TÀI LIỆU THAM KHẢO tâm lý học PHẠM TRÙ HOẠT ĐỘNG TRONG tâm lý học mác xít - Pdf 42

1

PHẠM TRÙ HOẠT ĐỘNG TRONG TÂM LÝ HỌC MÁC XÍT

Bất kỳ một khoa học nào ra đời đều dựa trên những tiền đề nhất định,
trong đó tiền đề lý luận cho sự ra đời của khoa học đó có ý nghĩa hết sức quan
trọng. Tâm lý học Mác xít lấy triết học Mác- Lênin làm tiền đề cho sự ra đời
và phát triển của mình, những quan điểm lý luận triết học mà tâm lý học Mác
xít lấy làm cơ sở có ý nghĩa quyết định đến tính đúng đắn, khoa học, khách
quan của các luận điểm tâm lý học mà họ đưa ra. Bởi vì triết học là khoa học
nghiên cứu những quy luật phổ biến nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy. Chức
năng cơ bản nhất của nó là chức năng thế giới quan và phương pháp luận cho
các khoa học khác. Quá trình phát triển của khoa học triết học và tâm lý học
đã chứng minh rằng: sự phát triển hoặc khủng hoảng, bế tắc của triết học đều
tác động trực tiếp đến sự phát triển hay bế tắc của tâm lý học. Điều đó cho
thấy cơ sở lý luận triết học của mỗi một trường phái tâm lý học là một trong
những tiêu chí quan trọng để đánh giá sự phát triển, tiến bộ, hay thoái bộ của
các trường phái tâm lý học đó. Vì vậy, việc tâm lý học Mác xít dựa trên các
quan điểm lý luận khoa học của triết học Mác – Lênin, thành tựu nổi bật của
triết học thế giới để nghiên cứu, đã khẳng định sự phát triển tiến bộ của mình.
Khi lấy triết học Mác - Lênin làm cơ sở lý luận các nhà tâm lý học Mác xít đã
dựa vào ba tiền đề cơ bản sau: Học thuyết Mác xít về con người; Học thuyết
Mác xít về hoạt động của con người; và học thuyết Mác xít về ý thức. Trong
đó học thuyết Mác xít về hoạt động của con người có ý nghĩa cực kỳ quan
trọng trong việc xác định đối tượng nghiên cứu của tâm lý học Mác xít. Xuất
phát từ học thuyết này các nhà tâm lý học Mác xít đã coi phạm trù hoạt động
là phạm trù trong tâm của tâm lý học.


2


3

tượng ý thức, các trạng thái tâm lý như những quá trình ý thức tự nảy sinh;
coi tâm lý là những quá trình chỉ xuất hiện trong “cái tôi”; tâm lý là những
quá trình do niềm tin sinh ra trong bản thân “dòng ý thức” thường trực; thậm
chí phân tâm học lại lấy các trạng thái tâm lý xuất phát từ cái “vô thức” sâu
thẳm trong cơ thể, toàn bộ cuộc sống của con người cũng như các trạng thái
tâm lý đều bắt nguồn từ cái vô thức đó. Tâm lý học Gestalt chọn “tri giác”
làm khái niệm trung tâm và nhấn mạnh tính chất cấu trúc toàn vẹn của các cấu
tạo tâm lý và cho rằng các cấu trúc vật lý, sinh lý và tâm lý tương ứng với
nhau. Sự tương ứng ấy về thực chất chỉ là bề ngoài, cho nên các hiện tượng
tâm lý chỉ là nguyên nhân của chính chúng mà thôi,…
Các trường phái tâm lý học trên đây chỉ nghiên cứu tâm lý trong các
hiện tượng ý thức cá nhân, họ cho rằng muốn nghiên cứu được tâm lý chỉ có
một cách duy nhất là tự mình quan sát, tự mình trải nghiệm để hiểu tâm lý của
chính mình. Người khác không thể hiểu được tâm lý của mình, có chăng cũng
chỉ là thông cảm mà thôi hoặc cùng lắm là “suy bụng ta ra bụng người”. Như
vậy các trường phái tâm lý này khi nghiên cứu phân tích các hiện tượng tâm
lý vẫn chủ yếu đứng trên lập trường hiện tượng luận thuần tuý, chủ yếu là lấy
các hiện tượng tâm lý để giải thích các hiện tượng tâm lý. Tức là đặt chúng
trong một hệ thống kín, nội tại trong tâm hồn hay trong cơ thể. Nói cách khác
các trường phái này nghiên cứu tâm lý theo hướng duy tâm nội quan, kết quả
nghiên cứu của họ không nhìn thấy, không đo đếm được nên nó thiếu chính
xác và không khách quan.
Để khắc phục hạn chế này vào năm 1879 khi làm giáo sư triết học ở
Leipzig, Wundt đã tổ chức ra phòng thực nghiệm tâm lý học đầu tiên trên thế
giới, nhằm nghiên cứu tâm lý người bằng phương pháp thực nghiệm. Nhưng
phương hướng chỉ đạo trong nghiên cứu tâm lý của Ông là các hiện tượng
tâm lý đều ở trong vòng các hiện tượng tinh thần của con người và đều xuất
phát từ ý thức. Ông không hề xem xét tới các hoạt động của con người, theo

suốt từ thời kỳ Hy Lạp là sự kiện cách mạng tích cực như thuyết hành vi” 1.
1

Phạm Minh Hạc, Hành vi và hoạt động, Viện khoa học giao dục, Hà Nội 1983 tr 53


5

Đây được coi là một bước tiến quan trọng trong lịch sử tâm lý học,
khuynh hướng này đã xác định đối tượng của tâm lý học là “hành vi”. Điều
đó thực sự đã đánh dấu thời kỳ phát triển mới của tâm lý học khách quan.
Trong tâm lý học hành vi cổ điển, thì hành vi của người và hành vi của động
vật bị đơn giản hoá thành những cử động cơ thể. Hành vi chẳng qua chỉ là
một tổ hợp các phản ứng nhằm đáp lại các kích thích từ bên ngoài. Quan niệm
ấy được biểu đạt bằng công thức nổi tiếng S  R. Trong công thức này thì
hành vi chỉ được coi là mối liên hệ trực tiếp giữa cơ thể với môi trường. Còn
tâm lý, ý thức chẳng qua chỉ là những hiện tượng phụ, không có vai trò gì
trong việc điều khiển hành vi. Theo J.Watson thì Tâm lý học hành vi không
phủ nhận tâm lý, ý thức, nhưng họ không quan tâm tới việc mô tả trạng thái ý
thức mà chỉ quan tâm tới hành vi của con người; quan tâm tới những biểu
hiện bề ngoài. Theo các nhà hành vi, tâm lý học phải nghiên cứu hành vi
người, nghĩa là đưa cuộc sống hàng ngày vào đối tượng nghiên cứu của tâm
lý học, vì hành vi của con người là biểu hiện tâm lý bên trong của họ, đây là
điểm khác biệt cơ bản giữa tâm lý học hành vi của J.Watson với tâm lý học
“duy linh” trước đó. Tâm lý học duy linh coi đối tượng nghiên cứu là “hồn”,
“tâm hồn” như là sản phẩm được rút ra từ đầu óc của “người lớn bình thường”
tức là từ một con người trìu tượng. Như vậy, việc lấy hành vi làm đối tượng
nghiên cứu của tâm lý học thực sự là một đóng góp tích cực, là hướng nghiên
cứu táo bạo, là cơ sở đầu tiên khuyến khích các nhà khoa học, các nhà tâm lý
học đi sâu khám phá thế giới tâm lý con người với những quan điểm phù hợp

Watson đã không thấy được tâm lý con người hình thành trong hoạt động,
biểu hiện trong hoạt động nên Ông không coi hoạt động là đối tượng nghiên
cứu của tâm lý học.
Mặc dù còn có những hạn chế, nhưng nhìn chung sự xuất hiện của
thuyết hành vi đã góp phần phát triển và làm phong phú thêm cho việc xác
định đối tượng nghiên cứu của khoa học tâm lý. Tuy nhiên, việc hiểu nội hàm
của khái niệm “hành vi” đang còn là vấn đề tranh cãi phức tạp chưa được giải
quyết thoả đáng trong phạm vi công thức S  R của thuyết hành vi. Kể cả
2

Phạm Minh Hạc, Hành vi và hoạt động, Viện khoa học giao dục, Hà Nội 1983 tr 63


7

thuyết hành vi mới của E. Tolman và C. Hull, hay thuyết hành vi bảo thủ của
B.F. Skinner, đều quan niệm hành vi là một hệ thống phức tạp các cử động
cùng với các mối liên hệ ngược. Nghĩa là, họ vẫn không hề thừa nhận có sự
tham gia của tâm lý, ý thức vào quá trình điều khiển hành vi. Chính sự bế tắc
này của thuyết hành vi, đã buộc nhiều nhà tâm lý học phải quay trở về với
tâm lý học chủ quan truyền thống. Giáo sư, viện sĩ Phạm Minh Hạc đã khẳng
định rằng: Sự phủ nhận các yếu tố như tâm lý, ý thức, bỏ qua các phạm trù cơ
bản như động cơ, cảm xúc, tình cảm, ý chí,…cũng như việc phủ nhận tính
tích cực của hành vi và ý thức của con người, hạ thấp hành vi của con người
xuống ngang hàng với hành vi của động vật. Đó là một trong những nguyên
nhân chính dẫn đến sự tan rã của thuyết hành vi.
Trước sự khủng hoảng đó đòi hỏi phải có một trường phái tâm lý học
mới thực sự khách quan, khoa học và cách mạng ra đời, đó là tâm lý học Mác
xít. Trong lịch sử của nền tâm lý học Liên Xô còn ghi lại bản báo cáo của
Coócnhilốp (1879 – 1957), đọc tại Đại hội lần thứ nhất tâm lý học thần kinh

hay “hoạt động của con người với đầy đủ tính đa dạng của nó” làm đối tượng
của tâm lý học, nhưng Ông lại hiểu hoạt động là từng cử động đơn lẻ tách rời,
hay quá trình chỉnh thể của hành vi, tức là Ông muốn nói tới quá trình thích
nghi. Từ quan niệm đó Basov đã đi tới chỗ chia hoạt động ra thành các thành
tố S, R, và mối liên hệ giữa chúng với nhau, Ông gọi đó là những cử động
hành vi. Còn về vấn đề vô thức, Ông cho rằng nó là một bộ phận, một thành
phần tham gia vào quá trình tích cực và luôn mâu thuẫn với ý thức. Ông đã
dùng khái niệm hoạt động để phân biệt với khái niệm hành vi, phản xạ học và
phân biệt được với tâm lý, ý thức của Wundt. Ông đưa ra cấu tạo tâm lý của
hoạt động bao gồm hệ thống các cử chỉ, các cơ chế, được điều khiển bởi một
nhiệm vụ nào đó. Tuy nhiên, quan niệm của ông như vậy vẫn chưa lý giải
thoả đáng về phạm trù hoạt động. Ông cho rằng nhân cách chính là sản phẩm
của hệ thống các hoạt động, mà mẫu hình cao nhất là hoạt động lao động nghề
nghiệp (bao gồm cả lao động chân tay và lao động trí óc). Lao động theo quan
niệm của Basôv là hình thức hoạt động đặc biệt của con người, là sự tác động
của chủ thể lên đối tượng và giữa các thành viên với nhau. Hoạt động lao
động được điều chỉnh bởi mục đích ẩn chứa bên trong trí tuệ và tâm hồn,


9

cùng những mong muốn, nguyện vọng của con người. Bởi thế hoạt động
của con người phải khác về chất so với hành vi của động vật. Nhưng
cuối cùng các nghiên cứu của ông về “hoạt động” trong tâm lý học vẫn
chỉ dừng lại ở một khái niệm chưa đầy đủ, nhất là vấn đề hoạt động có
đối tượng của con người. Vì vậy nó đòi hỏi các nhà tâm lý học Xô viết
phải tiếp tục nghiên cứu và làm rõ phạm trù hoạt động.
Sau khi phân tích các xu hướng tâm lý học chủ yếu đầu thế kỷ XX,
L.X. Vưgôtxki (1896 – 1934) người có công lao sáng lập, đặt nền móng cho
tâm lý học hoạt động, đã đi đến một kết luận cần phải xây dựng một nền tâm

học phải thoát khỏi thế giới trạng thái hay quá trình ý thức khép kín, phải
hướng tới việc nghiên cứu các quá trình hành vi và ý thức người tham gia vào
cuộc sống của họ. Nói cách khác, là cần phải nghiên cứu ý thức hay hoạt

động có ý thức của con người, hoặc hành vi và tâm lý người trong sự tác
động qua lại với môi trường xung quanh. Từ đây phạm trù hoạt động đã trở
thành đối tượng nghiên cứu của tâm lý học và là phạm trù trung tâm trong
tâm lý học Mác xít. Trên cơ sở đó, vào năm 1925 ông đã công bố bài báo có
tính chất cương lĩnh mở đầu cho nền tâm lý học hoạt động “Ý thức là vấn đề
của tâm lý học hành vi”. Trong bài báo này Ông chỉ ra rằng: không thể lấy
bất cứ một nền tâm lý học nào trong số các trường phái tâm lý học nêu trên
làm điểm xuất phát để xây dựng một nền tâm lý học thực sự khoa học, kể cả
tâm lý học hành vi, một trào lưu tâm lý học được phổ biến hầu hết trong thế
giới tư bản. Bởi vì “nếu loại trừ vấn đề ý thức, thì bản thân tâm lý học tự ngăn
mình không nghiên cứu bất cứ một vấn đề phức tạp nào của hành vi con
người”4. Trong bài báo có ý nghĩa mở đầu Vưgôtxki đã nêu nên một số luận
điểm cơ bản, trong đó Ông đặc biệt nhấn mạnh: Nghiên cứu tâm lý người phải
bằng phương pháp hoạt động, phải hoàn toàn đoạn tuyệt với quan điểm sử
dụng duy nhất phương pháp nội quan. Đây là quan niệm đúng đắn, khoa học
của tâm lý học Mác xít trong việc xác định hoạt động là đối tượng nghiên cứu
4

Tâm lý học, Tập 1, Nxb Giáo ducj, 1977, tr 53


11

của tâm lý học, chúng ta cần thấy rõ một số điểm khác biệt giữa bài báo có
tính chất cương lĩnh của Watson và bản cương lĩnh mở đầu cho nền tâm lý
học hoạt động do L.X. Vưgôtxki khởi xướng. Thực chất là sự khác biệt cơ

họ. Hoạt động của con người bao gồm cả các quá trình tâm lý, cả hoạt động
bên trong và hoạt động bên ngoài. Nghiên cứu tâm lý con người phải nghiên
cứu hoạt động và sản phẩm của hoạt động của họ được hình thành trong xã
hội, trong mối quan hệ qua lại giữa chủ thể và đối tượng.
Thứ tư, Con người trong thuyết hành vi là con người cơ học, thích
ứng với tác động của môi trường bên ngoài một cách máy móc, theo họ
trong cấu trúc tâm lý của con người không có các thuật ngữ ý thức, các
trạng thái và quá trình ý thức, không có lý trí, hình ảnh…Tất cả những cái
đó chỉ cần biểu đạt một cách chặt chẽ trong phạm vi thuật ngữ S và R.
Trong tâm lý học Mác xít khái niệm hoạt động đã trả lại cho tâm lý học
con người với tư cách là một tồn tại lịch sử – xã hội. Xã hội bao gồm các
mối quan hệ của con người, các quan hệ này sẽ hình thành nên những hoạt
động, đồng thời tạo ra tâm lý, ý thức của họ.
Thứ năm, Trong tâm lý học hành vi, tâm lý và hoạt động vật chất bên
ngoài bao giờ cũng bị xem xét tách biệt nhau. Trong khi đó tâm lý học Mác
xít đã chứng minh rằng, thực tại tâm lý chỉ là sản phẩm với tính cách là một
dạng của hoạt động vật chất, tâm lý con người luôn được hình thành trong
hoạt động và biểu hiện trong hoạt động. Hoạt động thực tiễn của con
người sẽ được chuyển hoá thành hoạt động tinh thần trong quá trình phát
triển lịch sử - xã hội.
Phân tích sự khác nhau cơ bản giữa “Bài báo có tính chất cương
lĩnh của Watson” và “Cương lĩnh mở đầu xây dựng nền tâm lý học Mác
xít của Lép Xêminôvich Vưgốtxki” chúng ta thấy: thuyết hành vi tuy đã
tạo ra không khí khoa học hoàn toàn mới khác hẳn với các trường phái
tâm lý học thời đó, nhưng họ đã mắc sai lầm khi chỉ coi hành vi là đối


13

tượng nghiên cứu của tâm lý học còn các yếu tố khác như ý thức, hoạt

hoạt động của con người cùng lúc thực hiện hai quá trình là quá trình chủ thể
hoá đối tượng (con người tạo ra sản phẩm) và quá trình đối tượng hoá chủ thể
(con người lĩnh hội các thao tác nằm trong đối tượng, các quan hệ sau đối
tượng). Với quan niệm như vậy, hoạt động trở thành chìa khoá để các nhà
khoa học tâm lý có khả năng nghiên cứu một cách khách quan các hiện tượng
tâm lý của con người, và đồng thời làm cho phạm trù hoạt động thực sự trở
thành đối tượng nghiên cứu của tâm lý học. Quá trình phân tích làm sáng tỏ
nội dung luận điểm của tâm lý học Mác xít về việc xác định phạm trù hoạt
động là đối tượng của tâm lý học, chúng ta đã xác định được con đường nảy
sinh, hình thành và phát triển tâm lý, ý thức ở người: tâm lý người được hình
thành trong quá trình con người thực hiện các hoạt động và qua sản phẩm của
hoạt động. Các nhà tâm lý học Mác xít cho rằng ý thức không phải là cái tồn
tại trong thế giới tâm lý nội tại khép kín tách biệt, mà là cái tồn tại thông qua
hoạt động thực tiễn của con người; tâm lý, ý thức có vai trò tích cực trong
việc định hướng, điều khiển hành vi hoạt động của con người. Điều đó cũng
có nghĩa là chúng ta không thể nhận dạng trực tiếp được tâm lý, ý thức mà chỉ
nhận biết chúng một cách gián tiếp thông qua hoạt động của chủ thể và phân
tích sản phẩm hoạt động của họ. Đúng như Lênin đã khẳng định: “Chúng ta
căn cứ vào cái gì để xét đoán những “tư tưởng và tình cảm” thực của các cá
nhân có thực? Tất nhiên, căn cứ đó chỉ có thể là những hoạt động của các cá
nhân ấy”5.
Kế thừa những luận điểm khoa học về phạm trù hoạt động mà L.X.
Vưgốtxki đã trình bày, Rubinstêin là một trong những nhà tâm lý học đầu tiên
thấy rõ nhiệm vụ hàng đầu khi cải tổ tâm lý học là nhiệm vụ xây dựng được
cơ sở triết học mới làm nền tảng cho tâm lý học Mác xít. Từ nhận thức đó
Ông đã viết bài báo rất cơ bản với tiêu đề: “Những vấn đề tâm lý học trong
5

V.I.Lênin, Toàn tập, Tập 1, Nxb Mãtcơva, 1978, tr 531




16

hoạt động, đây được coi là “nguyên lý chủ đạo số một của tâm lý học xô
viết”. Dựa trên những nguyên tắc đó, chúng ta có thể vận dụng phương pháp
tiếp cận phạm trù hoạt động để nghiên cứu tâm lý, ý thức một cách khách
quan.
Đứng trên lập trường của chủ nghĩa Mác về hoạt động của con người,
đồng thời kế thừa tư tưởng của Vưgôtxki, Rubinstêin, và các nhà tâm lý học
trước đó, nhà tâm lý học kiệt xuất người Nga là A. N. lêônchiép và các cộng
sự đã nghiên cứu và đi đến kết luận khoa học về phạm trù hoạt động trong
tâm lý học Mác xít, Ông khẳng định: Mọi dạng hoạt động của con người đều
là tâm lý, chúng chính là đối tượng của tâm lý học. Nhiệm vụ của nhà nghiên
cứu là xác lập về mặt tâm lý học phạm trù hoạt động có đối tượng, tức là phải
tiến hành phân tích được cơ cấu của hoạt động và làm rõ vai trò trung gian
của hoạt động trong quan hệ giữa con người (chủ thể) với thế giới xung quanh
(khách thể). Lêônchiép đã đưa ra khái niệm hoạt động: Hoạt động của cá
nhân được hiểu là quá trình tác động qua lại tích cực có mục đích của con
người lên thế giới hiện thực, nhận thức và cải tạo hiện thực làm ra các giá trị
vật chất, tinh thần để thoả mãn những nhu cầu của bản thân và xã hội.
Từ khái niệm trên chúng ta có thể hiểu bản chất của tất cả các chức
năng tâm lý học không phải chỉ là tâm sinh lý, mà các hiện tượng đó chỉ là
sản phẩm của hoạt động vật chất. Muốn nghiên cứu tâm lý phải bằng cách
phân tích cấu trúc hoạt động của con người, với quan điểm và phương pháp
tiếp cận hoạt động, các nhà khoa học đã mở ra cho tâm lý học con đường
nghiên cứu một cách khách quan các chức năng tâm lý do hoạt động có đối
tượng tạo ra. Lêonchiép cho rằng: “Phát kiến ra tính chất chung của cấu trúc
của hoạt động bên ngoài và hoạt động bên trong, theo tôi, là một trong những
phát kiến quan trọng nhất của khoa học tâm lý hiện đại”. Từ phát kiến này

Môi
trường
tự
nhiên


hội

Phân tích sơ đồ trên đây chúng ta thấy bất kỳ hoạt động diễn ra ở
dạng nào, xét về nội dung và phương thức tiến hành đều là sản phẩm của
sự phát triển xã hội – lịch sử của con người. Hoạt động của con người
bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng, hoạt động đó luôn được thúc
đẩy bởi những động cơ nhất định và nhằm đạt những mục đích nào đó,
động cơ hoạt động của con người được bắt nguồn từ nhu cầu cần thoả
mãn của họ. Để đạt được mục đích, chủ thể hoạt động cần phải có
phương tiện tương ứng, như vậy giữa động cơ- mục đích- phương tiện có
mối quan hệ tác động qua lại gắn bó với nhau. Mặt khác mỗi hoạt động

của con người bao gồm nhiều hành động khác nhau, mỗi hành động
được phối hợp bởi nhiều thao tác cụ thể. Giữa hoạt động- hành động thao tác không chỉ có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau mà các yếu
tố này còn có mối quan hệ qua lại gắn bó với các thành tố động cơ- mục
đích- phương tiện. Trong cấu trúc của phạm trù hoạt động, các thành tố quan
hệ hết sức chặt chẽ, biện chứng với nhau. Nhưng trong từng trường hợp cụ
thể, từng đối tượng cụ thể chúng lại có tính độc lập tương đối, thậm chí có lúc


18

chúng chuyển hoá cho nhau. Mối quan hệ biện chứng đó làm cho đời sống
tâm lý của con người trở nên hết sức sinh động, phong phú và vô cùng đa


hiệu quả hoạt động và phải có cách thức, bước đi phù hợp. Tức là chủ thể phải
cụ thể hoá hoạt động bằng những hành động cụ thể.
Tính chủ thể của hoạt động: Là đặc trưng tâm lý của hoạt động thể hiện
ở tính tích cực của chủ thể khi tiến hành hoạt động, nó qui định tính chọn lựa,
tính xu hướng và tính chất hoạt động của con người. Tính chủ thể được qui
định bởi kinh nghiệm, vốn sống, các nhu cầu, tâm thế, cảm xúc, động cơ, mục
đích trong ý nhân cách của chủ thể. Các nhà tâm lý học cho rằng tính đối
tượng và tính chủ thể là hai tính chất nền tảng cơ bản nhất của phạm trù hoạt
động. Không có hai tính chất đó thì phạm trù này không tồn tại.
Như vậy, quan niệm của lêônchiép và các nhà tâm lý học Mác xít về
phạm trù hoạt động đã khắc phục được quan niệm coi con người như là “một
máy liên hợp vật lý”, bị các kích thích khác nhau tác động vào, con người
cũng không còn bị hiểu như là một kẻ mang các phản ứng cơ thể trả lời các
kích thích tác động từ bên ngoài như cách hiểu của các nhà tâm lý học hành
vi. Mà trong tâm lý học hoạt động, con người là chủ thể của hoạt động, các
thuộc tính nhân cách, cũng như các chức năng sinh lý, tâm lý được hiểu là cấu
tạo tâm lý mới, tức là chúng được sinh ra từ hoạt động và được giữ lại tham
gia điều chỉnh các hoạt động tiếp theo của con người. Hoạt động làm cho mỗi
người tự cải tạo mình và phát triển ý thức của mình, làm cho cá thể của loài
trở thành con người. Thông qua hoạt động và bằng hoạt động mà con người
“trở thành nhân cách”.
Từ phân tích trên đây cho thấy: Những quan điểm của A.N.
Lêônchiép và các cộng sự của Ông đã đóng góp cho tâm lý học thế giới
một quan niệm độc đáo về hoạt động và phương pháp tiếp cận các hiện
tượng tâm lý người hết sức quý giá, đó là phương pháp tiếp cận hoạt
động. Sau A.N. Lêônchiép, phạm trù hoạt động trong tâm lý học Mác xít tiếp
tục được nghiên cứu, khám phá, phát triển. Các nhà khoa học như A.R. luria,





21

ấy; hiện tượng tâm lý được tạo thành bởi những hành động nào; chúng được
vận hành bằng các phương tiện nào, để có biện pháp, cách thức tác động cho
phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động. Muốn xây dựng và phát triển các
phẩm chất tâm lý cho quân nhân cần phải biết tổ chức tốt các hoạt động cho
họ. Chẳng hạn: tổ chức tốt các hoạt động giao lưu sẽ làm cho nhân cách quân
nhân phát triển tốt; tổ chức tốt các hoạt động huấn luyện quân sự sẽ giúp quân
nhân nâng cao kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo…
Thứ hai, đặc trưng cơ bản của phạm trù hoạt động là tính đối tượng và
tính chủ thể. Do đó, trong quá trình hoạt động quân sự cần xác định rõ đối
tượng cho các quân nhân, giúp họ có biểu tượng đúng đắn về đối tượng hoạt
động. Mặt khác, hoạt động quân sự là loại hình hoạt động đặc thù, người lính
và nhân cách của họ vừa là chủ thể, nhưng đồng thời vừa là khách thể của
hoạt động. Do đó trong hoạt động cần phát huy vai trò tính chủ thể của quân
nhân, nghĩa là phát huy khả năng chủ động sáng tạo trong hoạt động của mỗi
cá nhân và tập thể quân nhân. Điều này có ý nghĩa rất to lớn trong các lĩnh
vực, các mặt của hoạt động quân sự, đặc biệt là trong chiến đấu và trong thực
hiện các nhiệm vụ độc lập xa sự chỉ huy trực tiệp của chỉ huy đơn vị.
Thứ ba, Hoạt động của quân nhân bao gồm hai loại: Hoạt động bên
trong và hoạt động bên ngoài. Về bản chất hai loại hình hoạt động này có cấu
trúc cơ bản giống nhau. Hoạt động bên trong có nguồn gốc từ hoạt động bên
ngoài, là sự di chuyển đối tượng từ bên ngoài vào bên trong cá nhân và được
cải biến ở trong đó. Do đó, khi vận dụng nội dung này vào huấn luyện, rèn
luyện bộ đội, hoặc trong đánh giá, giáo dục, phân loại, tuyển chọn bộ đội,
phải quan tâm đúng mức tới môi trường hoạt động của họ. Phải chú ý quan
tâm tới nội dung và hình thức tổ chức hoạt động trong đơn vị, đảm bảo phong
phú về nội dung và hình thức, phù hợp nhu cầu chính đáng của cá nhân và

với nhiều trường phái và quan niệm khác nhau, nhưng phạm trù hoạt động
vẫn là phạm trù cơ bản cần phải tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển, làm
rõ trong điều kiện mới. Trách nhiệm này thuộc về đội ngũ các nhà khoa học
tâm lý và những người quan tâm đến vấn đề này trong đó có chúng tôi.


23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status