỗi mũi tiêm.
Thuốc tiêm: Kiểm tra tên thuốc, hàm lượng, hạn sử dụng, chất lượng của
thuốc thông qua sự nguyên vẹn của lọ, ống thuốc và loại bỏ những ống
thuốc, lọ thuốc không đảm bảo chất lượng (vẩn đục, biến màu, quá hạn sử
dụng).
ng nước cất pha tiêm sử dụng một lần.
Bông cồn sát khuẩn da: nên dùng miếng bông cồn sử dụng một lần, sử
dụng cồn sát khuẩn da là cồn Isopropyl hoặc ethanol.
Dung dịch sát khuẩn tay nhanh.
4
Footer Page 4 of 126.
Thang Long University Library
Header Page 5 of 126.
Hộp chống sốc phản vệ
Phương tiện phòng hộ: khẩu trang, găng tay
Phương tiện đựng chất thải sắc nhọn
Header Page 6 of 126.
Dùng gạc bọc vào đầu ống thuốc trước khi bẻ để tránh mảnh vỡ rơi vào
ống thuốc, rơi ra sàn nhà, bắn vào người, đâm vào tay.
Khi bị phơi nhiễm do vật sắc nhọn, cần xử lý và khai báo ngay theo hướng
dẫn.
Phòng ngừa các vấn đề liên quan đến pháp luật xảy ra trong quá trình
tiêm Trước, trong, và sau tiêm, người tiêm phải đối mặt trước rất nhiều
vấn đề mà nếu không tự biết cách phòng tránh, khi có tai biến hoặc khiếu
nại xảy ra, người tiêm sẽ gặp nhiều khó khan trước pháp luật. Vì vậy, Bộ y
tế khuyến cáo người tiêm [4].
Thông báo, giải thích rõ cho người bệnh hoặc người nhà người bệnh trước
khi tiêm thuốc.
Kiểm tra chắc chắn y lệnh được ghi trong bệnh án.
Đánh giá tình trạng người bệnh trước, trong và sau khi tiêm.
Pha thuốc và lấy thuốc tiêm trước sự chứng kiến của người bệnh hoặc
người nhà người bệnh.
Giữ lại lọ/ống thuốc có ghi tên người bệnh đến hết ngày tiêm để làm vật
chứng (nếu cần).
Ghi phiếu chăm sóc: thuốc đã sử dụng, phản ứng của người bệnh, xử trí
chăm sóc trước, trong và sau khi tiêm thuốc.
Không gây nguy hại cho cộng đồng
Mũi tiêm tạo ra cả rác thải y tế và rác thải sinh hoạt. Các vật dụng sắc nhọn đã
nhiễm máu, dịch cơ thể của người bệnh là mối đe dọa đối với cộng đồng nếu không
được xử lý một cách phù hợp. Vì vậy, Bộ Y tế khuyến cáo người tiêm [4].
Tạo thành thói quen bỏ bơm, kim tiêm vào hộp kháng thủng ngay sau khi
tiêm.
Không để bơm kim tiêm đầy quá mức qui định, không để kim tiêm thò ra
miệng hộp kháng thủng: đậy nắp hộp kháng thủng khi bơm kim tiêm
chiếm đến 3/4 hộp.
múc nắp đặt trên một mặt phẳng rồi mới đậy nắp kim.
+ Không tháo rời kim tiêm ra khỏi bơm tiêm sau khi tiêm.
+ Bỏ bơm kim tiêm, kim truyền vào hộp kháng thủng ngay sau khi tiêm.
+ Không để vật sắc nhọn đầy quá 3/4 hộp kháng thủng. Đậy nắp và niêm phong
hộp kháng thủng để vận chuyển tới nơi an toàn.
+ Không mở hộp, không làm rỗng để sử dụng lại hộp kháng thủng sau khi đã đậy
nắp hoặc niêm phong hộp.
7
Footer Page 7 of 126.
Header Page 8 of 126.
- Xử lý sau phơi nhiễm
+ Phơi nhiễm có thể xảy ra qua tổn thương do kim tiêm và vật sắc nhọn hoặc dịch cơ
thể, máu bắn tỏe vào vết thương người lành. - Theo Hướng dẫn TAT của Bộ Y tế các
xử lý ban đầu sau tổn thương do vật sắc nhọn ở các nhân viên y tế hầu hết là nặn máu
(69,3-86,7%), sát khuẩn (66,7-90,4%) và rửa tay bằng xà phòng (58,3-95,6%). Tuy
nhiên, vẫn có những trường hợp không xử lý gì và tỷ lệ không báo cáo rất cao, chiếm
đến 51,4-87,7% các trường hợp[4].
Việc xử lý ban đầu đóng vai trò rất quan trọng trong việc phòng tránh lây nhiễm
bệnh sau phơi nhiễm. Các phơi nhiễm khác nhau có cách xử lý khác nhau. Bảng Sơ cứu
đối với vùng phơi nhiễm tóm tắt các cách xử lý theo khuyến cáo của Bộ y tế và tổ chức y
tế thế giới [15, 16].
8
Footer Page 8 of 126.
Thang Long University Library
3. KHÔNG cọ hoặc chà khu vực bị tổn thương
Bắn máu hoặc
dịch cơ thể lên mắt
1. Xả nước nhẹ nhưng thật kỹ dưới dòng
nước chảy hoặc nước muối 0,9% vô khuẩn
trong ít nhất 15 phút trong lúc mở mắt, lộn
nhẹ mi mắt.
2. Không dụi mắt
Bắn máu và/hoặc dịch cơ thể lên miệng
hoặc mũi
1. Nhổ khạc ngay máu hoặc dịch cơ thể và
xúc miệng bằng nước nhiều lần
2. Xỉ mũi và rửa sạch vùng bị ảnh hưởng
bằng nước hoặc nước muối 0,9% vô khuẩn.
3. KHÔNG sử dụng thuốc khử khuẩn
4. KHÔNG đánh răng
Bắn máu và/hoặc dịch cơ thể lên da
1. Rửa khu vực bị vấy máu hoặc dịch cơ thể
nguyên vẹn
ngay bằng xà phòng và nước dưới vòi nước
chảy
2. KHÔNG chà sát khu vực bị vấy máu
-
260 000 ca nhiễm HIV (chiếm 5% số ca nhiễm HIV mới).
Kết quả ước tính gánh nặng bệnh tật do tai nạn nghề nghiệp bởi vật sắc nhọn
[14]tỷ lệ mới mắc viêm gan virus B ở điều dưỡng là 65 ca/100.000 người/năm, tỷ lệ
mới mắc HIV ở điều dưỡng là 0,3 ca/100.000 người/năm.
Theo số liệu báo cáo năm 2002 của Cục Y tế Dự phòng và Phòng chống
HIV/AIDS thống kê trên 45/64 tỉnh, thành phố có tổng số 343 trường hợp tổn thương
nghề nghiệp có nguy cơ phơi nhiễm với HIV/AIDS ở nhân viên y tế trong đó tỷ lệ cao
nhất là Điều dưỡng là 45,2%.
Nhiễm khuẩn cũng có thể lây truyền sang nhân viên y tế khác và sang người bệnh
do nhiễm khuẩn chéo từ tay của nhân viên y tế, thuốc, thiết bị và dụng cụ y tế hoặc bề
mặt môi trường. Do đó, các kỹ thuật và quy trình tiêm an toàn góp phần bảo đảm an
toàn cho người bệnh cũng như nhân viênnhân viên y tế [20, 27].
10
Footer Page 10 of 126.
Thang Long University Library
Header Page 11 of 126.
1.4. THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH CỦA ĐIỀU DƢỠNG VỀ
TIÊM AN TOÀN TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƢỚC TRÊN THẾ GIỚI.
1.4.1. Thực trạng tiêm an toàn tại Việt Nam
Năm 2012, Phan Văn Tường, Trần Thị Minh Phượng và Bùi Thị Mỹ An [12] tiến
hành khảo sát thực trạng tiêm an toàn tại bệnh viên Đa khoa Hà Đông, Hà Nội. Kết quả
Header Page 12 of 126.
Tỷ lệ bị chấn thương ở nhóm có kiến thức về TAT so với nhóm không có kiến thức về
TAT thấp hơn 3,6 lần (p < 0,05). Không có sự liên quan nào giữa trình độ chuyên môn.
Số lượng mũi tiêm và kiến thức với thực hành TAT của các điều dưỡng viên.
Đoàn Thị Anh Lê và cộng sự tiến hành khảo sát tình hình TAT tại các bệnh viện
thực hành của trường đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy,
trong số 266 ĐD được hỏi, 23% tiêm trên 50 mũi/ngày làm việc (8 tiếng), 46% tiêm từ
30 đến 50 mũi/ngày và chỉ có 8% tiêm dưới 10 mũi/ngày làm việc. Hầu hết ĐD có
kiến thức tốt về kỹ thuật tiêm, tuy nhiên kiến thức về vô khuẩn trong tiêm còn nhiều
hạn chế. Về mặt thực hành, 80% điều dưỡng viên không làm sạch tay trước khi tiêm và
kiểm tra chất lượng, hạn dùng thuốc trước khi tiêm. 70% điều dưỡng rút thuốc chạm
tay vào vùng vô khuẩn, 56% lưu kim trên lọ thuốc sau khi rút. Trong tiêm, việc thực
hiện các quy định về giữ an toàn, quan sát người bệnh chỉ đạt mức trung bình và thấp.
Đáng chú ý, hơn một nửa (57%) số ĐD dùng tay đậy nắp kim sau khi tiêm và 47%
phân lập kim tiêm không đúng cách, 30% sử dụng dụng cụ chứa vật sắc nhọn không
đúng quy cách.
Theo một số khảo sát trước đây tại Việt Nam cho thấy sự hiểu biết về ý nghĩa
Tiêm an toàn của Điều dưỡng-Hộ sinh (ĐD-HS) là khá cao đạt 100%, gần 95% ĐD-HS
có hiểu biết về sự cần thiết phải rửa tay trong quy trình tiêm và xác định các nguyên tắc
vùng vô trùng khi tiêm thuốc. Trên xe có hộp chứa vật sắc nhọn và hộp thuốc chống
sốc khi đi tiêm đạt gần 100%. Tuy nhiên còn trên 30% ĐD-HS chưa xử lý ban đầu
đúng khi bị vật sắc nhọn đâm.Tỷ lệ rút thuốc không đủ liều như sót thuốc, phụt thuốc
khi đuổi khí chiếm gần 12%, hơn 20% ĐD-HS còn lưu kim tiêm trên lọ sau khi rút
thuốc, hơn 50% ĐD-HS không quan sát bệnh nhân khi tiêm. Vấn đề xử lý rác thải, vật
sắc nhọn sau khi tiêm được ĐD-HS cô lập rất tốt đạt 100% nhưng vẫn còn 1,3% ĐDHS dùng tay tháo lắp kim tiêm [9]. Phần lớn nhân viên có thái độ tuân thủ rửa tay tốt
với 63,8% cho là luôn luôn và 31,4% cho là thường xuyên rửa tay khi có cơ hội. Tuy
nhiên thực tế chỉ có 17,6% là luôn luôn tuân thủ việc rửa tay và 13,8% thường xuyên
được báo cáo và xử trí phù hợp. Sau khi tiêm, vẫn còn 17% số điều dưỡng viên không
vứt ngay bơm và kim tiêm vào hộp chứa vật sắc nhọn mà để trên khay (5,9%), đậy lại
nắp kim (7,1%) hay vứt kim vào thùng rác (1%). 29,5% bị thương trong khi đậy lại nắp
kim sau khi tiêm, 13% bị thương trong quá trình tiêm, 16,1% bị thương trong quá trình
vứt bơm kim vào hộp đựng vật sắc nhọn [28].
Một khảo sát tại Ả rập Saudi trên điều dưỡng viên và bác sỹ cho thấy tỷ lệ hiểu
biết về nguy cơ lây truyền HIV, HBV and HCV của qua tiêm của bác sỹ cao hơn của
điều dưỡng. Tuy nhiên, trong thực hành, số thương tổn do kim tiêm trung bình của bác
sỹ (là 0,21/12 tháng) và của điều dưỡng (là 0,38/12 tháng) lại không có sự khác biệt có
ý nghĩa thống kê. Đáng chú ý, hanh tỷ lệ bác sỹ thực hiện hành vi đậy lại nắp kim hay
bẻ kim tiêm sau khi tiêm cũng như bị tổn thương do các hành vi trên cao hơn hẳn điều
dưỡng viên (p < 0,05) [24].
Khảo sát trên 5449 cán bộ y tế tại Mỹ năm 2010, nhóm tác giả Pugliese và cộng
sự cho thấy chỉ có 79,6% số người được hỏi biết đến tiêm an toàn trước khi tham gia
phỏng vấn. 29% số nhân viên thừa nhận thỉnh thoảng hoặc thậm chí luôn luôn sử dụng
13
Footer Page 13 of 126.
Header Page 14 of 126.
xi lanh do người khác pha thuốc chuẩn bị sẵn cho để tiêm thuốc bệnh nhân chứ không
trực tiếp tự tay pha thuốc. 30,4% nhân viên y tế đâm kim hơn một lần vào trong lọ
thuốc đơn liều dùng cho người bệnh, 65,6% dùng lọ thuốc đa liều cho nhiều người
bệnh [19].
Trong một khảo sát gần đây tại Nigeria, 55,7% số nhân viên y tế có kiến thức
kém, 31,1% có kiến thức tốt và chỉ có 13,1% có kiến thức rất tốt về tiêm an toàn. Tuy
nhiên, có tới 48,4% số người được hỏi có thực hành tốt và 47,5% có thực hành rất tốt
về tiêm an toàn. Đáng chú ý, chỉ có 4,1% nhân viên y tế có thực hành tiêm an toàn ở
mức kém. 86,2% và 55,3% có kiến thức về nguy cơ lây nhiễm HIV và HBV liên quan
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang
2.2. Thời gian
Nghiên cứu được thực hiện từ ngày 01/07/2012 đến 31/07/2012
2.3. Địa điểm
Nghiên cứu được tiến hành tại toàn bộ 4 khoa lâm sàng thuộc Bệnh viện Da Liễu
Trung ương, bao gồm:
Khoa Khám bệnh
Khoa Điều trị các bệnh da nữ giới và trẻ em
Khoa Điều trị các bệnh da nam giới
Khoa Laser Phẫu thuật và điều trị bệnh Phong.
2.4. Đối tƣợng nghiên cứu
Điều dưỡng viên của 4 khoa lâm sàng tại Bệnh viện Da Liễu Trung ương.
2.5. Tiêu chuẩn lựa chọn
- Là nhân viên chính thức đang làm việc tại các khoa của Bệnh viện Da Liễu
Trung ương.
- Có làm công tác chuyên môn, tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân và thực hiện các
thủ thuật tiêm truyền.
2.6. Cỡ mẫu
Tổng số điều dưỡng viên là nhân viên chính thức trực tiếp chăm sóc người bệnh
hiện tại của bệnh viện Da Liễu Trung ương là 50. Tất cả các điều dưỡng viên này đều
được mời tham gia nghiên cứu. Tỷ lệ đồng ý tham gia nghiên cứu là 100%
2.7. Công cụ thu thập số liệu
Công cụ nghiên cứu là các bảng câu hỏi soạn sẵn để điều dưỡng tự trả lời, gồm 3
15
Footer Page 15 of 126.
Header Page 16 of 126.
Footer Page 16 of 126.
Thang Long University Library
Header Page 17 of 126.
và không bao giờ thực hiện sẽ được 4 điểm.
Tổng điểm cho 18 câu hỏi là 72 điểm. Mức độ kiến thức được phân loại làm 4
loại: kém, khá, tốt và rất tốt:
0 - 18: Kém
19 – 36: Khá
37 – 54: Tốt
55 – 72: Rất tốt
- Căn cứ theo định nghĩa tiêm an toàn, 18 câu hỏi của phần thực hành được xây
dựng làm 2 phần: 1) nội dung thực hành giữ an toàn cho người bệnh (8 câu) và 2) nội
dung thực hành giữ an toàn cho bản thân và cộng đồng (10 câu).
Các thực hành giữ an toàn cho người bệnh gồm 8 câu. Điểm tối thiểu: 0 điểm
và điểm tối đa là 32 điểm. Phân loại thực hành theo mức độ điểm như sau:
0 - 8: Kém
9 – 16: Khá
17 – 24: Tốt
25 – 32: Rất tốt
Các thực hành giữ an toàn cho bản thân và cộng đồng bao gồm 10 câu. Điểm
tối thiểu là 0 điểm và điểm tối đa là 40 điểm. Phân loại thực hành theo mức độ điểm
như sau:
0 – 10: Kém
11 – 20: Khá
21 – 30: Tốt
31 – 40: Rất tốt
Là mức độ thường xuyên của các thực
Liên tục
an toàn
hành theo hướng dẫn tiêm an toàn của
Bộ y tế mà điều dưỡng viên thực hiện
trước, trong, và sau quá trình tiêm
3
Thực hành tiêm an
toàn cho người
bệnh
Là mức độ thường xuyên của các thực
hành nhằm giữ an toàn cho người bệnh
theo hướng dẫn tiêm an toàn của Bộ y tế
mà điều dưỡng viên thực hiện trước,
trong, và sau quá trình tiêm
Liên tục
4
Thực hành tiêm an
Là mức độ thường xuyên của các thực
Thâm niên công
tác
Là thời gian điều dưỡng viên làm việc
trong lâm sàng tính từ khi tốt nghiệp
7
Trình độ đào tạo
Là trình độ bằng điều dưỡng cao nhất mà Thứ hạng
điều dưỡng viên đạt được, gồm: sau đại
học, đại học, cao đẳng, và trung học
8
Số lần và thời gian
được tập huấn về
tiêm an toàn
Là số lần và tổng thời giant ham dự các
Liên tục
khóa tập huấn chính thức về tiêm an toàn
mà điều dưỡng viên đã được tham gia
18
Footer Page 18 of 126.
Thang Long University Library
hành chuyên môn nên điều dưỡng viên có thể có căng thẳng hoặc trả lời không đúng
với thực hành hàng ngày của mình.
19
Footer Page 19 of 126.
Header Page 20 of 126.
Cách khắc phục: Nghiên cứu viên khẳng định trước khi thu thập số liệu với các
điều dưỡng viên tham gia nghiên cứu rằng kết quả nghiên cứu không nhằm đánh giá thi
đua, xếp hạng thực hành của điều dưỡng viên cũng như khoa phòng. Kết quả nghiên
cứu đều được báo cáo chung theo nhóm, nghiên cứu không thu thập thông tin nhận
diện cá nhân của điều dưỡng.
Nghiên cứu viên sắp xếp các điều dưỡng viên ngồi cách xa nhau trong quá trình
trả lời bộ câu hỏi để đảm bảo điều dưỡng viên hoàn toàn thấy thoải mái và an toàn
trong quá trình trả lời.
- Sai số do điều dưỡng viên thảo luận, trao đổi trong quá trình trả lời phần nội
dung kiến thức về tiêm an toàn: điều dưỡng viên có thể trao đổi, thảo luận về câu trả lời
liên quan đến phần kiến thức tiêm an toàn dẫn đến kết quả đánh giá không phản ánh
thực tế kiến thức của người trả lời.
Cách khắc phục: Nghiên cứu viên sắp xếp các điều dưỡng viên ngồi cách xa nhau
phù hợp trong quá trình trả lời. Nghiên cứu viên có mặt trong phòng suốt thời gian các
điều dưỡng viên trả lời để đảm bảo giữ trật tự.
2.11. Phƣơng pháp xử lý số liệu
Số liệu được nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS. Thống kê mô tả (giá trị trung
bình, phương sai, tỷ lệ phần trăm) được sử dụng để mô tả đặc điểm nhóm nghiên cứu
và các biến số. Hệ số tương quan (Spearman’s Rho) được sử dụng để đánh giá mối liên
quan giữa các biến số. Mức ý nghĩa thống kê sử dụng là 0.05
2.12. Đạo đức trong nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành dưới sự cho phép của Khoa Điều dưỡng – Trường
Giới tính
Tuổi
Trình độ
Thâm niên
công tác
Số lƣợng (n)
Khoa D1
13
26,0
Khoa D2
15
30,0
Khoa D3
13
26,0
Khoa KB
6
12,0
51 – 60
6
12,0
Trung học
41
82,0
Cao đẳng
4
8,0
Đại học
5
10,0
≤ 5 năm
Footer Page 21 of 126.
Tỷ lệ (%)
Header Page 22 of 126.
Nhận xét:
- Tổng số ĐD trong mẫu nghiên cứu là 50, trong đó Khoa khám bệnh gồm 9 nhân
viên chiếm 18%, Khoa Laser Phẫu thuật và điều trị bệnh phong gồm 13 nhân viên
chiếm 26%, Khoa điều trị các bệnh da nữ giới và trẻ em gồm 15 nhân viên chiếm 30%,
Khoa điều trị các bệnh da nam giới gồm 13 nhân viên chiếm 26%.
- ĐD nữ giới có 41 người, nam giới có 9 người như vậy nữ giới gần gấp 5 lần
nam giới (82% ở nữ so với 18% ở nam).
- Về tuổi tác khoảng từ 23 – 60 tuổi, trong đó lứa tuổi từ 20-30 có 29 người chiếm
58%, từ 31-40 có 9 người chiếm 18%, từ 41-50 và 51-60 đều có 6 người và cùng chiếm
12%. Như vậy lứa tuổi từ 20-30 chiếm trên 50% tổng số điều dường trong nghiên cứu
này.
- Về trình độ chuyên môn của ĐD phần lớn là Điều dưỡng trung học (n=41,
chiếm 82%), Điều dưỡng cao đẳng chiếm 8% (n=4) và có 5 Cử nhân Điều dưỡng (
chiếm 10%).
- Về thâm niên công tác tại Bệnh viện Da Liễu Trung ương, thâm niên của ĐD
ĐD dưới 5 năm chiếm tỉ lệ cao nhất 50% ( n=25), thâm niên trên 20 năm chiếm 22% (
n=11).
3.1.2. Số mũi tiêm trong ngày và trong 1 ca trực đêm
Bảng 3.2: Số mũi tiêm trong ngày và trong 1 ca trực đêm (n=50)
Số lượng
Tỷ lệ
12,0
Biến số
Số mũi
tiêm trong
ngày
Giá trị
trung bình
SD
Khoảng
23,82
18,29
0-60
≥ 41 mũi
Số mũi tiêm trong 1 ca
3,64
1,65
0-8
47
94,0
Đƣợc tập huấn về
1 lần
17
34,0
tiêm an toàn
2 lần
14
28,0
3 lần
14
28,0
4 lần
2
2 người chiếm 4%.
23
Footer Page 23 of 126.
Header Page 24 of 126.
3.2. Tình hình tổn thƣơng do vật sắc nhọn khi tiêm của Điều dƣỡng trong năm
2012.
3.2.1. Tỷ lệ thƣơng tích do vật sắc nhọn khi tiêm
Bảng 3.4: Tỷ lệ thƣơng tích do vật sắc nhọn khi tiêm trong năm vừa qua (n=50)
Biến số
Số lượng (n)
Tỷ lệ (%)
Không bị thương do vật sắc nhọn
4
8,0
Có bị thương do vật sắc nhọn
46
92,0
6 – 10
14
30.4
11 – 15
6
13,0
16 – 20
4
8,7
> 20
2
4,4
Nhận xét:
- Số lượng ĐD bị thương ít hơn 5 lần trong năm vừa qua chiếm 43,5% (n=20), từ
6-10 lần chiếm 30,4% (n=14). Có 4,4% số người được hỏi cho biết đã bị thương trên
20 lần (n=2).
3.2.2. Vật gây thƣơng tích trong quá trình tiêm
Bảng 3.6: Vật gây thƣơng tích liên quan đến tiêm
Header Page 25 of 126.
Nhận xét:
Trong tổng số thương tích được báo cáo, số lần gây thương tích do kim vô khuẩn
là 108 lần ( 30,6%), do kim nhiễm là 28 lần (7,9%) và nhiều nhất là do vỏ thuốc/lọ
nước cất là 217 lần (61,5%).
Bảng 3.7: Số điều dƣỡng bị thƣơng do kim vô khuẩn (n=50)
Số lần bị thƣơng
Khôngbị
Số điều dƣỡng viên bị thƣơng
9
Tỷ lệ (%)
18,0
Bị*
41
82,0
1 lần
13
26,0
2 lần
Số lần bị thƣơng
Khôngbị
Số điều dƣỡng viên bị thƣơng
32
Tỷlệ (%)
64,0
Bị
18
36,0
1 lần
11
22,0
2 lần
4
8,0
3
6,0
3 lần