GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC
ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG ĐẤT NƯỚC TRONG
BỐI CẢNH TOÀN CẦU HÓA
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, để phát triển bền vững
thì nhất thiết phải giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống dân tộc. Bởi lẽ, đó là
những giá trị tinh thần cốt lõi, đặc sắc, mang tính trường tồn trong lịch sử của
dân tộc mà dựa vào đó các thế hệ mới ra đời có thể phát huy được giá trị quá
khứ, tiếp thu được giá trị hiện đại và định hướng cho tương lai để tự tồn tại và
phát triển. Giá trị truyền thống dân tộc ta cần được giữ gìn và phát huy, bao
gồm: chủ nghĩa yêu nước; ý chí tự lập tự cường; tinh thần đoàn kết, tình thương
yêu con người và nhân ái, khoan dung; đức tính cần cù, thông minh, sáng tạo và
tinh thần lạc quan, yêu cuộc sống.
Phát triển bền vững là quá trình phát triển ổn định đi lên, trong đó có sự
kết hợp chặt chẽ, hợp lý giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội, phát triển
văn hóa, phát triển con người và bảo vệ môi trường sinh thái.
Hiện nay, dưới tác động mang tính hai mặt (tích cực và tiêu cực) của toàn
cầu hóa và “áp lực” biến đổi khí hậu, để phát triển bền vững, chúng ta cần phải
(và nhất thiết phải) giữ gìn và phát huy giá trị truyền thống dân tộc, đồng thời
tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại. Giá trị truyền thống dân tộc là
những giá trị tinh thần cốt lõi, đặc sắc, mang tính trường tồn trong lịch sử dân
tộc, mà dựa vào đó, các thế hệ mới ra đời có thể phát huy được giá trị quá khứ,
tiếp thu được giá trị hiện đại và định hướng được tương lai để tự tồn tại, phát
triển mà không tự đánh mất mình. Nó thể hiện cô đọng, sâu sắc và khái quát ở:
chủ nghĩa yêu nước; ý chí tự lập tự cường; tinh thần đoàn kết, tình thương yêu
con người và nhân ái, khoan dung; đức tính cần cù, thông minh, sáng tạo; tinh
thần lạc quan, yêu cuộc sống
• Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam
1
Chủ nghĩa yêu nước trước hết bắt nguồn từ tình cảm yêu quê hương đất
1
gia đình, làng xã và đất nước. Từ hiện thực này đã hình thành nên ý thức xã hội
về mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa nước với dân. Và, cũng từ đó
hình thành nên tư tưởng: nền tảng của đất nước chính là dân, và do đó “Dân là
gốc nước”. Vì vậy, trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lăng, thì người dân tự
nguyện đứng lên đánh giặc, bảo vệ đất nước – đó là lẽ tự nhiên, lẽ sống, là niềm
tự hào công dân. Hồ Chí Minh đã nhận xét: “Dân tộc ta có một lòng yêu nước
nồng nàn. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay mỗi khi tổ
quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại trỗi dậy, nó kết thành một làn sóng vô cùng
mạnh mẽ, nó lướt qua mọi nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán
nước và lũ cướp nước”1.
Đối với các giai cấp, tầng lớp lãnh đạo đất nước trong mỗi thời kỳ lịch sử
cần thấu hiểu tư tưởng “dân là gốc nước”. Từ tư tưởng “dân là gốc nước”, chủ
nghĩa yêu nước Việt Nam đi đến quan điểm “yêu nước là thương dân”, và “cứu
nước là cứu dân”. Và, để cứu nước, cứu dân có hiệu quả thì trong các cuộc
kháng chiến chống quân xâm lược, các triều đại phong kiến Việt Nam đã “cố
gắng” coi dân như “con” nhằm tạo ra quan hệ “vua tôi đồng lòng, anh em hòa
thuận, cả nước ra sức” đánh giặc. Khi đánh tan giặc thì dùng chính sách “khoan
thư sức dân”, nuôi dưỡng và giáo hóa dân,… Đó là kế sách lâu bền cho công
cuộc dựng nước và giữ nước.
Trong thời đại mới, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng
Hồ Chí Minh, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã phát triển lên trình độ mới với
những giá trị nhân văn sâu sắc phù hợp với xu thế của thời đại và thực tiễn cách
mạng Việt Nam. Cụ thể là, vào những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ
XX, khi chủ nghĩa đế quốc đã thống trị đa số các nước trên thế giới, Việt Nam
trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, ngọn cờ Cách mạng Tháng Mười Nga đã
soi rọi toàn cầu thì “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường
nào khác là con đường cách mạng vô sản”2. Bởi lẽ, “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản
xã hội, nhất là hiểu biết quy luật chiến tranh – “biết địch biết ta, trăm trận trăm
thắng”. Tri thức được hòa quyện với tư tưởng, niềm tin và khát vọng của dân
tộc về một quốc gia độc lập, cường thịnh đã tạo nên lý tưởng độc lập dân tộc và
niềm tin tất thắng. Trên cơ sở niềm tin tất thắng hun đúc nên ý chí tự lập tự
cường của cả dân tộc. Có thể nói, chính niềm tin tất thắng dựa trên tri thức
khoa học và ý chí tự lập tự cường đã tạo ra sức mạnh vô song giúp cho dân tộc
1
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 1, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 461.
4
vượt qua mọi khó khăn gian khổ “nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp
nước” (Hồ Chí Minh).
Nói đến trí tuệ Việt Nam là nói đến tầm hiểu biết, tri thức khoa học và tư
duy sáng tạo của con người và dân tộc Việt Nam; còn nói đến bản lĩnh Việt
Nam là nói đến bản tính độc lập, tự chủ, tự giác và tự quyết của con người và
dân tộc Việt Nam trong việc lựa chọn và quyết định con đường phát triển của
mình và không bị lệ thuộc bởi bất kỳ thế lực nào.
Suốt chiều dài lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc
Việt Nam đã tạo ra cả kho tàng tri thức kinh nghiệm. Và từ đó, đúc kết, khái
quát thành tri thức luận lý, soi đường cho dân tộc đi lên. Trong đó, chủ nghĩa
yêu nước đã trải qua hành trình phát triển, lúc đầu từ tình cảm tự nhiên, tự phát
tiến đến ý thức tự giác. Và từ ý thức tự giác phát triển cả về tầm cao, chiều sâu
thành triết lý yêu nước và đến đỉnh cao là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.
Trong lịch sử, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã thấm sâu vào tâm hồn
của mỗi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giới tính,… làm
cho mọi người thấu hiểu được cảnh “nước mất, nhà tan”. Vì vậy, “giặc đến nhà,
đàn bà cũng đánh”. Để đánh được kẻ thù đông hơn, mạnh hơn mình gấp bội
truyền thuyết; ở thời kỳ Bắc thuộc, nó thể hiện ý thức và tinh thần yêu nước
quật khởi chống lại ách đô hộ và sự đồng hóa của kẻ thù; thì trong thời kỳ
phong kiến độc lập, chủ nghĩa yêu nước đã phát triển thành hệ thống tri thức lý
luận, bao gồm các tư tưởng và quan điểm về: “Dân” và “Nước”, “độc lập dân
tộc” và “chủ quyền quốc gia”, quyền lợi và trách nhiệm công dân đối với đất
nước,… cùng với ý chí tự lập, tự cường dân tộc. Đến thời kỳ chống chủ nghĩa
thực dân, đế quốc phương Tây, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam có bước phát
triển mới với nội dung và chất lượng mới được kết tinh cô đọng trong tư tưởng
Hồ Chí Minh. Ở đây, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam bao hàm sự kết hợp nhuần
nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước truyền thống với tinh hoa của chủ nghĩa Mác Lênin, giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp
của cách mạng Việt Nam.
• Ý chí tự lập, tự cường dân tộc
6
Ý chí tự lập, tự cường dân tộc thể hiện trước hết ở việc khẳng định nền
độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Đó là
điều thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Từ thời cổ đại, người Việt đã thể hiện ý
chí tự lập, tự cường dân tộc, thông qua hành động kiên quyết không khuất phục
trước bất kỳ kẻ thù nào dù chúng có hùng mạnh và tàn bạo đến đâu đi nữa.
Trong hơn 1.000 năm Bắc thuộc, mặc dù bị đô hộ song chúng ta không để mất
đất, mất dân, không chịu khuất phục, không bị đồng hóa. Và, cuối cùng chúng
ta đã thắng giặc ngoại xâm, hiên ngang khẳng định quyền sống và nền độc lập
dân tộc.
Trong thời kỳ phong kiến độc lập, ý chí tự lập tự cường dân tộc được tôi
rèn, được phát triển lên trình độ mới thể hiện thông qua việc khẳng định quốc
gia độc lập có quốc hiệu riêng và có vua ngang hàng với phương Bắc, quyền
độc lập, tự chủ, bình đẳng của dân tộc Việt Nam được khẳng định trong bài thơ
“Thần” (Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất) của Lý Thường Kiệt:
sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc…”. Suy rộng ra, câu ấy có
nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng
có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do,… Đó là những lẽ phải không
ai chối cãi được… Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do
và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt
Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững
quyền tự do và độc lập ấy”2.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương tiêu biểu của chủ nghĩa yêu nước và
ý chí tự lập, tự cường của dân tộc Việt Nam. Đó là ý chí “quyết đem sức ta để
giải phóng cho ta”, là tinh thần “không có gì quý hơn độc lập tự do” và “thà hy
sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
Việc lựa chọn con đường phát triển xã hội chủ nghĩa của dân tộc Việt Nam, gắn
độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với quy
luật phát triển khách quan của lịch sử và xu thế của thời đại, đáp ứng được nhu
cầu, lợi ích và khát vọng của nhân dân ta.
Ngày nay, ý chí tự lực tự cường được phát huy cao độ trong thời kỳ đổi
mới và hội nhập quốc tế. Trong 25 năm đổi mới, bằng chủ nghĩa yêu nước với ý
chí tự lực tự cường dân tộc, Việt Nam đã thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh
Trần Văn Giàu, Trong dòng chủ lưu của văn học Việt Nam, tư tưởng yêu nước, Nxb. Văn
nghệ, TP. Hồ Chí Minh, 1983, tr. 141.
2
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 3-4.
8
1
tế - xã hội để vươn lên trở thành “cường quốc” xuất khẩu gạo, đã phá tan vòng
vây cấm vận của các thế lực thù địch để hội nhập bình đẳng trong cộng đồng thế
giới. Với những thành tựu to lớn và quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con
ngươi của mắt mình”1.
Tổng kết giá trị, sức mạnh và ý nghĩa của đại đoàn kết dân tộc trong điều
kiện mới, Đại hội Đảng lần thứ X khẳng định: “Đại đoàn kết dân tộc trên nền
tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức,
dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là
nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định, bảo đảm
thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”2.
Tình yêu thương con người: Thương người là phẩm chất đạo đức cao đẹp,
trở thành giá trị truyền thống của con người và dân tộc Việt Nam. Tình yêu
thương con người bắt nguồn từ chính cuộc sống lao động, chiến đấu của con
người Việt Nam từ thời cổ đại, được phát triển qua các cuộc kháng chiến chống
quân xâm lược với phương châm “chị ngã em nâng”, “lá lành đùm lá rách” đi
đến “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn” và
“nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng”.
Chính tình yêu thương con người đó đã được nhân dân ta chắt chiu, giữ gìn,
phát triển và trao truyền qua nhiều thế hệ và trở thành lối sống, lẽ sống ở đời.
Tình yêu thương con người ở dân tộc Việt Nam thể hiện tính nhân đạo và
nhân văn sâu sắc. Đó không phải là kiểu thương người một cách tiêu cực, bị
động, ngồi trông chờ vào “ảo ảnh” giải thoát của đấng siêu nhiên, mà là hành
động vì nghĩa cứu người, cứu dân và cứu nước để giải phóng con người, giải
phóng nhân dân ra khỏi ách đô hộ, áp bức bóc lột. Vì vậy, thương người gắn
liền với tinh thần vì nghĩa. Nghĩa là lẽ phải, vì nghĩa là đứng về lẽ phải, đấu
tranh cho lẽ phải và đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng. Giáo sư Trần Văn
Giàu nhận xét: “Nghĩa là điều phải, đối chọi với điều trái. Vì nghĩa là làm điều
phải một cách có ý thức, chống điều trái. Nghĩa cũng là tình cảm chính đáng
gắn bó người với người trong sinh hoạt gia đình, xã hội, dân tộc, cho đến quốc
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 510.
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị
trương hòa giải “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai” để cùng hợp tác và phát
triển vì hòa bình và tiến bộ xã hội.
Lòng nhân ái, khoan dung của con người và dân tộc Việt Nam còn thể
hiện sâu sắc trong cuộc sống, sinh hoạt ở mỗi gia đình, dòng họ, mỗi cộng đồng
Trần Văn Giàu, Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb. TP. Hồ Chí
Minh, 1993, tr. 297.
11
1
người. Đó là lối sống hòa thuận, đoàn kết, thương yêu “lá lành đùm lá rách”,
“tối lửa tắt đèn có nhau” trong “tình làng nghĩa nước”,… Lòng nhân ái, khoan
dung được phát triển trên cả bề rộng và chiều sâu thành những phương châm
sống: “Có lý, có tình”, “uống nước, nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”,…
Như vậy, tinh thần đoàn kết, tình yêu thương con người và lòng nhân ái
khoan dung là giá trị truyền thống tiêu biểu của con người và dân tộc Việt Nam.
Giá trị truyền thống tiêu biểu đó được kế thừa, phát triển và tỏa sáng rực rỡ
trong con người và tư tưởng Hồ Chí Minh. Khi đất nước nằm dưới ách đô hộ
của thực dân phong kiến, Người đã sớm nhận ra nỗi nhục của kiếp đời nô lệ, nỗi
đau của người dân mất nước và quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, để “đuổi
thực dân, giải phóng đồng bào”. Sau 30 năm bôn ba khắp năm châu bốn biển,
Người trở về quê hương, tổ chức thành công cuộc Cách mạng Tháng Tám, đánh
đuổi thực dân Pháp, xóa bỏ phong kiến, lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa. Và, ngay trong “kế hoạch kiến quốc” đầu tiên của nước nhà, Người đã chỉ
đạo cho chính phủ thực hiện ngay bốn điều: làm cho dân có ăn, làm cho dân có
mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành 1. Bởi lẽ, “Chúng ta tranh
được độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm
gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc
đủ”2.
Khi đất nước có chiến tranh, Hồ Chí Minh đã bộc lộ: “Một ngày đồng
Cần cù, thông minh, sáng tạo là đức tính vốn có ở nhiều dân tộc trên thế
•
giới. Người ta thường nói, “cần cù như người Nga, thông minh như người Đức,
thực dụng như người Mỹ và sáng tạo như người Nhật”. Điều đó nói lên tính
cách tiêu biểu của mỗi dân tộc trong những điều kiện lịch sử - cụ thể.
Trong lịch sử tồn tại và phát triển, dân tộc Việt Nam đã hội đủ cả ba đức
tính “cần cù, thông minh, sáng tạo” với sắc thái riêng, độc đáo. Những đức tính
và sắc thái này được hình thành, phát triển trên cơ sở điều kiện địa lý tự nhiên,
lịch sử, kinh tế, xã hội, văn hóa của dân tộc Việt Nam và không lặp lại ở bất kỳ
dân tộc nào trên thế giới.
Từ rất sớm, con người và dân tộc Việt Nam đã phải thường xuyên và
thường trực chống chọi với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt (nắng hạn đan xen
với bão lụt, “nóng như thiêu như đốt” đan xen với “rét cắt da cắt thịt”) để khai
hoang mở cõi; vừa sản xuất với “hai sương một nắng” lại vừa phải chiến đấu
Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 517.
Trần Văn Giàu, Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb. TP. Hồ Chí
Minh, 2011, tr. 461.
3
Trần Văn Giàu, Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb. TP. Hồ Chí
Minh, 2011, tr. 460.
13
1
2
chống giặc ngoại xâm với những đội quân to lớn và tàn bạo; vừa phải “tự lập tự
cường” vừa phải thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo với phương châm
“dĩ bất biến, ứng vạn biến” để tồn tại và phát triển đi lên. Chính thực tiễn khắc
nghiệt và phức tạp ấy đã “đào luyện” và “bồi đắp” nên đức tính “cần cù, thông
cầm, chân chạy như bay,… Cần cù đã trở thành triết lý sống, là giá trị văn hóa,
tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam và trở thành thước đo phẩm giá
của con người trong mỗi thời kỳ lịch sử. Trong kháng chiến chống thực dân
Pháp xâm lược, Hồ Chí Minh đã quan tâm khơi dậy truyền thống cần cù sáng
tạo lao động của người nông dân: “ruộng đất là chiến trường, cuốc cày là vũ
khí, nhà nông là chiến sĩ, hậu phương thi đua với tiền phương”. Còn trong
kháng chiến chống Mỹ thì “mỗi người làm việc bằng hai”, “thanh niên ba sẵn
sàng”, “phụ nữ ba đảm đang”,… Đó chính là bản anh hùng ca lao động mà
người dân Việt Nam đã viết bằng máu, mồ hôi và nước mắt của mình. Giáo sư
Phan Ngọc đã đúng khi kết luận rằng: “Công sức lao động dựng nên đất nước
này của người dân Việt đã ở mức tột đỉnh, hiếm có dân tộc nào trên thế giới có
thể sánh được.”1.
Trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, đức tính cần cù luôn gắn
liền với tính thông minh và sáng tạo. Một số người cho rằng, dân Việt Nam
không có thông minh sáng tạo, mà chỉ có tính cần cù và giỏi bắt chước người
Trung Hoa, người Pháp, người Mỹ. Hễ người nước ngoài làm được cái gì thì
dân ta đều có thể làm được cái ấy, chớ dân mình không thông minh, không có
tinh thần và năng lực sáng tạo ra những cái đặc sắc và đáng kể 2. Quan niệm trên
là sai lầm và võ đoán. Nó xuất phát từ tâm lý tự ty dân tộc và tư tưởng thấp kém
của số người làm tay sai cho ngoại bang sống trong chế độ thuộc địa kiểu cũ và
mới của thực dân đế quốc.
Trên thực tế, việc học hỏi, tiếp thu hay “bắt chước” cái hay, cái đẹp ở bên
ngoài là một đặc điểm phổ biến mang tính quy luật trong quá trình tồn tại, phát
triển của các dân tộc trên thế giới. Vấn đề quan trọng là ở chỗ, học hỏi tiếp thu
cái gì và bắt chước như thế nào để làm giàu thêm hệ giá trị của mình và nâng
cao sức mạnh của dân tộc, làm rạng rỡ non sông đất nước trên bản đồ thế giới.
Phan Ngọc, Văn hóa Việt Nam và cách tiếp cận mới, Nxb. Văn hóa - Thông tin, Hà Nội,
1994, tr. 36.
2
Trần Văn Giàu, Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb. TP. Hồ Chí
dân tộc bằng đường lối “lấy ít đánh nhiều, lấy yếu thắng mạnh”, “lấy đại nghĩa
thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” và “toàn dân kháng chiến, toàn
diện kháng chiến” dựa trên sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc kết hợp với sức
mạnh của thời đại.
16
Thứ ba, trí thông minh và sức sáng tạo của con người và dân tộc Việt
Nam còn được thể hiện rực rỡ trong lĩnh vực phát triển văn học, nghệ thuật. Có
thể nói, văn học, nghệ thuật là lĩnh vực đòi hỏi trí thông minh và sức sáng tạo
phong phú nhất. Không có trí thông minh và sức sáng tạo sẽ không có (và
không thể có) văn học, nghệ thuật. “Truyện cổ dân gian và truyền thuyết là
những hình ảnh của lịch sử trong quá trình được sáng tạo bởi óc tưởng tượng và
trí nhớ của nhân dân theo một phong cách nửa huyền thoại, nửa lịch sử, những
tác phẩm kể chuyện dân gian này phản ánh cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ
tổ quốc, cuộc sống gia đình và xã hội cũng như quan hệ tình yêu…”1.
Kho tàng thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca “thể hiện tuyệt vời sự thông
minh, dí dỏm và trí sáng tạo của nhân dân ta trong đời sống, lao động và quan
hệ,…Ví dụ, “nước, phân, cần, giống” là một thành ngữ quen thuộc liên quan tới
lĩnh vực lao động nông nghiệp, sử dụng có bốn chữ mà không có từ nào thừa, từ
nào thiếu…”2; và “Dân ca mang nhiều tính nhân văn và tính nhân văn đó chính
là chắt lọc tinh hoa từ tư tưởng, tình cảm và cả triết học về con người với vũ trụ,
Tổ quốc, xã hội, loài người và cả sự tự nhìn nhận và đánh giá của chính mình”3.
•
Tinh thần lạc quan, yêu cuộc sống
Dân tộc Việt Nam có truyền thống lạc quan. Đó chính là tinh thần mang
“tính chất triết lý xã hội và nhân sinh, căn cứ trên một nhận thức nhất định về
cuộc sống, về lịch sử”4. Tinh thần lạc quan đó xuất phát từ quy luật phát triển tất
quan được xây dựng trên cơ sở “Vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước
ra sức” giết giặc lập công.
Đến thời kỳ lịch sử hiện đại, nhân dân ta có Đảng, tư tưởng Mác - Lênin
lãnh đạo, thì tinh thần lạc quan lại được “thăng hoa” trở thành tinh thần lạc quan
cách mạng. Nó dựa trên cơ sở khoa học, sức mạnh vô địch của khối đại đoàn kết
toàn dân và sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại. Chính vì
vậy, chúng ta đã đánh thắng những kẻ thù giàu có và hung hãn nhất của thời đại
– đó là đế quốc Pháp, phát xít Nhật và đế quốc Mỹ xâm lược.
Ngày nay, trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, tinh thần lạc
quan cách mạng của con người và dân tộc Việt Nam đã trở thành sức mạnh,
được thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Cụ thể là, chúng ta không
chỉ vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, mà còn đưa nền kinh tế phát
triển nhanh với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hơn 7,2%/năm; đã giảm tỷ lệ
nghèo đói từ 58% vào năm 1993 xuống 14% năm 2011; đời sống của các tầng
lớp nhân dân đều được cải thiện tốt hơn; chế độ chính trị - xã hội luôn ổn định;
vị thế và uy tín của đất nước ngày càng nâng cao trên thị trường quốc tế.
Như vậy, giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam được hình thành qua
hàng ngàn năm lịch sử dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước. Đó là các
18
giá trị nổi bật: chủ nghĩa yêu nước; ý chí tự lập tự cường dân tộc; đoàn kết,
thương người, nhân ái, khoan dung; cần cù, thông minh và sáng tạo; tinh thần
lạc quan, yêu đời;… Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa VIII về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
đã chính thức khẳng định giá trị truyền thống của con người Việt Nam: “Lòng
yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng
đồng gắn kết cá nhân - gia đình - làng xã - tổ quốc, lòng khoan dung, trọng
nghĩa tình đạo lý, tính cần cù sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử,
tính giản dị trong cuộc sống”1. Tất cả những giá trị trên là cốt lõi của văn hóa,