BÀI GIẢNG NHÀ nước PHÁP LUẬT CHUYÊN đề QUẢN lý NHÀ nước về dân tộc, tôn GIÁO - Pdf 42

CHUYÊN ĐỀ : QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC TÔN GIÁO
I. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DÂN TỘC

1. Khái niệm quản lý nhà nước về dân tộc
Trước khi chúng ta đi vào tìm hiểu khái niệm quản lý nhà nước về dân tộc
theo đồng chí:
 Dân tộc là gì?
 Vì sao cần phải quản lý nhà nước về dân tộc?
Việt Nam có 54 dân tộc anh em sống xen kẽ trên khắp các địa bàn lãnh thổ
của cả nước. Dân tộc Kinh là dân tộc đa số chiếm khoảng 86% dân số. Còn lại là
dân tộc thiểu số sống tập trung chủ yếu ở miền núi giáp biên giới Việt Nam Trung quốc, Việt Nam - Lào, Việt Nam - Cămpuchia.
53 dân tộc thiểu số ở VN có khoảng 12 triệu người
- Tây Bắc: hơn 7 triệu (Tày 1.5 tr; Thái 1,4; Mường 1,2 tr; Nùng 90 vạn;
Mông 80 vạn; Dao 65 vạn).
- Tây nguyên: hơn 2 triệu (Gia rai 35 vạn; Ê đê 30 vạn; Ba Na 20 vạn; Xơ
đăng 15 vạn)
- Tây Nam bộ: hơn 1 triệu (Khơ me 1,2 tr; Chăm 3 vạn)
- Dân tộc ít người nhất: Brâu, Ơ đu, Rơ Măm chỉ có trên 300 người
Các dân tộc Việt Nam có các đặc điểm chủ yếu như: có truyền thống đoàn
kết; có trình độ phát triển không đều; các dân tộc thiểu số sống trên địa bàn rộng
lớn, có vị trí quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng và an ninh; số lượng dân
cư các dân tộc không đều và sống xen kẽ là chủ yếu; các dân tộc có sắc thái văn
hoá phong phú, đa dạng trong sự thống nhất của văn hoá các dân tộc Việt Nam.
Với những đặc điểm đó, quản lý nhà nước về dân tộc ở nước ta hiện nay là
vấn đề rất quan trọng. Đảng ta đã chỉ ra: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường
lối, chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ

1


yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây

2


- Thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, dân chủ hoá trong đời sống
các dân tộc thiểu số. Đại đoàn kết các dân tộc là truyền thống và là mục tiêu,
quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Chống kỳ thị hoặc quan tâm
không đầy đủ đến vấn đề dân tộc. Thực hiện dân chủ hoá rộng rãi trên các lĩnh
vực của đời sống xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
VD: Danh sách đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong số 34 cán
bộ, chiến sĩ của đội có 29 người là dân tộc thiểu số. Cụ thể, dân tộc Tày: 19, dân
tộc Nùng: 8, dân tộc Mông: 1, dân tộc Dao: 1; còn lại 5 người dân tộc Kinh.
- Bảo đảm sự phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội ở vùng dân tộc, miền núi,
là một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển kinh tế quốc dân. Các địa
phương miền núi có trách nhiệm góp phần thực hiện chiến lược phát triển kinh tê
- xã hội chung của cả nước. Phát triển kinh tế miền núi là sự nghiệp chung của
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và của cả hệ thống chính trị. Phát triển kinh tế
gắn với thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, quan tâm giải quyết các vấn đề
xã hội, nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.
- Thực hiện các chính sách ưu tiên mọi mặt đối với dân tộc thiểu số, phát
triển giáo dục, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nguồn nhân lực, chăm sóc sức khoẻ
cho đồng bào dân tộc; có quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, và sử dụng
cán bộ là người dân tộc thiểu số.
- Chống để kẻ thù lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá Nhà nước và chế độ ta.
Dân tộc là vấn đề nhạy cảm và phức tạp. Hiện nay, các thế lực thù địch dang lợi
dụng vấn đề dân tộc để xuyên tạc, kích động phá hoại đoàn kết dân tộc. Quản lý nhà
nước về dân tộc phải đề cao cảnh giác, nhận rõ âm mưu thủ đoạn của kẻ thù, phát
hiện và xử lý kiên quyết, linh hoạt các tình huống phát sinh về dân tộc.
3. Nội dung quản lý nhà nước về dân tộc
a) Nội dung chung quản lý nhà nước về dân tộc
Theo Nghị định số 05/2011/NĐ-CP ngày 14.01.2011:

khăn; Chương trình 135, theo Quyết định số 135 (1998) của Thủ tướng Chính

4


phủ về việc phê chuẩn chương trình phát triển kinh tế -xã hội các xã đặc biệt khó
khăn, miền núi và vùng sâu, vùng xa v.v
Từ các chính sách, chương trình, theo phân cấp, Uỷ ban Dân tộc và chính
quyền địa phương các cấp cụ thể hoá bằng các quy hoạch, kế hoạch, dự án và
triển khai thực hiện ở các địa phương.
3. Kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan làm công tác dân tộc từ TƯ đến cơ sở;
thực hiện phân công, phân cấp có hiệu quả trong lĩnh vực công tác dân tộc
4. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho vùng dân tộc
thiểu số
5. Kiểm tra, thanh tra, sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện chính sách,
chương trình, dự án ở vùng dân tộc thiểu số; việc chấp hành pháp luật về công
tác dân tộc, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, giải
quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác dân tộc
6. Tuyên truyền, giáo dục chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật NN
bằng nhiều biện pháp, hình thức để đồng bào thiểu số hiểu rõ và chủ động tham
gia vào quá trình thực hiện.
Tuyên truyền về truyền thống đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và
bảo bệ Tổ quốc. Tổ chức các phong trào tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các
dân tộc. Tổ chức hoạt động kết nghĩa giữa các địa phương nhằm tương trợ phát
triển KT-XH, xoá đói, giảm nghèo, giải quyết khó khăn trong cuộc sống.
7. Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, quản lý cán bộ người dân tộc
thiểu số trong hệ thống CT và cán bộ trong cơ quan làm công tác dân tộc.
8. Xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc
9. Thẩm định các chương trình, dự án, đề án, kế hoạch phát triển KT-XH
vùng dân tộc thiểu số.

các thế lực thù địch lợi dụng những vấn đề về dân tộc, tôn giáo kích động, chia rẽ
6


đoàn kết dân tộc. Kịp thời phát hiện và xử lý những vấn đề phát sinh trong quan hệ
giữa các dân tộc. Thực hiện tốt quản lý an ninh biên giới. Bảo đảm thực hiện hai
chức năng của biên giới quốc gia, đó là hàng rào pháp lý ngăn cách chủ quyền quốc
gia và không gian hợp tác phát triển với các nước mà trước hết là với các nước láng
giềng. Chống các hoạt động buôn lậu, vận chuyển hàng quốc cấm, xâm nhập trái
phép của các thế lực thù địch nhằm chống phá cách mạng nước ta. Ra sức góp phần
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
4. Cơ quan quản lý nhà nước về dân tộc
Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thống nhất quản lý nhà
nước về dân tộc. Nhiệm vụ quyền hạn của Chính phủ trong lĩnh vực dân tộc
được quy định tại Điều 13 Hiến pháp 1992.
Uỷ ban Dân tộc là cơ quan ngang bộ thuộc Chính phủ thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về dân tộc trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch
vụ công thuộc phạm vi quản lý của Uỷ ban dân tộc theo quy định của pháp luật.
Nhiệm vụ của Uỷ ban dân tộc được quy định tại Điều 2 Nghị định số 60
năm 2008 của Chính phủ, cụ thể có những nhiệm vụ quyền hạn như:
Để giúp Bộ trưởng - Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc - quản lý về dân tộc có các
cơ quan giúp việc gồm các vụ: Vụ Kế hoạch - Tài chính, Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ
Pháp chế, Vụ Hợp tác quốc tế, Vụ Tổng hợp, Vụ Chính sách dân tộc, Vụ Tuyên
truyền, Vụ địa phương 1, Vụ địa phương 2, Vụ địa phương 3.
Uỷ ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương quản lý về
dân tộc trên những địa bàn có nhiều dân tộc thiểu số.
II. Quản lý nhà nước về tôn giáo
1. Khái niệm quản lý nhà nước về tôn giáo
Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin
và sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có những lực lượng siêu tự

xây dựng các chính sách tôn giáo và giám sát các cơ quan nhà nước trong thực
hiện quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước.
8


Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất thống nhất quản lý nhà
nước về tôn giáo.
Ban Tôn giáo Chính phủ là cơ quan thuộc Bộ Nội vụ (từ tháng 8/2007) có
chức năng quản lý về tôn giáo trong phạm vi cả nước.
Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi quyền hạn của mình phối hợp với
Ban Tôn giáo Chính phủ và các cơ quan khác để quản lý nhà nước về tôn giáo
cho phù hợp.
ở địa phương, Ban Tôn giáo tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơ
quan giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về tôn giáo; ở các cấp
huyện, xã, Uỷ ban nhân dân thực hiện quản lý nhà nước về tôn giáo ở địa
phương cấp mình.
Khách thể quản lý nhà nước về tôn giáo: là quản lý hoạt động của Công
giáo, Phật giáo, Tin lành, Cao đài, các tôn giáo khác; quản lý hợp tác quốc tế về
tôn giáo; quản lý việc gia nhập các tổ chức tôn giáo, việc tiến hành các nghi lễ
tôn giáo, các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo và tài sản của các tôn giáo, việc phong
chức, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc, nhà tu hành tôn giáo, việc đào tạo, bồi
dưỡng những người chuyên hoạt động tôn giáo.
2. Yêu cầu quản lý nhà nước về tôn giáo
- Phải bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng
tôn giáo của nhân dân. Đảng ta đã chỉ ra, tôn giáo là một vấn đề còn tồn tại lâu
dài; tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân; đạo đức
tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới. Vì vậy,
trong quản lý nhà nước phải tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn
giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo của công dân, nghiêm cấm sự phân biệt
đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Mọi công dân có quyền tự do theo hoặc

xẫ hội chủ nghĩa, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, phá hoại sự nghiệp đại
đoàn kết toàn dân, làm hại đến nền văn hoá lành mạnh của dân tộc, và hoạt động
mê tín, dị đoan đều bị xử lý theo pháp luật.
3. Nội dung quản lý nhà nước về tôn giáo
10


a)Nội dung tổng quát quản lý nhà nước về tôn giáo
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, các chính sách, các
chương trình mục tiêu quốc gia, đề án, dự án, kế hoạch về tôn giáo.
- Ban hành và thực thi các văn bản quy phạm pháp luật để thống nhất quản
lý nhà nước về tôn giáo.
- Tổ chức bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ công tác
tôn giáo cho cán đội ngũ cán bộ, công chức làm công táctôn giáo thuộc các cơ
quan Trung ương và địa phương.
- Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật, chính sách của Đảng và Nhà
nước về tôn giáo. Giải quyết các vấn đề cụ thể về tôn giáo theo quy định của
pháp luật.
- Quản lý hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tôn giáo.
- Thực hiện kiểm tra, kiểm soát, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý các hành
vi vi phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực tôn giáo.
b) Một số nội dung cụ thể quản lý nhà nước về tôn giáo.
- Đối với việc thành lập và gia nhập các tổ chức tôn giáo
Thủ tướng Chính phủ công nhận đối với tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạt
động ở nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Chủ tịch uỷ ban nhân dân
cấp tỉnh công nhận tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạt động chủ yếu ở một tỉnh.
Những tổ chức được Thủ tướng Chính phủ cho phép hoạt động thì được
pháp luật bảo hộ. Tổ chức tôn giáo được thành lập, chia tách, sát nhập, hợp nhất
các tổ chức trực thuộc theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo. Việc thành
lập, chia tách, sát nhập, hợp nhất các tổ chức tôn giáo cơ sở phải được sự chấp

khác phải có sự chấp thuận của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
Nhà nước cho phép các tổ chức tôn giáo được in, xuất bản các loại sách
kinh, các ấn phẩm tôn giáo; được sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu văn
hoá phẩm tôn giáo, đồ dùng việc đạo. Nhà nước cấm in, sản xuất, kinh doanh,
lưu hành, tàng trữ sách báo, văn hoá phẩm có nội dung chống lại Nhà nước

12


Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây chia rẽ tôn giáo, gây mất đoàn kết
trong nhân dân.
- Đối với hoạt động quốc tế của tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức
sắc tôn giáo
Tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc có quyền thực hiện các hoạt
động quan hệ quốc tế theo quy định của hiến chương, điều lệ hoặc giáo luật của tổ
chức tôn giáo phù hợp với pháp luật Việt Nam. Khi thực hiện các hoạt động quan
hệ quốc tế, tổ chức tôn giáo, tín đồ, nhà tu hành, chức sắc phải bình đẳng, tôn trọng
lẫn nhau, tôn trọng độc lâp, chủ quyền và công việc nội bộ của các quốc gia.
Hoạt động quốc tế của tổ chức, cá nhân tôn giáo phải tuân thủ pháp luật và
phù hợp với chính sách đối ngoại của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền quốc gia, vì hoà bình, ổn định, hợp
tác và phát triển.
Tổ chức, cá nhân tôn giáo ở trong nước mời tổ chức, cá nhân tôn giáo ở
nước ngoài vào Việt Nam phải được sự chấp thuận của Ban Tôn giáo Chính phủ.
Tổ chức cá nhân ở trong nước tham gia làm thành viên của tổ chức tôn giáo ở
nước ngoài, tham gia các hoạt động tôn giáo ở nước ngoài thực hiện theo quy
định của Ban Tôn giáo Chính phủ.
Các tổ chức, cá nhân tôn giáo trong nước muốn nhận viện trợ thuần tuý tôn
giáo phải được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ.
- Đối với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo và tài sản các tôn giáo

chuyển chức sắc: 800; đào tạo, bồi dưỡng chức sắc: 4563; đơn thư khiếu nại, tố
cáo 409 (chủ yếu về đất đai).
4. Cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo
Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất có nhiệm vụ thực hiện
chính sách tôn giáo, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, chống mọi hành
vi xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để
làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước.
Ban Tôn giáo Chính phủ là cơ quan trực thuộc Bộ Nội vụ, là cơ quan tương
đương Tổng cục, có chức năng tham mưu gúp Bộ trưởng Bộ Nội vụ quản lý nhà

14


nước về tôn giáo trong phạm vi cả nước và thực hiện các dịch vụ công thuộc lĩnh
vực tôn giáo theo quy định của pháp luật.
Ban Tôn giáo Chính phủ có các nhiệm vụ quyền hạn cụ thể như:
Trình Bộ trưởng Bộ Nội vụ để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem
xét, quyết định: dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự
thảo nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị định của Chính
phủ về tôn giáo; chiến lược, quy hoạch, các chương trình mục tiêu quốc gia, dự
án, đề án về công tác dân tộc.
Trình Bộ trưởng Bộ Nội vụ xem xét, quyết định: kế hoạch dài hạn, năm
năm, và hàng năm về công tác tôn giáo.
Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, chiến lược,
quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án về tôn giáo đã được phê duyệt.
Thông tin, tuyên truyền, hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện các chủ trương,
chính sách, tôn giáo của Đảng và Nhà nước.
Phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị xã hội và các tổ chức liên quan khác để thông tin, tuyên truyền, vận động quần
chúng nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và
Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia quản lý các di tích, văn hoá lịch sử,

tế trong phạm vi cả nước.
Các bộ và cơ quan ngang bộ phối hợp với Bộ Y tế quản lý nhà nước về y tế
theo phạm vi quyền hạn của mình.
ở địa phương, Uỷ ban nhân dân các cấp có các cơ quan chuyên môn giúp
việc quản lý nhà nước về y tế ở địa phương mình.
Khách thể quản lý nhà nước về y tế:
Việc thực hiện chính sách, pháp luật về y tế dự phòng; về tổ chức các hoạt
động khám, chữa bệnh; các hoạt động về thuốc; về bảo hiểm y tế; về an toàn vệ
sinh thực phẩm
2. Yêu cầu quản lý nhà nước về y tế
- Bảo đảm mọi người đều được chăm sóc sức khoẻ, thực hiện công bằng,
bình đẳng trong chăm sóc sức khoẻ; mọi người đều được hưởng chính sách về
chăm sóc sức khoẻ. Có chính sách ưu tiên đối với các đối tượng có công với
16


cách mạng, những người tàn tật, neo đơn, đồng bào sống ở vùng sâu, vùng xa,
biên giới, hải đảo.
- Tích cực, chủ động công tác y tế dự phòng theo phương châm phòng bệnh
hơn chữa bệnh; phòng chống các nguy cơ lây bệnh trong môi trường sống.
Đầu tư thoả đáng cho y tế dự phòng, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, xây
dựng môi trường vệ sinh phòng bệnh, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm,
không để dịch bệnh phát sinh và lây lan trong cộng đồng.
- Kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền trong phòng, khám chữa bệnh
cho nhân dân. Thực hiện xã hội hoá công tác phòng, khám chữa bệnh, phát triển
các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, đặc biệt khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ
ban đầu. Quản lý chặt chẽ các hoạt động sản xuất, phân phối, xuất nhập khẩu
thuốc bảo đảm đủ nhu cầu chữa bệnh, an toàn, có chất lượng.
- Phát huy trách nhiệm của từng người, của cả cộng đồng, của mọi cấp, mọi
ngành trong quản lý nhà nước về y tế. Quản lý nhà nước về y tế nhằm đạt mục

- Xây dựng chiến lược quốc gia về dinh dưỡng.
Chính phủ phê duyệt chiến lược quốc gia về dinh dưỡng nhằm: thanh toán
tình trạng thiếu ăn, giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng, giảm tình trạng thiếu vi chất
dinh dưỡng ở mọi lứa tuổi trong nhân dân, nâng cao thể chất và tuổi thọ của
người việt Nam.
Các giải pháp cơ bản để thực hiện kế hoạch đó là: bảo đảm an ninh thực
phẩm ở hộ gia đình; thực hiện kế hoạch chăm sóc sức khoẻ ban đầu của ngành y
tế; phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng (iốt, vitamin A, sắt); giáo dục dinh
dưỡng, đào tạo cán bộ và nghiên cứu các vấn đề dinh dưỡng; giám sát, đánh giá
hoạt động dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm.
c) Đầu tư cho y tế, chăm sóc sức khoẻ
Đầu tư cho y tế là đầu tư tạo ra động lực mạnh cho sự phát triển. Hơn nữa,
ngành y tế nước ta đang phải đương đầu với nhiều vấn đề khó khăn như: suy
dinh dưỡng, tỉ lệ chết của trẻ em sơ sinh, bệnh sốt rét, lao, bướu cổ, bệnh phong
Vì vậy, mọi hoạt động y tế đều cần đến đầu tư như: xây dựng, nâng cấp bệnh
viện, mua sắm các trang thiết bị hiện đại, các dây chuyền công nghệ mới để sản
18


xuất thuốc, nghiên cứu khoa học, đặc biệt cần tăng cường đầu tư cho hoạt động y
tế dự phòng. Trong điều kiện vốn đầu tư của Nhà nước còn hạn chế, cần đa dạng
hoá các nguồn đầu tư (Nhà nước, tư nhân, quốc tế) để tạo thêm nguồn lực, bảo
đảm tốt hơn việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
d) Quản lý các cơ sở y tế thuộc mọi thành phần kinh tế
Các cơ sở y tế gồm bệnh viện, trạm xá, phòng khám bệnh đa khoa hoặc
chuyên khoa, cơ sở sản xuất thuốc, hiệu thuốc là những nơi có quan hệ trực tiếp
đến sức khoẻ nhân dân, Nhà nước phải quản lý chặt chẽ các cơ sở y tế thuộc mọi
thành phần kinh tế theo quy định của pháp luật. Nâng cao thái độ, trách nhiệm,
đạo đức của đội ngũ thầy thuốc, chống sản xuất và buôn bán thuốc giả.
e) Tổ chức bộ máy, đào tạo cán bộ y tế

Bộ Y tế có các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể như:
Trình Chính phủ dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị quyết, nghị định của
Chính phủ về lĩnh vực y tế.
Trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,
chương trình mục tiêu quốc gia, các công trình, dự án quan trọng về công tác y tế.
Ban hành các quyết định, chỉ thị, thông tư thuộc thẩm quyền quản lý nhà
nước của Bộ; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các văn bản đó.
Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm
pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình mục tiêu quốc gia khi
được phê duyệt.
Quản lý các hoạt động về: y tế dự phòng; khám chữa bệnh và phục hồi chức
năng; y dược cổ truyền; dược và mĩ phẩm; vệ sinh an toàn thực phẩm trang thiết bị
và công trình y tế; dân số - kế hoạch hoá gia đình và sức khoẻ sinh sản; bảo hiểm y
tế; đào tạo nhân lực y tế; về khoa học công nghệ y tế.
Thực hiện hợp tác quốc tế về y tế.
Xây dựng và đề xuất các cơ chế, chính sách và giải pháp về tài chính y tế.
Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về các lĩnh vực
thuộc phạm vi quản lý của Bộ đối với các tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước
20


Bộ Y tế có các cơ quan tham mưu, cơ quan chức năng gồm các vụ, cục, cơ
quan như: Vụ Bảo hiểm y tế; Vụ Khoa học và Đào tạo; Vụ Sức khoẻ bà mẹ - trẻ
em; Vụ Y Dược cổ truyền; Vụ Trang thiết bị và công trình y tế; Vụ kế hoạch - Tài
chính; Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Pháp chế; Vụ Hợp tác quốc tế; Văn phòng; Thanh
tra; Cục Y tế dự phòng và môi trường; Cục phòng chống HIV/AIDS; Cục quản lý
khám, chữa bệnh; Cục quản lý dược; Cục an toàn vệ sinh thực phẩm; Cơ quan đại
diện của Bộ tại thành phố Hồ Chí Minh; Tổng cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình.
Uỷ ban nhân dân các cấp là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương
quản lý về y tế.

Chủ thể quản lý nhà nước về lao động, việc làm:
Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất ban hành Hiến pháp và các đạo luật
về lao động, việc làm.
Uỷ ban về Các vấn đề Xã hội là cơ quan của Quốc hội có chức năng thẩm
định các dự án luật, pháp lệnh liên quan đến lao động; kiến nghị với Chính phủ
về xây dựng chiến lược, chương trình, chính sách về lao động, việc làm; giám sát
các cơ quan nhà nước trong thực hiện quản lý nhà nước về lao động, việc làm.
Bộ Lao động Thương binh và Xã hội là cơ quan của Chính phủ thống nhất
quản lý nhà nước về lao động, việc làm trong cả nước.
Các bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội thực hiện quản lý nhà nước về lao động theo quy định của pháp luật.
ở địa phương, Uỷ ban nhân dân các cấp có các cơ quan chuyên môn giúp
việc quản lý nhà nước về lao động, việc làm ở địa phương mình.
Khách thể quản lý nhà nước về lao động, việc làm: là quản lý việc thực hiện
chiến lược, chính sách, kế hoạch về dân số; thực hiện chiến lược đào tạo nguồn
lực lao động; thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động, thị trường lao động trong
và ngoài nước.
2. Yêu cầu quản lý nhà nước về lao động, việc làm

22


- Quản lý nhà nước về lao động, việc làm phải đặt con người vào vị trí trung
tâm của chiến lược phát triển, lấy lợi ích của con người, của người lao động làm
điểm xuất phát cho mọi chương trình, kế hoạch phát triển.
Đảng và Nhà nước ta coi mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì
con người, do con người; lấy lợi ích của con người làm xuất phát điểm cho mọi
chương trình, kế hoạch; khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, tập thể, cộng
đồng dân tộc để xây dựng đất nước; coi lợi ích cá nhân là động lực trực tiếp của
sự phát triển trong sự gắn bó hữu cơ giữa lợi íc của mỗi người, của từng tập thể

lao động toàn xã hội.
- Ban hành hệ thống văn bản pháp luật để quản lý và điều hành thống nhất
về lao động, việc làm. Thực hiện quản lý nhà nước bằng pháp luật (như Luật
Dân sự, Luật Lao động, Luật Quốc tịch, các quy phạm pháp luật về hợp đồng lao
động, các tiêu chuẩn về bảo hộ lao động và vệ sinh công nghiệp).
- Hoạch định chương trình, kế hoạch, chính sách về lao động, việc làm phục
vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội.
Nhà nước hoạch định các chính sách hướng vào thực hiện các chương trình,
kế hoạch về lao động, việc làm như: chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình;
chính sách việc làm, chính sách tiền lương; tiền công; chính sách bảo hiểm và
cứu trợ xã hội; chính sách cung cấp vốn cho người lao động để tự họ sản xuất,
tạo việc làm. Xây dựng và thực hiện các dự án thu hút các thành phần kinh tế và
tổ chức tham gia như: dự án di dân, dự án cải tạo nguồn nước
- Có chính sách, kế hoạch về đào tạo nghề, giới thiệu việc làm, tìm kiếm và
phát triển thị trường lao động cả trong nước và nước ngoài.
Hiện nay tỉ lệ lao động được đào tạo nghề ở nước ta còn thấp. Nhà nước
quan tâm tổ chức, tạo điều kiện mở nhiều trường dạy nghề, nâng cao chất lượng
đào tạo, cung cấp thông tin, công nghệ để người lao động có thể đáp ứng nhu cầu
của nền kinh tế thị trường. Nhà nước hỗ trợ và thúc đẩy phát triển thị trường lao
động, mở rộng các trung tâm đào tạo và giới thiệu việc làm, các trung tâm
nghiên cứu môi trường lao động, thị trường lao động, tìm kiếm thị trường để
xuất khẩu lao động.

24


- Hoàn chỉnh chính sách về thuế, tài chính, phát triển công nghệ mới, các
vùng nghề, làng nghề. Chính sách về thuế, tài chính rất quan trọng trong thúc
đẩy sản xuất, kinh doanh, bảo vệ sản xuất trong nước, đồng thời tham gia bình
đẳng trong quan hệ kinh tế quốc tế, đặc biệt khi nước ta đã tham gia vào Tổ chức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status