Sáng kiến kinh nghiệm Vài biện pháp rèn kỹ năng sống cho học sinh qua môn Ngữ văn (THCS) - Pdf 42

Header Page 1 of 133.

1

PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TP TAM KỲ
TRƯỜNG THCS NGUYỄN KHUYẾN

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI

VÀI BIỆN PHÁP
RÈN KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
QUA MÔN NGỮ VĂN (THCS)

Người thực hiện: Huỳnh Văn Tiến
Năm học : 2013-2014

An Phú, tháng 3 năm 2014

Footer Page 1 of 133.


Header Page 2 of 133.

2

Sáng kiến kinh nghiệm:

VÀI BIỆN PHÁP RÈN KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
QUA MÔN NGỮ VĂN (THCS)



Header Page 3 of 133.

3

rắc rối, tình huống… luôn tiềm ẩn để sẳn sàng lấn tới khi con người không biết
“ứng phó, thích nghi” và giải quyết chúng.
Xuất phát từ vấn đề thiết thực đó, một lần nữa chúng tôi muốn đưa ra “ Một
vài biện pháp rèn kỹ năng sống (KNS) cho học sinh qua môn ngữ văn (THCS)”
nhằm giúp các em bổ trợ một số kiến thức về kỹ năng sống thông qua môn học và
một phần thực tế cuộc sống liên quan đến bài học; qua đó có thể giúp các em có
điều kiện ứng phó, thích nghi và tiếp tục tự rèn luyện từ bài học trên lớp, trong sinh
hoạt, hoạt động và trong cuộc sống nói chung ở hiện tại và tương lai, điều mà
không một ai khó tránh khỏi! Đó cũng là nguyên nhân, lý do chọn đề tài nói trên.
I2.CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Như đã trình bày từ các định nghĩa trên, KNS là các khả năng để có hành vi
thích ứng và tích cực; giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước nhu cầu và
thách thức của cuộc sống hằng ngày. Đó là năng lực ứng xử tích cực của mỗi
người đối với tự nhiên, xã hội và chính mình; là khả năng tâm lý xã hội của mỗi cá
nhân trong hành vi tích cực để xử lý hiệu quả những đòi hỏi, thử thách của cuộc
sống. Nói cách khác KNS là khả năng thực hiện một hành động hay hoạt động nào
đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để hành
động phối hợp với mục đích và điều kiện thực tế. Cùng với ý nghĩa đó, có và rèn
luyện kỹ KNS tức là đã có một “vốn liếng” (theo một nghĩa nào đó) trên bước
đường học tập và công việc của đời sống, trước mắt và lâu dài cho một người. Điều
đó càng ích lợi và thiết thực hơn đối với lứa tuổi học sinh khi các em còn quá ít ỏi
kinh nghiệm sống; đó cũng là mục tiêu giáo dục toàn diện, phù hợp mà theo quan
niệm của UNESCO: học để biết, học để làm, học để tồn tại và học để chung sống.
KNS giúp học sinh thích ứng được với cuộc sống đầy những biến động khôn

lãng, hời hợt ở từng lúc, từng nơi. Điều đó làm cho các em vốn không có KNS lại
càng hạn chế, bất lợi hơn và thuật ngữ KNS đôi khi trở thành…xa lạ với các em.
Điều đó cho thấy cách dạy và học theo kiểu cũ (giảng suông, sáo mòn, máy móc,
áp đặt, học vẹt) sẽ làm hạn chế rất nhiều đối với việc giáo dục và rèn luyện KNS,
như một rào cản khiến các em càng trở nên thụ động. Với ý nghĩa và quan niệm đó,
qua thực tế giảng dạy cũng như việc học tập của học sinh, chúng tôi mong muốn
từng bước đưa việc giáo dục KNS (bằng cách lồng ghép) vào bộ môn ngữ văn
(THCS) theo yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy trong nhiều năm qua. Như
đã nói, dù đó không phải là điều hoàn toàn mới lạ, nhưng vấn đề là tiềm năng để
thực hiện, nhằm khắc phục những hạn chế đã nêu, phần nào cải thiện được tình
hình mà chúng tôi cảm thấy chưa hài lòng với bản thân trong quá trình dạy học bộ
môn ngữ văn, nhất là việc giáo dục, rèn luyện KNS cho các em như thực tiễn đã
nêu. Cũng nói thêm, với đặc trưng khá “nhạy cảm”, môn ngữ văn có phần thuận lợi
hơn trong việc giáo dục, rèn KNS cho học sinh so với các môn học khác. Bởi bản
thân môn ngữ văn đã chứa đựng trong đó yếu tố có thể bao hàm KNS. Thậm chí,
việc tưởng như đơn giản, chỉ một câu chào hỏi thân thiện, chỉ một lời “cảm ơn, xin
lỗi”, một cử chỉ, hành động thích hợp trong tình huống nào đó…đều chứa đựng nội
dung ít nhiều từ KNS. Nói cách khác, môn ngữ văn dạy cho các em biết nói
“không” với sự “vô cảm”. Đó là tính nhân văn, “dạy người” mà bản thân đặc trưng
môn học có được.

Footer Page 4 of 133.


Header Page 5 of 133.

5

PHẦN II: NỘI DUNG VẤN ĐỀ.
Như đã trình bày,với đặc trưng của một môn học khá nhạy cảm (khoa học xã

ưu điểm của mình nhằm tự soi rọi lại mình mà có thái độ và hành động sống tích
cực hơn nữa. Đặc biệt những em học sinh cá biệt, yếu kém cũng sẽ dần chuyển
biến theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, ít nhất là trong nhận thức con non trẻ của các
Footer Page 5 of 133.


Header Page 6 of 133.

6

em. Đó là một trong những cách giáo dục, rèn kỹ năng tự nhận thức cho các em từ
thực tế cũng như sự lồng ghép thích hợp mà chúng tôi thường làm.
Về các bài học trong chương trình, có thể nói toàn cấp (ngữ văn THCS) đều
là những bài khá đặc sắc để nâng cao nhận thức của học sinh. Vì phạm vi có hạn
chúng tôi không thể nêu đầy đủ và chi tiết, chỉ xin nhắc đến một vài tác phẩm tiêu
biểu để giáo dục nhận thức (GDNT) cho các em:
+ Ở lớp 9:
-Bài “Phong cách Hồ Chí Minh” giáo dục nhận thức vể một con người vĩ đại mà
giản dị, gần gũi mà cao sâu, uyên bác…
- Bài “Tuyên bố thế giới về sự sống còn, quyền bảo vệ và phát triển của trẻ em”
GDNT về vai trò, giá trị và quyền hạn của trẻ em đối với nhân loại.
- Bài “Chuyện người con gái Nam xương; tác phẩm Truyện Kiều” GDNT về số
phận con người trong xã hội phong kiến mong manh và oan trái, để từ đó các em
liên hệ tới mặt tốt của xã hội đang sống…
- Bài “Đồng chí; Bài thơ về tiểu đội xe không kính” GDNT về những người lính
với lý tưởng chiến đấu cao đẹp, sẵn sàng hi sinh vì tổ quốc, về tình đồng chí đồng
đội keo sơn giúp họ thêm sức mạnh…
- Bài “Ánh trăng” GDNT về đạo lý uống nước nhớ nguồn, sống ân tình thủy
chung, không lãng quên quá khứ gian lao mà hào hùng mới có được hôm nay…
- Bài “Lặng lẽ Sa Pa” GDNT về lòng yêu nghề và tinh thần trách nhiệm đối với

Tuy nhiên cũng xin nêu một vài ví dụ:
- Ở bài “Bài học đường đời đầu tiên” (lớp 6) khai thác cái đẹp không chỉ có
thân hình cường tráng khỏe đẹp của Dế Mèn mà cái đẹp nằm ở bài học hối hận, ăn
năn, ray rức. Ở Dế Choắc, dù dưới một thân hình gầy còm ốm yếu nhưng lại ẩn
chứa bên trong một lòng vị tha hiếm có, làm Dế Choắc đẹp hơn lên. Lúc đó cái đẹp
lại nằm trong bản chất, tâm hồn chứ không chỉ là ngoại hình, thể chất!
- Ở bài “Bức tranh của em gái tôi” (lớp 6) cái đẹp trong tâm hồn của nhân
vật Kiều Phương (người em) là điều dễ thấy, nhưng cái đẹp bên trong của nhân vật
người anh mới là điều đáng nói khi ta (nhân vật này) biết tự nhìn lại mình và nhìn
lại người khác lúc mà sự hối hận rưng rức cứ bao quanh, bào mòn nội tâm ta. Nếu
không có một tâm hồn đẹp và cảm xúc đẹp, một cách sống và suy nghĩ đẹp thì làm
gì có những con người như thế (dù là nhân vật). Văn học đã hướng cho các em một
cách sống đẹp!…
- Ở bài “Buổi học cuối cùng” (lớp 6), vì tình yêu tiếng mẹ đẻ đã khiến cho
cậu bé học trò Phrăng nghịch ngợm rong chơi la cà trở nên “người lớn”, suy nghĩ
già dặn và đẹp hơn biết bao. Vì tình yêu tiếng mẹ đẻ mà người thầy Hamen tội
nghiệp đã xúc động nghẹn ngào day dứt không nói được nên lời, phải đứng dựa
vào tường mới đủ sức viết lên dòng chữ cuối cùng “NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM”!
3. Kỹ năng tư duy sáng tạo:
Với kỹ năng này, thường chúng tôi rèn luyện qua phân môn tập làm văn, đặc
biệt là văn nghị luận và văn tự sự. Bởi tập làm văn là môn tổng hợp kiến thức, đòi
hỏi khả năng tư duy và sáng tạo rất cao. Thông thường các em làm bài theo một
“lối mòn” có sẵn (do lười suy nghĩ, thiếu cố gắng,máy móc, rập khuôn, không sáng
tạo…) Trong khi đó đã là văn nghị luận thì phải bày tỏ quan điểm, suy nghĩ, tư
tưởng và trình bày những nhận xét, đánh giá của cá nhân trước một vấn đề nào đó,
nên thiếu khả năng tư duy, sáng tạo (dù là về bài học trên lớp chứ chưa nói xa hơn)
thì khó đạt được yêu cầu của một bài làm trọn vẹn, chặt chẽ. Để rèn luyện và nâng
cao kỹ năng này, ngoài phần lý thuyết cơ bản khi dạy và học tập làm văn; chúng
tôi thường chú ý những yêu cầu sau đối với học sinh:
Footer Page 7 of 133.

bước kỹ năng này, trước hết trong học tập và sau nữa là trong cuộc sống tương lai.
Chúng tôi chú ý rèn luyện kỹ năng này cho học sinh bằng những hoạt động sau:
+Thuyết trình trước lớp, trường…
+Truyền đạt thông tin từ một bài học, sự việc, sự kiện nào đó.
+Lắng nghe và thu thập thông tin hoặc nhận xét (ví dụ sau một lần tham
quan, dã ngoại, di tích lịch sử, văn hóa nào đó)
+ Hoạt động nhóm.
+ Tiết luyện nói.
Hoặc rải rác qua các bài học trên lớp mà nội dung có thể lồng ghép kỹ năng
này.
-Ví dụ qua bài “Cuộc chia tay của những con búp bê” (lớp 7) có thể cho học
sinh trình bày suy nghĩ, ý kiến, nhận xét…của các em về cách ứng xử, giải quyết

Footer Page 8 of 133.


Header Page 9 of 133.

9

của người lớn, các bậc cha mẹ?- hoặc có thể hỏi: “Nếu em là nhân vật trong câu
chuyện, em sẽ nói với ba mẹ thế nào trong cuộc chia tay đầy nước mắt đó mà lỗi
không do ở các em?”
-Bài “bức tranh của em gái tôi”(lớp 6):- Em hãy tranh luận và cho biết,
người anh cảm thấy mình dằn vặt điều gì nhất khi đứng trước bức tranh em gái vẽ
mình rất giống và đẹp?
-Bài “Lặng lẽ Sapa”( lớp 9):- Em thích điểm nào nhất trong quan niệm sống
của “anh thanh niên” mà em cho là rất đẹp, thử trình bày suy nghĩ trên cùng các
bạn?
Ngoài ra, các bài học Tiếng Việt (Lớp 9) như “Các phương châm hội

10

học khác. Vấn đề là biết thúc đẩy và rèn kỹ năng này một cách chủ động, thường
xuyên và tích cực thì mới đem lại hiệu quả. Sau đây là một số kỹ năng tự học mà
chúng tôi thường rèn cho học sinh trong môn ngữ văn:
-Tự vạch kế hoạch: Tức là học tập có hệ thống, có nghiên cứu, sắp xếp điều
gì nên làm trước, điều gì làm sau. Khuyên các em đừng ngại tốn thời gian cho việc
vạch kế hoạch, bởi bù lại sẽ tiết kiệm được thời gian rất nhiều khi thực hiện nó.
- Học vào lúc nào cảm thấy có lợi nhất cho môn học: ví dụ đối với tác phẩm
văn học (giảng văn,văn bản) thì hãy học ngay sau khi nghe giảng bài (về nhà). Đối
với bài học thuộc lòng hoặc trả lời câu hỏi thì nên học trước khi đến lớp. Sau khi
nghe giảng nên chọn lại và tổ chức ghi chép, xem lại các dữ kiện, chuẩn bị câu hỏi
cho bài cũ. Trước khi đến lớp (học ở nhà) cũng nên biết tự đặt câu hỏi vì nó giúp ta
đào sâu vấn đề..
- Hiểu rõ các ghi chép: Tức là tìm ra những ý quan trọng mà thầy cô đã nhấn
mạnh, có thể dùng các kí hiệu riêng cần thiết (trừ trong bài làm) để tiết kiệm thời
gian, tập trung cho ý khác.
- Học một cách chủ động chứ không thụ động: Có chủ động thì mới sáng
suốt và thoải mái để học. Tránh học vẹt mà phải tìm cách suy nghĩ, liên tưởng
những điều có liên quan để khắc sâu..
- Luôn học tại bàn: Đây là một thái độ nghiêm túc và tự giác cao. Hơn nữa
tốt cho cả hai ưu thế : trí tuệ lẫn thể hình. Càng không được nằm trên giường để
học sẽ khiến buồn ngủ và lâu dần tạo thói quen lười biếng.
7. Kỹ năng thực hành, ứng dụng:
Thực hành, ứng dụng trong môn ngữ văn chính là qua hệ thống các bài tập,
bài làm, bài viết..mà các em thực hiện trong quá trình học tập. Chỉ có chủ động và
tích cực thì các em mới có thể làm tốt việc này. Các em có thể hiểu bài, có kiến
thức bài học nhưng chưa hẳn sẽ làm bài tập tốt, viết tốt, vận dụng đúng…Để rèn
được kỹ năng này, chúng tôi thường thực hiện các dạng sau (từ mức độ thấp đến
cao, dễ đến khó hơn và chú ý đến các đối tượng học sinh):

tế cuộc sống, khi đứng trước một tình huống nào đó, mỗi người sẽ giải quyết, ứng
xử một cách khác nhau tùy theo “kỹ năng” của họ. Học sinh cũng thế, từ cách giải
quyết của các nhân vật, tư các tình huống khác nhau các em cũng sẽ tìm và chọn
cách giải quyết tối ưu cho mình một khi có…kỹ năng.
PHẦN III: KẾT QUẢ
Bằng những cách làm khác nhau (qua dạy và học bộ môn ngữ văn và qua
các hoạt động đan xen…) nhằm giáo dục, rèn luyện KNS cho học sinh, chúng tôi
nhận thấy một số kết quả như sau:
- Các em nhận biết được một số KNS mà qua môn ngữ văn và một số hoạt
động đã chuyển tải. không còn rụt rè, thụ động mà tỏ ra tích cực, linh hoạt, sôi nổi
hơn trong học tập và sinh hoạt.
- Hạn chế được những em có cuộc sống “khép kín” (do nhiều nguyên nhân)
hoặc quá say mê “thế giới ảo” của Internet, game…mà quên đi những hoạt động
chung quanh của bạn bè, của cộng đồng và xã hội. Qua đó còn hạn chế được những
tác nhân tiêu cực, xây dựng môi trường trường học thân thiện, học sinh tích cực.
- Giúp các em thích ứng được với cuộc sống mà đôi khi những biến động,
bất trắc khôn lường có thể xảy ra, dù là tự nhiên hay xã hội, nhất là xã hội ngày
càng hiện đại, phát triển.
- Góp phần tích cực cho việc đổi mới phương pháp học tập của học sinh,
tăng năng lực thích nghi và điều khiển chính cuộc sống của mình.
Footer Page 11 of 133.


Header Page 12 of 133.

12

THỐNG KÊ KẾT QUẢ CỤ THỂ
(nhóm thực nghiệm)
TS

người. Trong đó học sinh cũng không ngoại lệ, ngược lại, cần tăng cường và
thường xuyên rèn luyện KNS nhiều hơn bởi đó là lứa tuổi “giao thoa” giữa cái tốt
và xấu, đúng và sai,tiêu cực và tích cực, giữa thích nghi, năng động và khép kín.
Giáo dục và rèn luyện KNS là một quá trình đòi hỏi con người phải biết đối
diện với rất nhiều tình huống khác nhau và phải thích nghi, lựa chọn, quyết định và
tìm cách giải quyết chúng một cách tối ưu nhất để tồn tại, phát triển và thành công.
KNS bắt nguồn từ cuộc sống nhưng không phải chỉ để sống mà là “công cụ” rất
hữu hiệu để đạt đến thành công, hạnh phúc trong cuộc sống nói chung. Nếu không
được sớm giáo dục và rèn luyện học sinh KNS thì các em sẽ “chơ vơ, lạc lõng” và
thụ động trong bất kỳ một công việc, tình huống nào dù nhỏ nhất sau này. Với ý
nghĩa tích cực, thiết thực và khoa học trên, KNS rất cần và “xứng đáng” kịp thời
đưa vào chương trình trường phổ thông như nhiều môn học hỗ trợ khác.
Tuy nhiên thực trạng của việc giáo dục và rèn luyện KNS cho học sinh
không phải lúc nào cũng được ưu tiên chú ý, bởi những “áp lực” khác đã và đang
lấn áp mà các em phải chuyển tải. Hy vọng bằng một số giải pháp ít ỏi, bước đầu
có thể giúp các em có được ít “vốn liếng” để dùng và phát huy KNS của mình
Footer Page 12 of 133.


Header Page 13 of 133.

13

trong học tập, cuộc sống đạt kết quả mong muốn hơn, đúng với tính chất, ý nghĩa
KNS mà chúng ta kỳ vọng.
PHẦN V: ĐỀ NGHỊ.
-Trong giờ học, giáo viên cần tạo cơ hội cho các em được nói, được trình
bày trước nhóm bạn hoặc trước tập thể, nhất là các em còn hay rụt rè, khả năng
giao tiếp kém, qua đó góp phần tích lũy KNS cho các em.
- Đối với nhà trường, Tổ chuyên môn, Đoàn đội, lớp..,cần tăng cường tổ

PHẦN V: ĐỀ NGHỊ...............................................................................................13

Footer Page 14 of 133.


Header Page 15 of 133.

15

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tên tác giả

Tên tài liệu

Nhà xuất bản

Năm xuất bản

Dale Camegie

Đắc nhân tâm

NXB Trẻ

2012

Dean Cunningham

Sống sáng suốt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status