Nghiên cứu một số vấn đề về hành vi trong tác phẩm “hành vi và
hoạt động” của phạm minh hạc
Sau cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi, cả nước bước vào
thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, các ngành khoa học phục vụ cho sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc bắt đầu phát triển, một trong những ngành
khoa học phát triển mạnh là khoa học tâm lý học. Trong sự phát triển của
khoa học tâm lý học có công đóng góp rất lớn của Giáo sư- viện sĩ Phạm
Minh Hạc, ông là một trong những “cây đại thụ” của nền tâm lý học Việt
Nam, đã viết và thực hiện nhiều công trình khoa học, trong các công trình đó
có tác phẩm “hành vi và hoạt động”. Đây là luận án tiến sĩ của ông được bảo
vệ thành công tại Hội đồng khoa học Khoa Tâm lý học, Trường Đại học quốc
gia Lômônôxốp, Mátxcơva ngày 10 tháng 6 năm 1977. luận án này được Nhà
xuất bản Smưxl, Mátxcơva xuất bản toàn văn bằng tiếng Nga, được tác giả
dịch ra tiếng việt và in tại nhà xuất bản Viện khoa học xã hội nhân văn, Hà
Nội, năm 1983. Tác phẩm gồm lời tác giả, nhập đề, hai phần (8 chương):
Phần I: Số phận của thuyết hành vi.
Phần II: phạm trù hoạt động trong tâm lý học Mác xít.
Trong khuôn khổ bản thu hoạch này học viên chỉ phân tích những luận
điểm cơ bản của thuyết hành vi được đề cập trong tác phẩm. Qua đó đánh giá
công lao và những hạn chế của tác giả đối với sự phát triển của khoa học tâm
lý học trong lịch sử và trong thời đại ngày nay.
Để hiểu rõ và nhận thức đầy đủ về sự ra đời phát triển và những hạn
chế của tâm lý học hành vi, cần xem xét hoàn cảnh xuất hiện của thuyết này.
Theo Phạm Minh Hạc thì tâm lý học hành vi ra đời vào năm 1913 ở Mỹ từ
một bài báo có tính chất cương lĩnh do J.Watson (1878- 1958) viết với tiêu
đề: “Tâm lý học dưới con mắt của nhà hành vi”. Vào thời điểm chủ nghĩa tư
bản đang phát triển mạnh mẽ, nhiều thành tựu khoa học ra đời được áp dụng
1
2
Đáp ứng với đòi hỏi đó tâm lý học hành vi đã ra đời, đại biểu cho
trường phái này là J.Watson (1878- 1958), ông sinh ra ở miền nam nước Mỹ.
Cuộc đời và công danh của J. Watson là do ông tự lập, ít được thừa hưởng
trực tiếp từ di sản trí tuệ của bố mẹ. Khi còn nhỏ J.Watson hay quậy phá và
lười nhác nên học không giỏi, nhưng J.Watson đã được nhận vào trường Đại
học Furman năm 15 tuổi. Tại trường Đại học, J.Watson học vào loại giỏi
nhưng không xuất sắc. Tuy nhiên, J. Watson đã mau chóng được các giáo sư
có tên tuổi chú ý, đặc biệt là Gordon B. Mooer. Năm 25 tuổi J.Watson đã bảo
vệ thành công luận án tiến sỹ tại Trường Đại học Tổng hợp Chicago, với đề
tài: “Dạy loài vật: Phát triển tâm lý nơi Chuột Bạch”. Do nổi tiếng trên cả
nước về tâm lý học loài vật, ông được mời giảng dạy tại Trường Đại học
Baltimore.
Sự ra đời của tâm lý học hành vi được bắt đầu vào năm 1913 bằng bài
viết với tiêu đề “Tâm lý học dưới con mắt của nhà hành vi” và được in trên
“Tập san tâm lý học” của Mỹ. Các quan điểm trong bài báo sau này được
J.Watson trình bày trong một loạt công trình về sau như: Nhập môn tâm lý
học so sánh (1914); Tâm lý học từ quan điểm nhà hành vi” (1919); Thuyết
hành vi (1925); Sự chăm sóc tâm lý đối với trẻ thơ và trẻ vị thành niên (1928)
…
tâm lý học hành vi ra đời chịu ảnh hưởng của nhiều ngành khoa học
như tâm lý học thực nghiệm, tâm lý học động vật, nhất là triết học thực chứng
luận và chủ nghĩa thực dụng. Đầu tiên phải kể đến là chủ nghĩa thực dụng mà
đại biểu mà đại biểu cho trường phái này là Pierce (1836 - 1914) và W.James
(1841 - 1910). Trường phái này cho rằng triết học không nghiên cứu các vấn
đề triết học chung chung, mà cần phải nghiên cứu các vấn đề của cuộc đời.
Pierce cho rằng: “con người ta suy nghĩ như thế nào và để làm gì ? Đó là để
thoả mãn những giá trị của chân lý. Chân lý thực sự được coi là chân lý là ở
bên trong của họ, đây là điểm khác biệt cơ bản giữa tâm lý học hành vi của
2
S®d tr 46,47
4
J.Watson với tâm lý học “duy linh” trước đó. Tâm lý học duy linh coi đối
tượng nghiên cứu là “hồn”, “tâm hồn” như là sản phẩm được rút ra từ đầu óc
của “người lớn bình thường” tức là từ một con người trìu tượng. Như vậy,
việc lấy hành vi làm đối tượng nghiên cứu của tâm lý học thực sự là một đóng
góp tích cực, là hướng nghiên cứu táo bạo, là cơ sở đầu tiên khuyến khích các
nhà khoa học, các nhà tâm lý học đi sâu khám phá thế giới tâm lý con người
với những quan điểm phù hợp hơn. phương pháp luận trong nghiên cứu về
con người của tâm lý học hành vi đã phủ nhận phương pháp duy tâm nội
quan, coi “thế giới ý thức với tư cách là một thế giới huyền bí khép kín trong
“hồn”. Việc các nhà hành vi chỉ quan tâm nghiên cứu hành vi là cái có thể
quan sát được đã làm cho tâm lý học hành vi trở thành một khoa học khách
quan và chuyển sang lập trường của chủ nghĩa duy vật. Theo lập trường của
thuyết hành vi thì “toàn bộ cuộc sống của con người được xem là lịch sử của
tính tích cực, lịch sử của tính tích cực được hiểu là tổng hoà của các phản
ứng”3, từ quan niệm này có thể hiểu “dòng hành vi” là tổ hợp các phản ứng
của cơ thể trước các kích thích của môi trường bên ngoài. Lập trường này của
J.Watson cho thấy quan điểm của ông đã được tiếp thu quan điểm quyết định
luận duy vật về hành vi người từ tâm lý học động vật khách quan và tâm lý
học thực nghiệm thế kỷ trước. Điều này cũng cho thấy ông đã đồng nhất hành
vi của động vật với hành vi con người. Thực chất sự đồng nhất này đã loại trừ
các hiện tượng của ý thức, tư tưởng, tình cảm, các quá trình sinh lý thần kinh,
… ra khỏi các quá trình kích thích – phản ứng. nhưng thực tế hành vi của con
đa sức lao động của công nhân, mang lại lợi nhuận khổng lồ cho giới chủ tư
bản. Cách nghiên cứu của J.Watson giúp cho tâm lý học có điều kiện trở
thành một ngành khoa học khách quan như các ngành khoa học tự nhiên khác,
tránh khỏi tình trạng mô tả nội quan, giải thích một cách tư biện, các trạng
thái tâm lý, ý thức người từ đó gắn tâm lý với đời sống thực tiễn.
Thứ ba, tâm lý học hành vi phải gắn với tâm lý học của động vật phải
đi từ tâm lý học của động vật. Theo tác giả “Hành vi và hoạt động” thì sự phát
triển của tâm lý học Mỹ luôn gắn liền với tên tuổi của J.Watson, Darwin,
L.Morgan, Thorndike là những người đặt nền móng cho tâm lý học động vật
2
S®d, tr.63.
6
khách quan dựa trên phương pháp “thử và sai” để điều khiển hành vi. Qua quá
trình nghiên cứu lâu dài các nhà tâm lý học hành vi đã đi đến kết luận “phải
xem xét cả hành vi người lẫn hành vi động vật trên cùng một bình diện- cả
bình diện tồn tại lẫn bình diện tìm hiểu” 4. Kết quả nghiên cứu của các ông đã
dựa vào những công trình đã có trước đó đặc biệt là thuyết phản xạ có điều
kiện của I.P.Palov, nhưng khi nghiên cứu các ông đã loại bỏ một yếu tố cực
kỳ quan trọng trong học thuyết này là vai trò của các quá trình thần kinh, hoạt
động thần kinh trong điều chỉnh hành vi. Do đó, các ông đã cho rằng kinh
nghiệm tập nhiễm được ở động vật và ở con người là như nhau. Tuy nhiên,
khi sử dụng công thức S R vào nghiên cứu các hiện tượng tâm lý ở người
và động vật các nhà hành vi chỉ chú ý tới những kích thích tác động lên cơ thể
và những phản ứng đáp lại, chứ chưa đề cập tới những yếu tố tâm, sinh lý
khác tham gia vào quá trình đó. Đây là hạn chế lớn nhất của thuyết hành vi
cổ điển mà sau này các môn đệ của J.Watson đã khắc phục bằng cách đưa ra
thuyết hành vi mới.
Thứ năm, phạm trù S R phải là phạm trù trung tâm của tâm lý học
mà các phạm trù khác phải xoay quanh nó. Khi tâm lý học hành vi ra đời nó
phủ nhận tất cả các dữ liệu, các kết quả đã có của tâm lý học cấu trúc và tâm
lý học chức năng như ý thức, trạng thái, lý trí, hình ảnh…theo J.Watson tất cả
các dữ kiện của khoa học hành vi đều được biểu đạt bằng công thức S R.
Với quan niệm này tâm lý học hành vi của ông đã được xã hội Mỹ đón nhận,
vì thuyết hành vi của ông được xây dựng trên lập trường, thế giới quan của
triết học thực dụng, nó chỉ quan tâm đến hiệu quả của hành vi mà không cần
quan tâm đến bất kỳ yếu tố nào khác, do đó nó phù hợp với yêu cầu phát triển
nền kinh tế Mỹ. như vậy, các nhà hành vi đã có sự “lầm lẫn ý thức với khách
thể vật lý, và lẫn tri thức với phản ứng cơ thể trả lời khách thể” 5. Đây chính là
quan điểm làm cho tâm lý học hành vi quan niệm về con người và đời sống
tâm lý của con người một cách cơ học, máy móc giống như tâm lý động vật.
Việc ứng dụng tâm lý học hành vi vào các lĩnh vực của đời sống xã hội đã tạo
ra trong xã hội tư bản những quan niệm sống thực dụng, đề cao giá trị vật chất
và coi nhẹ những giá trị tinh thần, giá trị nhân văn nhân đạo của con người, nó
phủ nhận vai trò to lớn của ý thức con người, hạ con người xuống ngang hàng
động vật.
5
S®d tr 55
8
Có thể khẳng định rằng với cương lĩnh đầu tiên của mình, thuyết hành
vi của J.Watson đã thực sự tạo ra “một không khí khoa học hoàn toàn mới”,
khác hẳn với các trường phái tâm lý học duy tâm nội quan và các trường phái
hành vi mới xuất hiện trong lúc tâm lý học đang lâm vào cuộc khủng hoảng
thứ hai , vì những mâu thuẫn mới giữa các sự kiện thu thập được trong khoa
học này và phương pháp luận của nó. Sự khủng hoảng này biểu hiện ở chỗ
sau mỗi lần thử nghiệm lại cho kết quả đáng nghi ngờ về tính khách quan của
“cương lĩnh J.Watson”. “Các nhà hành vi gọi cuộc khủng hoảng này là cuộc
khủng hoảng về mặt lý giải” 6. Cuộc khủng hoảng này đã đưa đến vô số cuộc
tranh luận làm cho tâm lý học như trải qua một cơn bệnh. Thực chất đây là
cuộc khủng hoảng về phương pháp luận trong các nhà tâm lý học hành vi.
Mặc dù các nhà tâm lý học hành vi mới đã có nhiều cố gắng để bổ
xung vào công thức S R của J.Watson biến số trung gian, nhưng sự bổ sung
của các ông không làm thay đổi và khắc phục được những thiếu sót căn bản
của tâm lý học hành vi J.Watson là phủ nhận ý thức, xem hành vi với tư cách
là tổng các phản ứng của cơ thể trước các kích thích bên ngoài là đối tượng
nghiên cứu của tâm lý học. Đây là một sai lầm về phương pháp luận có tính
nguyên tắc của các nhà tâm lý học hành vi, vì họ không có luận điểm thật sự
khoa học về con người, sai lầm này đã dẫn đến sự tan rã của tâm lý học hành
vi.
Nguyên nhân tan rã của tâm lý học hành vi:
Giáo sư- viện sĩ Phạm Minh Hạc Tác giả của “Hành vi và hoạt động”
đã đứng trên lập trường của tâm lý học Mác xít để xem xét tính lịch sử khoa
học và phát hiện ra nguyên nhân chủ yếu ngăn cản không cho thuyết hành vi
phát triển thành một hệ thống tâm lý học thực sự khách quan là:
6
S®d tr 81
10
11
hnh ng. Tỏc gi ca Hnh vi v hot ng cho rng: khụng th qui mt
cỏch gin n bt c mt hnh vi hay hot ng no ú ca con ngi thnh
phn ng, phn x hay tng phn ng, phn x8.
V mt xó hi, thuyt hnh vi cựng vi trit hc thc chng v thc
dng khuyn khớch cỏc nh t bn M tụn th li sng thc dng, khụng quan
tõm chm lo ti vic giỏo dc o c, nhõn cỏch, lý tng, tỡnh cm, lũng
nhõn ỏi, nhõn o cho ngi lao ng m ch cn o to h thnh nhng
cỏi mỏy lm vic cn mn phc v cho li ớch kinh t ca cỏc ụng ch t
bn. Tỏc gi ca thuyt hnh vi cng khụng ngn ngi bc l rừ quan im
mỏy múc, sinh vt hoỏ con ngi: T nay chỳng ta phi thc s ngh v con
ngi nh l ng vt cú vỳ- ng vt cú vỳ cao ng, ng vt cú vỳ hai
chõn, hai tay- hai bn tay uyn chuyn, tinh t9. Quan nim ny ca J.Watson
coi con ngi ch l hng ng vt, khụng cú ý thc, khụng cú phm giỏ ch
cú giỏ tr trao i nh mt mún hng.
T nhng ni dung phõn tớch trờn õy cú th khng nh rng thuyt
hnh vi ca J.Watson v cỏc cng s k tip ụng ó thc s to ra mt hng
nghiờn cu khoa hc mi, khỏc hn vi cỏc trng phỏi tõm lý hc duy tõm
ni quan v cỏc trng phỏi tõm lý hc khỏch quan trc ú. Nú ó m ra
mt cỏch nhỡn khỏc vi cỏch nhỡn lõu nay trong tõm lý hc truyn thng, v
i tng v phng phỏp nghiờn cu tõm lý hc. Nhng lun im c bn
trong tõm lý hc hnh vi ca J.Watson ó tr thnh phng hng ch o
cho s phỏt trin ca tõm lý hc M v cú nh hng nht nh ti cỏc ngnh
khoa hc khỏc khi nghiờn cu v con ngi. Bờn cnh ú thuyt hnh vi cng
cũn nhiu hn ch thiu sút nh: coi con ngi nh mt c th cỏ th, ch cú
kh nng phn ng th ng v hon ton ph thuc vo kớch thớch tỏc ng,
h ph nhn vai trũ ca ý thc con ngiChớnh nhng hn ch, thiu sút
8
Nghiên cứu những luận điểm cơ bản của thuyết hành vi trong tác phẩm
“Hành vi và hoạt động” của Phạm Minh Hạc, bản thân tôi rút ra một số vấn
đề có tính nguyên tắc có thể vận dụng trong quá trình nghiên cứu các hiện
tượng tâm lý ở con người như sau:
13
Nghiên cứu tâm lý con người phải đứng trên lập trường của chủ nghĩa
Mác - Lênin, thế giới quan phương pháp luận của tâm lý học Mác xít, phải
nghiên cứu tâm lý con người trong sự tác động qua lại của thế giới như là một
chủ thể lĩnh hội và sáng tạo ra thế giới đó. Nói cách khác phải nghiên cứu tâm
lý con người trong sự thống nhất giữa tâm lý- ý thức và hoạt động. Phải thấy
rõ hành vi của con người là hành vi tích cực, chủ động, sáng tạo. Nói cách
khác đó là hành vi ý thức, hành vi này khác hẳn về chất so với hành vi của
động vật.
Phải nghiên cứu tâm lý người một cách khách quan, tránh tư tưởng chủ
quan, võ đoán. nghiên cứu tâm lý người là nghiên cứu ở những con người cụ
thể, con người đang sống và làm việc trong môi trường, điều kiện xã hội lịch
sử cụ thể chứ không phải ở những con người chung chung, trìu tượng không
có thật.
nghiên cứu tâm lý người phải gắn liền với việc nghiên cứu cơ sở sinh
lý thần kinh, không được tách rời quá trình tâm lý với hoạt động của hệ thần
kinh.Từ đó, vạch ra bản chất và quy luật hình thành, phát triển của các hiện
tượng tâm lý. Qua đó có biện pháp tác động làm cản trở hay ngăn chặn những
hiện tượng tâm lý không có lợi hoặc thúc đẩy phát triển nhanh các hiện tượng
tâm lý tích cực ở con người.
Ngày nay các ngành khoa học phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy xã hội loài
người phát triển tiến bộ, trong đó khoa học tâm lý giữ một vai trò quan trọng
trong sự phát triển tiến bộ của nhân loại nói chung và sự phát triển kinh tế xã